Bản án số 274/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 274/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 274/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 274/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 274/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp về thừa kế tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
Số hiệu: | 274/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 16/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số 274/2025/DS-PT
Ngày 16 - 6- 2025
V/v “Tranh chấp di sản thừa kế, yêu
cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân Hương.
Các Thẩm phán : Ông Trần Quốc Cường;
Ông Đinh Phước Hoà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Trinh, Thẩm tra viên Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Bà Bùi Thị Dung
và bà Trần Thị Lài, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/2025/TLPT-DS
ngày 28 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp di sản thừa kế, yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 90/2024/DSST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1611/2025/QĐPT-DS ngày
03 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1 Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955; địa chỉ: P, Hòa Tân Đ, Đ, Phú Yên;
1.2 Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1958; địa chỉ: Khu phố B, H, Đ, Phú Yên;
1.3 Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; địa chỉ: P, Hòa Hiệp T, Đ, Phú Yên;
1.4 Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; địa chỉ: P, Hòa Xuân Đ1, Đ, Phú Yên;
Bà N, bà N1, bà T1 đều ủy quyền cho bà Nguyễn Thị D tham gia tố tụng (văn
bản ủy quyền ngày 13/4/2021), có mặt bà D tại phiên tòa.
2. Bị đơn:
2.1 Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1961;
2.2. Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1965.
Cùng địa chỉ: P, Hòa Tân Đ, Đ, Phú Yên.
2
Người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 10/6/2025): Ông Lý
Mạnh D1, sinh năm 1961.
Địa chỉ: B D, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (đều vắng mặt):
3.1 Cụ Huỳnh Thị T2, sinh năm 1930.
3.2 Bà Võ Thị V, sinh năm 1959.
3.3 Anh Nguyễn Khắc Đ2, sinh năm 1989.
3.4 Chị Trương Thị Anh N2, sinh năm 1993; Nguyễn Gia H; Nguyễn Gia M.
3.5 Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1966.
3.6 Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1988; chị Nguyễn Thị Khánh D2, sinh năm
1994.
3.7 Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm 1993; chị Nguyễn Hiếu T3, sinh năm
1995.
Đều cùng địa chỉ: P, Hòa Tân Đ, thị xã Đ, Phú Yên.
3.8. Bà Nguyễn Thị Minh H1, địa chỉ: thôn V, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
3.9 Ông Trình Văn N3, địa chỉ: Tổ A thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3.10 Ngân hàng TMCP C1 (V1) - Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường C, quận
H, TP .; Phòng giao dịch thị xã Đ, tỉnh Phú Yên
Địa chỉ: Quốc lộ A, Khu phố C, P. H, TX. Đ, tỉnh Phú Yên.
3.11 Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Thành C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có tại hồ sơ và tại phiên tòa, Nguyên đơn bà
Nguyễn Thị D trình bày:
Cha mẹ nguyên đơn là cụ Nguyễn P (chết năm 2011) và cụ Huỳnh Thị T2 (chết
tháng 01/2022) sinh được 06 người con: Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị N1, Nguyễn
Văn Q, Nguyễn Thành C, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T1. Khi còn sống cha mẹ có
tạo lập 1 căn nhà cấp 4 gắn liền với diện tích đất có chiều ngang khoảng 40m, dài
35m (theo kết quả đo vẽ là 1.368,7m²) tọa lạc tại P, Hòa Tân Đ, Đ, Phú Yên. Đất có
giới cận: Đ, T4, Nam giáp đường, Bắc giáp đất Nguyễn Bồng .
Sau khi cha mất, không để lại di chúc nên người quản lý, sử dụng đất là mẹ
Huỳnh Thị T2, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Thành C. Sau đó không biết vì lý do
gì mà thửa đất của cha mẹ bà lại đứng tên quyền sử dụng đất cho hai ông Nguyễn
Văn Q và Nguyễn Thành C, việc này được bà Huỳnh Thị T2 có bản tự khai trình bày
là chưa bao giờ ký cho đất ông Q, ông C; đồng thời ông Q cũng thừa nhận sau khi
cha chết thì trong gia đình không họp gia đình để cùng ký vào giấy đồng ưng ngày
24/11/2013.
Nay cha mẹ cùng mất, nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định
pháp luật. Đồng thời, đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau
đây viết tắt là GCNQSDĐ) mà ông C và ông Q đứng tên.
Theo các lời khai có tại hồ sơ và tại phiên tòa, Bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình
3
bày:
Căn cứ theo giấy cho đất của cha và mẹ Huỳnh Thị Thanh N4 bị đơn đã lên
UBND xã H làm thủ tục tặng cho đất và làm thủ tục cấp GCNQSDĐ theo quy định
là thửa 1069. Sau khi cha mất, bà N không có chồng nên bị đơn (Q, C) cùng mẹ bàn
bạc thống nhất cắt phần đất phía Bắc nay là thửa 1067 do ông đứng tên cho bà N.
Nay, nếu các nguyên đơn đồng ý theo ý nguyện của cha mẹ trong việc phân
chia đất, không tranh chấp nữa thì bị đơn (Q) sẽ đồng ý chuyển nhượng lại thửa 1067
cho chị Nguyễn Thị N, trường hợp các nguyên đơn không đồng ý thì bị đơn đề nghị
giải quyết theo quy định pháp luật, không đồng ý cắt lại phần đất cho bà N.
Phần đất trên thửa 1069 cấp cho bị đơn phân thành 3 lô:
Lô 1 (phía đông) ông đã cho con trai là Nguyễn Khắc Đ2 quản lý sử dụng và
đã xây dựng nhà ở năm 2021.
Lô 2 (giữa) diện tích 162m2, rộng 6m và dài 27m, có giới cận: Phía Đông giáp
đất Nguyễn Khắc Đ2, Tây giáp đất Trình Văn N3, Nam giáp đường bê tông. Lô này
bị đơn đã bán ngày 30/03/2019 cho bà Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm 1975; địa
chỉ: thôn V, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Lô 3 (phía tây) diện tích 162m2, rộng 6m, dài 27m, giáp cận: Đông giáp đất
Nguyễn Thị Minh H1, Bắc giáp đất Nguyễn Văn Q, Tây giáp đất Nguyễn Thành C,
Đông giáp đường bê tông. Lô này ông đã bán cho ông Trình Văn N3, địa chỉ: Tổ A
thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Đối với Giấy đồng ưng ngày 24/11/2013 mẹ cùng ký tên còn lâu quá bị đơn
không nhớ các anh chị em khác có ký không, chữ viết và chữ ký trong giấy đồng ứng
là của bị đơn. Do đó, căn cứ vào Giấy cho đất ngày 16/6/1994 và hợp đồng tặng cho
của mẹ Huỳnh Thị T2 thì bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Theo các lời khai có tại hồ sơ và tại phiên tòa, Bị đơn ông Nguyễn Thành C
trình bày:
Thống nhất về thông tin gia đình và tài sản cha mẹ để lại như trình bày của
nguyên đơn.
Cha bị đơn trước khi chết có di chúc tặng cho đất nói trên cho bị đơn và anh Q,
ông được nhận phần thửa đất 1068, tờ bản đồ 16-B, diện tích 574,3m². Đối với công
trình xây dựng trên thửa 1068 bị đơn đã làm thủ tục chuyển qua đất ở tại UBND xã
H, đã xin phép xây dựng tại UBND thị xã Đ. Bị đơn đề nghị Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trình Văn N3 và bà Nguyễn Thị
Minh Hiệp Đ3 trình bày:
Ông Nguyễn Văn Q đã bán cho ông N3 và bà H1 mỗi người 1 diện tích đất
162m², có chiều rộng 6m, chiều dài 27m với số tiền mỗi người là 200.000.000 (hai
trăm triệu đồng). Ông N3 và bà H1 đã giao đủ số tiền nói trên cho ông Q. Ông N3
và bà H1 thỏa thuận với ông Q: một năm sau ông Q sẽ làm GCNQSDĐ và sẽ giao
đất. Tuy nhiên, đến bây giờ vẫn chưa nhận được GCNQSDĐ và cũng chưa được sử
dụng đất vì đất đang tranh chấp. Ông bà yêu cầu gia đình ông Q phải làm GCNQSDĐ
và giao đất.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2024/DS-ST ngày 15/11/2024, Tòa án nhân
dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:
4
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm c khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157,
165, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 122, 123, 649, 650, 651, 652 và 660 Bộ
luật Dân sự năm 2015; các Điều 26, 100, 167 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 12,
13 và 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng Nguyên đơn các bà Nguyễn Thị N,
Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T1 về việc chia thừa kế theo pháp luật
đối với di sản của cụ Nguyễn P và cụ Huỳnh Thị T2.
[1.1] Giao cho bà Nguyễn Thị N được quyền sử dụng diện tích đất 157,2m2 (có
các điểm khép cạnh 1-27-C-D-25) tại Bản vẽ mặt bằng hiện trạng ngày 09/10/2024
(kèm theo Bản bản án này); thuộc thửa đất số 1068, tờ bản đồ 16-B, tại thôn P, xã H,
thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
[1.2] Giao cho ông Nguyễn Thành C được quyền sử dụng diện tích đất 466,3m2
(có các điểm khép cạnh 25-D-C-17-18-19-20-21-22-23-24-25) tại Bản vẽ mặt bằng
hiện trạng ngày 09/10/2024 (kèm theo Bản bản án này); thuộc thửa đất số 1068, tờ
bản đồ 16-B, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
[1.3] Giao cho bà Nguyễn Thị T1 được quyền sử dụng diện tích đất 158,0m2
(có các điểm khép cạnh 27-B-A-17-C-27) tại Bản vẽ mặt bằng hiện trạng ngày
09/10/2024 (kèm theo Bản án này); thuộc thửa đất số 1069, tờ bản đồ 16-B, tại thôn
P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
[1.4] Giao cho bà Nguyễn Thị D được quyền sử dụng diện tích đất 280,2m2 (có
các điểm khép cạnh 1-2-3-4-5-6-7-8-B-27-1) tại Bản vẽ mặt bằng hiện trạng ngày
09/10/2024 (kèm theo Bản bản án này); thuộc thửa đất số 1067, tờ bản đồ 16-B, tại
thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Buộc ông Nguyễn Văn Q phải giao lại diện
tích đất nói trên cho bà Nguyễn Thị D.
[1.5] Giao cho ông Nguyễn Văn Q được quyền sử dụng diện tích đất 307m2
(có các điểm khép cạnh B-A-16-15-14-13-12-11-10-9-8-B) tại Bản vẽ mặt bằng hiện
trạng ngày 09/10/2024 (kèm theo Bản bản án này); thuộc thửa đất số 1069, tờ bản đồ
16-B, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
[1.6] Bà Nguyễn Thị N được nhận tiền chênh lệch chia thừa kế từ bà Nguyễn
Thị D là 7.358.200đ (bảy triệu ba trăm năm mươi tám nghìn hai trăm đồng), ông
Nguyễn Thành C là 17.330.400đ (mười bảy triệu ba trăm ba mươi nghìn bốn trăm
đồng).
[1.7] Bà Nguyễn Thị T1 được nhận tiền chênh lệch chia thừa kế từ ông Nguyễn
Văn Q là 10.093.400đ (mười triệu không trăm chín mươi ba nghìn bốn trăm đồng);
từ bà Nguyễn Thị D 323.200đ (ba trăm hai mươi ba nghìn hai trăm đồng).
[1.8] Đương sự được quyền liên hệ các cơ quan chức năng để đăng ký biến
động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, đăng ký cấp GCNQSDĐ và
không được cản trở quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất được chia. Ngân hàng
V2 được quyền đăng ký lại giao dịch đảm bảo đối với phần đất được chia thừa kế
cho ông Nguyễn Văn Q.
[2] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với các Quyết định cá biệt
của Cơ quan Nhà nước:
[2.1] Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CB 396527
5
ngày 24/11/2015 và số phát hành CB 396528 ngày 24/11/2015 do Ủy ban nhân dân
huyện (nay là thị xã) Đông Hòa cấp cho ông Nguyễn Văn Q đối với thửa đất 1067
và 1069, tờ bản đồ 16-B, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
[2.2] Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CB 396530 ngày
24/11/2015 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Đông Hòa cấp cho ông Nguyễn
Thành C đối với thửa đất 1068, tờ bản đồ 16-B, tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú
Yên.
[3] Tuyên bố “Giấy đồng ưng” lập ngày 24/11/2013 vô hiệu do vi phạm điều
cấm của pháp luật.
[4] Tuyên bố “Giấy bán đất” lập ngày 30/3/2019 giữa vợ chồng ông Nguyễn
Văn Q với bà Nguyễn Thị Minh H1 và “Giấy bán đất” lập ngày 29/3/2019 giữa vợ
chồng ông Nguyễn Văn Q với ông Trình Văn N3 vô hiệu do vi phạm điều cấm của
pháp luật.
[5] Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Huỳnh Thị T2 và
ông Nguyễn Văn Q lập ngày 11/11/2015 tại thửa đất số 1067, tờ bản đồ 16-B, tại
thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên vô hiệu.
[6] Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Huỳnh Thị T2 và
ông Nguyễn Văn Q lập ngày 11/11/2015 tại thửa đất số 1069, tờ bản đồ 16-B, tại
thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên vô hiệu.
[7] Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị T2 và
ông Nguyễn Thành Công L2 ngày 11/11/2015 tại thửa đất số 1068, tờ bản đồ 16-B,
tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên vô hiệu.
[8] Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
161/2016/HĐBĐ/TC/ĐH ngày 25/03/2016 giữa Ngân hàng TMCP C1 đối với vợ
chồng ông Nguyễn Văn Q vô hiệu các phần sau đây:
[8.1] Phần thế chấp quyền sử dụng đất thửa 1067, tờ bản đồ 16-B, tại thôn P,
xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; theo giấy chứng nhận QSD đất QSH nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CB 396527, số vào số cấp GCN CH 02459 do UBND huyện
(nay là thị xã) Đông Hòa tỉnh P cấp ngày 24/11/2015 cấp cho ông Nguyễn Văn Q.
[8.2] Phần thế chấp quyền sử dụng đất có diện tích 158m2 (được chia thừa kế
cho bà Nguyễn Thị T1) thuộc thửa 1069, tờ bản đồ 16-B, tại thôn P, xã H, thị xã Đ,
tỉnh Phú Yên; theo giấy chứng nhận QSD đất QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CB 396528, số vào số cấp GCN CH 02460 do UBND huyện ( nay là thị xã)
Đông Hòa tỉnh P cấp ngày 24/11/2015 cấp cho ông Nguyễn Văn Q.
[9] Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2024/QĐ-
BPKCTT, ngày 05/4/2024 của Tòa án tỉnh Phú Yên.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn Q và bà
Nguyễn Thị N; ông Nguyễn Thành C, bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị T1 mỗi
người phải chịu 3.006.830đ (ba triệu sáu nghìn tám trăm ba mươi đồng).
[11] Về chi phí tố tụng: Các đương sự Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T1, Nguyễn
Thị N, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Thành C mỗi người phải chịu 3.728.400 đồng. Bà
D đã nộp tạm ứng nên bà T1, bà N, ông Q và ông C phải thanh toán lại cho bà D mỗi
người 3.728.400 đồng; hoàn trả lại bà D 1.358.000 đồng( đã hoàn trả).
[12] Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
6
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian
chưa thi hành án.
[13] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án còn thông báo về quyền kháng cáo.
Ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Thành C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn Q và ông
Nguyễn Thành C giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ toàn bộ bản
án sơ thẩm để xét xử lại. Người đại diện theo uỷ quyền trình bày lý do cho rằng Toà
án cấp sơ thẩm áp dụng pháp luật không đúng, xem xét đánh giá chứng cứ không
khách quan, toàn diện do cụ P đã có giấy tặng cho 2 con trai nên ½ tài sản chung với
cụ T2 đã được cụ cho nên không là di sản; GCNQSD đất đứng tên ông Q nên các
giao dịch ông Q xác lập với người thứ 3 không vô hiệu. Thực tế cụ T2 đã già yếu,
không còn minh mẫn. Toà án cấp sơ thẩm lấy lời khai cụ T2 vào ngày 19/4/2021,
nhưng tại đơn ngày 6/6/2025 ông Bùi Ngọc L3 là cán bộ tư pháp xã xác nhận do cán
bộ Toà án tự lấy lời khai rồi đưa ông ký, là có vi phạm thủ tục tố tụng.
Bà Nguyễn Thị D trình bày giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại Toà án cấp sơ
thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông
Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Thành C. Bà xác định vào thời điểm các bà khởi kiện,
mẹ là cụ T2 tuy già yếu nhưng hoàn toàn minh mẫn và cụ đồng ý với việc các bà
khởi kiện chia thừa kế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký; các đương sự
trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm đã được bảo đảm đúng
quy định. Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng quy định của pháp luật;
người kháng cáo không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có
cơ sở chấp nhận kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ
luật tố tụng dân sự, bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên
tòa; các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; nghe ý kiến trình bày của các bên
và quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên
tòa; sau khi thảo luận và nghị án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ huyết thống:
Cụ Nguyễn P (chết năm 2011) và cụ Huỳnh Thị T2 (chết năm 2022) có 06 con
gồm 4 người con gái (bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị D, Nguyễn
Thị T1) 2 con trai là ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Thành C. Nguyên đơn tranh
chấp yêu cầu chia thừa kế diện tích đất cha mẹ để lại, hiện do ông Nguyễn Văn Q,
ông Nguyễn Thành C đứng tên trong GCNQSD đất và nguyên đơn có yêu cầu huỷ
các GCNQSD đất đã cấp cho ông Q, ông C.
Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý đúng quy định tại khoản 5, khoản 9 Điều
26, Điều 34, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Các đương sự đều thừa nhận khi còn sống cha mẹ có 01 căn nhà cấp 4 trên
7
thửa đất số 567 tờ bản đồ 16-B diện tích 1.282,7m² (theo kết quả đo vẽ thực tế là
1.368,7m²), tọa lạc tại thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Sau khi cụ P chết (năm 2011, không lập di chúc), cụ T2 và bà N, ông C tiếp tục
ở tại đây và ngày 20/12/2013 cụ T2 được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài
sản khác gắn liền với đất số BQ144489 đối với thửa đất 567 tờ bản đồ 16-B diện tích
1.282,7m², trong đó đất ở nông thôn 250m², đất trồng cây hàng năm khác 1.032,7m².
Hồ sơ cấp GCNQSDĐ do UBND thị xã Đ cung cấp thể hiện cụ T2 được cấp trên cơ
sở “Giấy đồng ưng” đề ngày 24/11/2013 (có xác nhận của thôn, UBND xã), nội dung
cụ T2 và 6 con thống nhất để cụ T2 đứng tên kê khai.
Ngày 30/9/2015, UBND huyện Đ thu hồi GCNQSD đất trên để thực hiện tách
3 thửa và cấp mới 3 GCNQSD đứng tên cụ T2 (thửa số 1067, số 1068, số A). Căn
cứ các Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữ cụ T2 với bên nhận tặng cho là ông
Nguyễn Văn Q (02 thửa đất 1067, 1069), ông Nguyễn Thành C (thửa đất 1068), ngày
24/11/2015, ông Nguyễn Văn Q được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CB 396527 đối với thửa 1067, tờ bản đồ 16-B diện tích
226,5m² và GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác số CB 396528 đối với
thửa 1069, tờ bản đồ 16-B diện tích 481,9m². Ông Nguyễn Thành C được cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở khác số CB 396530 đối với thửa 1068, tờ bản đồ
16-B diện tích 574,3m².
[2.1] Các nguyên đơn tranh chấp yêu cầu chia thừa kế đối với 03 thửa đất nêu
trên, cho rằng khi còn sống cha mẹ không cho ông Q và ông C.
Bị đơn ông C, ông Q cho rằng các ông được sử dụng đất là do có Biên bản họp
gia đình ngày 16/6/1994 (âm lịch) và cha là cụ P đã thống nhất giao cho ông C, ông
Q mỗi người một phần đất gắn liền với việc phải thực hiện nghĩa vụ sau này cúng
giỗ cha mẹ, ông bà.
Xét Biên bản này chỉ có 03 người ký tên: cha Nguyễn P, con Nguyễn Thành C,
Nguyễn Văn Q - văn bản không có chứng thực hay xác nhận của cơ quan có thẩm
quyền. Ban đầu khi nguyên đơn khởi kiện, cụ T2 (là mẹ) còn sống và tại biên bản
lấy lời khai, cụ trình bày không biết về Biên bản họp gia đình ngày 16/6/1994 và cụ
yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ P theo quy định. Thực tế, đến năm 2013 cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSD đất cho cụ T2 thì ông C và ông Q cũng
không có ý kiến gì, không kê khai quyền sử dụng đất, không đưa ra biên bản này.
Về việc cụ T2 được cấp GCNQSD đất theo Giấy đồng ưng ngày 24/11/2013:
Cụ T2 (lúc còn sống) và ông C, bà D, bà T1, đều trình bày không biết, không viết,
không ký giấy đồng ưng ngày 24/11/2013; chỉ ông Q thừa nhận chữ viết chữ ký của
mình trong giấy đồng ưng của ông nhưng ông cũng thừa nhận đã viết và ký thay bà
D, bà T1. Giấy này cũng chỉ có nội dung để cụ T2 đại diện cụ và các con (do cụ P đã
chết) đứng tên trong GCNQSD đất.
Toà án cấp sơ thẩm xác định Biên bản họp gia đình ngày 16/6/1994, Giấy đồng
ưng 24/11/2013 - đều không phù hợp quy định tại Điều 122; Điều 127 và 128 Bộ
luật dân sự năm 2005 – từ đó không chấp nhận việc ông C, ông Q cho rằng đã được
xác lập quyền sử dụng đối với nhà, đất của cụ P, cụ T2, là đúng.
[2.2] Như vậy, GCNQSD đất cấp năm 2013 đứng tên cụ T2 chỉ là đứng đại diện
cụ T2 và các con của cụ với cụ P.
Sau khi cụ T2 được cấp GCNQSD đất thì các Hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất giữa cụ T2 và ông C, ông Q được xã H chứng thực nhưng đều không có
chữ ký vào từng trang của các Bản Hợp đồng tặng cho, là vi phạm quy định khoản 4
8
Điều 36 về “Thủ tục chứng thực hợp đồng giao dịch” được quy định tại Nghị định
số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ, như bản án sơ thẩm đã phân
tích.
Tại văn bản lấy lời khai ngày 19/4/2021, cụ Huỳnh Thị T2 xác nhận đất là của
vợ chồng cụ, cụ T2 không làm giấy tờ gì cho đất 2 con trai và cụ đồng ý với yêu cầu
chia thừa kế phần di sản của ông P.
Toà án cấp sơ thẩm xác định việc ông Q, ông C được cấp các GCNQSD đất
vào năm 2015 đối với các thửa đất 1067, 1068, 1069 trên cơ sở hợp đồng tặng cho
của cụ T2 là giao dịch vô hiệu, từ đó xác định toàn bộ 03 thửa đất nêu trên là di sản
của cụ P, cụ T2 để lại và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn chia thừa
kế, là có căn cứ.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có nộp giấy xác
nhận đề người viết là ông Bùi Ngọc L3 trình bày về việc ký xác nhận bản khai ngày
19/4/2021, nhưng giấy không có chứng thực chữ ký; cho rằng cụ T2 đã không còn
minh mẫn vào thời điểm lấy lời khai nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh.
[2.3] Về việc phân chia thừa kế di sản của cụ P, cụ T2 để lại:
[2.3.1]Biên bản định giá tài sản ngày 19/6/2023 và Bản vẽ đo đạc ngày
09/10/2024 thể hiện diện tích thực tế các thửa đất có chênh lệch với diện tích đất
trong các Giấy chứng nhận đã cấp là do đo đạc, nên Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào
diện tích đất thực tế để xác định giá trị chia thừa kế, là có cơ sở.
- Thửa đất 1068 có diện tích theo GCNQSDĐ 574,3m2; trong đó đất ở 80m2;
đất HNK 494,3m2; đo đạc thực tế 623,5m2. Tổng giá trị thửa đất là 112.950.000
đồng.
- Thửa đất 1069 có diện tích theo GCNQSDĐ là 481,9m2; trong đó đất ở
110m2; đất HNK 371,9m2; đo đạc thực tế 465m2. Tổng giá trị thửa đất là
119.950.000 đồng.
- Thửa đất 1067 có diện tích theo GCN 226,5m2; trong đó đất ở 60m2; đất HNK
166,5m2; đo đạc thực tế 280,2m2. Tổng giá trị thửa đất: 67.818.000 đồng.
Tổng giá trị di sản của cụ P và cụ T2 là 300.683.000 đồng.
[2.3.2] Hàng thừa kế thứ nhất của 2 cụ gồm: Các bà Nguyễn Thị N, Nguyễn
Thị D, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị N1 và các ông Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn
Q. Bà Nguyễn Thị N1 từ chối nhận di sản thừa kế, nên di sản chỉ chia cho 5 thừa kế
có giá trị: 300.683.000 đồng/5 người= 60.136.600 đồng.
[2.3.3] Về hiện vật: Tổng diện tích đất di sản thừa kế rộng và có nhiều hướng
tiếp giáp đường, Toà án cấp sơ thẩm chia cho 5 thừa kế đều hưởng hiện vật và có sơ
đồ kèm theo, là phù hợp hiện trạng:
- Tại thửa 1068, ông C và các con ông C đã xây dựng 03 ngôi nhà trên diện tích
đất 466,3m2; bà N đang ở trong ngôi nhà cũ cấp 4 của cha mẹ trên diện tích đất còn
trống 157,2m2- do vậy chia và giao cho ông C sử dụng 466,3m2 đất này trong đó có
50m2 đất ở, 416,3m2 đất HNK, có tổng giá trị đất là 77.467.000 đồng. Bà N sử dụng
157,2m2 trong đó có 30m2 đất ở, 127,2 m2 đất HNK, có tổng giá trị về đất
35.448.000 đồng;
- Thửa đất 1069, ông Q đang cất nhà ở, có phần đất trống chưa xây dựng nhà ở
có chiều ngang hơn 12m theo đường đi, cần chia và giao cho bà T1 1 phần có diện
tích 158m2, trong đó có 50m2 đất ở và 108m2 đất HNK, tổng giá trị đất là 49.720.000
đồng. Giao cho ông Q 307m2 còn lại, trong đó có 60m2 đất ở; tổng giá trị đất
9
70.230.000 đồng;
-Thửa đất 1067 có diện tích theo GCNQSDĐ 226,5m2; trong đó đất ở 60m2;
đất HNK 166,5m2; đo đạc thực tế 280,2m2; Tổng giá trị thửa đất: 67.818.000 đồng.
Cần chia thừa kế cho bà D, buộc ông Q phải giao thửa đất này cho bà D sử dụng.
Cân đối giá trị được chia và hưởng, bà N được nhận tiền chênh lệch chia thừa
kế từ bà D là 7.358.200 đồng, ông C là 17.330.400 đồng; Bà T1 được nhận tiền chênh
lệch chia thừa kế từ ông Q 10.093.400 đồng; từ bà D 323.200 đồng.
[2.4] Đối với các tài sản khác trên đất của cụ P và cụ T2 bao gồm nhà, giếng
nước, cây trồng, các bên đương sự không tranh chấp và thống nhất nên toà án cấp sơ
thẩm xác định tài sản nằm trên phần đất được chia cho ai thì giao người đó sở hữu-
là đúng với sự tự nguyện của các bên.
[3] Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia thừa
kế, do vậy đã huỷ các GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
đối với các thửa đất 1067; 1068; 1069, tờ bản đồ 16-C, tại địa chỉ thôn P, xã H, thị
xã Đ, tỉnh Phú Yên cấp cho ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Thành C là đúng.
[4] Đối với các giao dịch do ông Nguyễn Văn Q đã thực hiện liên quan đến thửa
đất 1067 và thửa 1069 là di sản thừa kế đứng tên ông Q trong GCNQSD đất:
-Về việc ông Q kí Hợp đồng thế chấp các GCN cho Ngân hàng:
Việc thế chấp sau khi Tòa án đã thụ lý và đang giải quyết tranh chấp, ông Q
không thông báo về tình trạng tài sản cho phía Ngân hàng biết. Nợ gốc của vợ chồng
ông Q cũng chỉ là 350.000.000 đồng và chưa đến hạn thanh toán. Ngân hàng đã có
đơn trình bày không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Ngoài 2 tài sản thế chấp nói
trên ra, vợ chồng ông Q còn thế chấp thửa đất 942 tờ bản đồ 16-C diện tích 392m2,
trong đó có 200m2 đất ở và 192m2 đất HNK, tại địa chỉ thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh
Phú Yên, theo GCNQSDĐ số BQ 089022, UBND huyện Đ cấp ngày 19/9/2013 cho
vợ chồng ông Q. Tại Biên bản định giá lại tài sản ngày 09/4/2021, thửa đất này có
giá trị là 462.080.000 đồng và trong vụ án này, ông Q được chia thừa kế 307m2 đất
- nên các tài sản này đảm bảo cho việc thanh toán 350.000.000 đồng trong Hợp đồng
tín dụng của vợ chồng ông Q. Toà án cấp sơ thẩm cũng chỉ tuyên vô hiệu phần thế
chấp đối với diện tích đất 158m2 trong thửa 1068 (chia thừa kế chia cho bà T1) và
phần thế chấp thửa 1067 (chia thừa kế cho bà D), là có căn cứ.
Ngày 30/3/2019 vợ chồng ông Q ký “Giấy bán đất” với diện tích 162m2 (6m
x 27m) thuộc thửa đất 1069, tờ bản đồ 16-B, với giá 200.000.000 đồng cho bà
Nguyễn Thị Minh H1, nhưng giao dịch không được công chứng, chứng thực; tài sản
đang bị thế chấp tại Ngân hàng. Thực tế bà H1 chưa nhận đất nhưng đã trả tiền cho
ông Q và tại Bản trình bày ý kiến gửi Tòa án ngày 08/8/2024, bà H1 có yêu cầu buộc
vợ chồng ông Q phải làm GCNQSDĐ và giao đất đã chuyển nhượng cho bà, trong
trường hợp, Tòa xử chia thừa kế cho các anh chị em của ông Q thì yêu cầu vợ chồng
ông Q phải trả lại 200.000.000 đồng và tiền lãi từ khi nhận tiền. Toà án cấp sơ thẩm
xác định giao dịch giữa vợ chồng ông Q và bà H1 là giao dịch vô hiệu vi phạm quy
định tại Điều 122 và 123 Bộ luật dân sự năm 2015, huỷ giao dịch này, do các bên
không có yêu cầu nên không xem xét về hậu quả và dành quyền khởi kiện vụ án khác
nếu có tranh chấp, là đúng quy định.
- Ngày 29/3/2019, vợ chồng ông Q ký “Giấy bán đất” diện tích đất 162m2 (6m
x 27m) thuộc thửa đất 1069, tờ bản đồ 16-B, với giá 200.000.000 đồng cho ông Trình
Văn N3, nhưng giấy này không được công chứng, chứng thực; tài sản đang bị thế
chấp tại Ngân hàng. Ông N3 đã giao đủ tiền cho vợ chồng ông Q nhưng chưa nhận
10
đất. Quá trình giải quyết vụ án, ông N3 có yêu cầu buộc vợ chồng ông Q phải làm
GCNQSDĐ và giao đất đã chuyển nhượng cho ông và trong trường hợp, Tòa xử chia
thừa kế cho các anh chị em của ông Q thì ông yêu cầu vợ chồng ông Q phải trả lại
200.000.000 đồng và tiền lãi từ khi nhận tiền. Toà án cấp sơ thẩm đã xác định giao
dịch giữa vợ chồng ông Q và ông N3 là giao dịch vô hiệu vi phạm quy định tại Điều
122 và 123 Bộ luật dân sự năm 2015, huỷ giao dịch này, do các bên không có yêu
cầu nên không xem xét về hậu quả và dành quyền khởi kiện vụ án khác nếu có tranh
chấp, là đúng quy định.
[5] Với các phân tích trên, thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng chứng
cứ, áp dụng đúng quy định của pháp luật, phân chia thừa kế bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp cho các bên.
Ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Thành C kháng cáo, nhưng không đưa ra
tài liệu chứng cứ mới chứng minh, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở
để xem xét chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn Q là người cao tuổi, có đơn xin
miễn nên đủ điều kiện nên được miễn. Ông Nguyễn Thành C phải chịu theo quy
định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 270, Điều 282, Điều 293 Bộ luật tố tụng
dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2024/DS-ST ngày 15/11/2024 của
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
2. Ông Nguyễn Thành C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đối
trừ 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số 0006936 ngày 03/3/2025 của
Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên. Hoàn trả Nguyễn Văn Q 300.000 đồng đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng số 0006935 ngày 03/3/2025 của Cục thi hành án dân sự
tỉnh Phú Yên
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/6/2025.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Phú Yên;
- TAND tỉnh Phú Yên;
- Cục THADS tỉnh Phú Yên;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC
THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Phan Thị Vân Hương
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 24/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 22/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 22/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 21/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 18/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 17/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 15/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 15/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 09/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 09/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/06/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 26/06/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 26/06/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 25/06/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 24/06/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm