Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 274/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST ngày 28/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 274/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2-VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 274/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 28-08-2026
“V/v ly hôn, nuôi con” NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Quang
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Cẩm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quyến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực
2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long tham gia phiên toà:
Không.
Trong ngày 28 tháng 08 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh
Long, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 333/2026/TLST-
HNGĐ, ngày 04/05/2026 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 231/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/07/2026 và Quyết định hoãn phiên toà số
279/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 06/08/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 (xin vắng)
Nơi cư trú: ấp A (ấp A cũ), xã B, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Chị Trần Thị Tú G, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp A (ấp A cũ), xã B, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/03/2026 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Vào năm 2019 do mai mối nên anh và chị Trần Thị Tú G có tiến tới hôn nhân, có
làm lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 17/06/2021 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện
Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (Nay là xã B, tỉnh Vĩnh Long).
Thời gian chung sống hạnh phúc của vợ chồng kéo dài đến năm 2023 thì giữa vợ
chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong
2
cuộc sống gia đình, cuộc sống vợ chồng không hợp nhau. Do đó vợ chồng đã sống ly thân
với nhau từ tháng 06 năm 2023 cho đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa
anh và chị G không còn nữa. Từ đó làm cho mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng gay gắt
hơn, không thể khắc phục được, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được
ly hôn với chị Trần Thị Tú G.
Về con chung: Khi ly hôn anh giao cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 12/11/2022
cho chị G nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn chị Trần Thị Tú G vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không
trình bày.
- Trong đơn xin xét xử vắng mặt ngày 13/07/2026, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T
trình bày: Anh yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị Tú G. Về con chung: Khi ly hôn anh
giao cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 12/11/2022 cho chị G nuôi dưỡng và anh không
cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có
cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con, nên đây là
quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con”; bị đơn chị Trần Thị Tú G cư trú tại xã
Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực
2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Trần Thị
Tú G đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử thống nhất
đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 và Điều
238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về pháp luật nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Tú G mai mối nên
anh và chị Trần Thị Tú G có tiến tới hôn nhân, có làm lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào
3
ngày 17/06/2021 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (Nay là xã
B, tỉnh Vĩnh Long), nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Theo anh Nguyễn Văn T trình bày: Thời gian chung sống hạnh phúc của vợ chồng
kéo dài đến năm 2023 thì giữa vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng ý
kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình, cuộc sống vợ chồng không hợp
nhau. Do đó chúng anh đã sống ly thân với nhau từ tháng 06 năm 2023 cho đến nay. Nay
anh nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị G không còn nữa. Từ đó làm cho mâu
thuẫn của vợ chồng ngày càng gay gắt hơn, không thể khắc phục được, mục đích hôn nhân
không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với Trần Thị Tú G.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm
tự nguyện, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và
nghĩa vụ của vợ chồng, tuy nhiên hiện tại vợ chồng anh T, chị G đã sống ly thân, mỗi
người ở một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Qua đó cho thấy hôn nhân lâm
vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn T được ly hôn với
chị Trần Thị Tú G là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi
bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn
nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn
nhân không đạt được”.
[2]. Về con chung: Anh Nguyễn Văn T khai có con chung với chị Trần Thị Tú G là
cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 12/11/2022, khi ly hôn anh T giao con chung cho chị G
nuôi dưỡng.
Xét thấy việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi
ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom,
chăm sóc, giáo dục con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ,
quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; T hợp không thỏa thuận được thì Tòa án
quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”.
Chị G là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quỳnh Anh. Do đó để đảm bảo quyền lợi và sự
phát triển của cháu về tâm sinh lý, tránh thay đổi môi T sống của cháu. Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn T là giao cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày
12/11/2022 cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
4
Anh Nguyễn Văn T được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung mà không ai được quyền cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn T khai chưa yêu cầu, chị Trần Thị Tú
G cũng chưa có văn bản nào trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử
không đặt ra giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Văn T khai chưa yêu cầu, chị Trần Thị
Tú G cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử
không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015;
Căn cứ các Điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn T được ly hôn
với chị Trần Thị Tú G.
[2]. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 12/11/2022 cho chị Trần
Thị Tú G tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn Văn T được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung mà không ai được quyền cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly
hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm
nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007696, ngày 22/04/2026 tại Thi
hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Anh T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
5
T hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 2 –Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 2-Vĩnh Long;
- UBND xã B, tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Bảo
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST Bản án số 274/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất