Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 24/05/2023 của TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 27/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 27/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 24/05/2023 của TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Quận 3 (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 27/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/05/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Cưỡng đoạt tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 27/2023/HS-ST
Ngày: 24-5-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Xuyến
2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/TLST-HS
ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
25/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số
133/2023/QĐST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Tạ Tương Minh V, Giới tính: Nam; sinh năm 1994; Nơi sinh: Hà Nội;
Nơi cư trú: thôn Chùa Tổng, xã La Phù, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Tương Mạnh và bà Nguyễn Thị Hương; Có vợ
là Nguyễn Thị Thương (đã ly hôn), 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày
22/7/2022
(Có mặt)
- Bị hại: Bà Phạm Thị Thúy N, sinh năm 1960 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 40/49 Đường T, Phường 14, Quận 3, TP.HCM
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ngô Thái B, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 702/45/32A Điện Biên Phủ, Phường 11, Quận 10, Thành phố
Hồ Chí Minh
2. Ông Nguyễn Hữu Lê M, sinh năm 2003 (Vắng mặt)
HKTT: Nhà số 10, thôn T, xã La Phù, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
Chỗ ở: E4, Lầu 6, Lô B2 Chung cư C, Phường 11, Quận 3, Thành phố Hồ
Chí Minh.
2
3. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
HKTT: Thôn T, xã Thượng Vực, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Chỗ ở: Phòng 4C Lầu 4, Lô A Chung cư 590 Cách Mạng Tháng 8, Phường
11, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
4. Ông Mai Tuấn C, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Xã Minh Hòa, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
5. Ông Vũ Văn T, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
HKTT: Ngõ 3, Cụm 5, xã v, huyện P, TP. Hà Nội.
Chỗ ở: Phòng 301, E5 Lô E đường C, Phường 11, Quận 3, Thành phố Hồ
Chí Minh
6. Ông Tạ Tú Anh, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: thôn T, xã L, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2020, Nguyễn Quang M gặp bị cáo Tạ Tương Minh V kể
việc nhiều lần cho ông Ngô Kim H vay tiền, ông H không trả được nợ nên bà
Phạm Thị Thuý N là vợ của ông H đã đứng ra trả nợ thay và yêu cầu Quang M
cam kết không cho ông H vay tiền nữa. Đồng thời, Quang M cho biết, ông H hiện
đang cần vay tiền của Quang M nên Quang M nhờ V đứng tên người cho vay trên
giấy cho ông H vay 260.000.000 đồng, nếu ông H không trả nợ thì V đi cùng đến
nhà ông H đòi nợ, V đồng ý.
Khoảng tháng 8/2020, Quang M gọi điện thoại cho bị cáo V nói đến nhà
ông H tại số 40/49 Đường T, Phường 14, Quận 3 để đòi nợ số tiền 260.000.000
đồng, thì V đồng ý. Sau đó, V đi cùng với Quang M, Nguyễn Hữu Lê M, Mai
Tuấn C, Nguyễn Văn H nhằm tạo ra một lực lượng áp đảo để đến nhà ông H đòi
nợ. Khi đến nhà ông H, biết ông H không còn sống với bà N, cả nhóm vẫn gây áp
lực để buộc bà N trả tiền cho V nH bà N không có tiền nên cả nhóm đi về. Trong
khoảng thời gian từ cuối tháng 8/2020 đến giữa tháng 9/2020, Quang M, V, Lê M,
H và C vẫn nhiều lần (khoảng 4-5 lần) đến nhà bà N gây áp lực nH vẫn không đòi
được tiền. Đến ngày 18/9/2020, V điều khiển xe máy (chưa xác định được biển số)
chở Quang M đến nhà bà N. Tại đây, Quang M khóa cửa cổng nhà bà N từ phía
ngoài. Ngày 01/10/2020, V tiếp tục chở Quang M đến nhà bà N để Quang M dùng
01 hộp sơn màu đỏ tạt vào nhà bà N nhằm mục đích đe dọa, gây áp lực để buộc bà
N trả số tiền 260.000.000 đồng thay cho ông H.
Đến khoảng 15 giờ ngày 07/10/2020, Quang M cùng với Lê M, C đến nhà
bà N để đòi tiền. Khi đến nơi, Lê M vào trong nhà nói chuyện với bà N, Quang M
đứng ngoài cổng còn C bỏ ra khu vực công viên gần nhà bà N ngồi đợi. Lúc này,
bà N lo lắng nên nói con trai là anh Ngô Thái B điện thoại trình báo Công an
Phường 14, Quận 3 đến bắt giữ được Quang M đưa về trụ sở làm việc. Riêng C và
Lê M chạy thoát.

3
Qua điều tra, truy xét Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3 đã ra
Quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bị cáo Tạ
Tương Minh V nH do sau thực hiện hành vi phạm tội, V đã bỏ trốn khỏi địa
phương, Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã đến ngày 22/7/2022, bị cáo V đến
Công an Quận 3 đầu thú.
Tại Cơ quan C sát điều tra - Công an Quận 3, bị cáo Tạ Tương Minh V đã
khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS-Q3 ngày 13 tháng 01năm 2023 Viện
kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Tạ Tương Minh V về tội “Cưỡng đoạt
tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Tạ Tương Minh V có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều
tra và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng
truy tố bị cáo là đúng người đúng tội. Bị cáo xác định số tiền cho ông H vay là của
Nguyễn Quang M và Tạ Tú Anh (Tú Anh là bà con với bị cáo). Quang M và Tú
Anh nhờ bị cáo đứng tên cho vay và cùng đi đòi nợ vì Quang M đã có hứa với vợ
ông H là không được cho ông H vay nữa nên không thể đứng tên cho vay, bị cáo
chưa từng gặp mặt ông H. Vì nghĩ giúp nhau nên bị cáo đồng ý đứng tên dùm
Quang M và Tạ Tú Anh trên giấy cho vay, giấy vay tiền ai viết bị cáo không biết.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo để có cơ hội làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như
Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Tạ Tương Minh V từ
07 đến 08 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra
viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự và thủ tục theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về
hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất phù hợp với
lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ
khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
Với mục đích buộc bà Phạm Thị Thúy N phải trả nợ thay cho ông Ngô
Kim H (chồng cũ của bà N) số tiền 260.000.000 đồng mà ông H đã viết giấy vay
4
của bị cáo Tạ Tương Minh V. Bị cáo V đã cùng với Nguyễn Quang M đến nhà bà
N tại số 40/49 Đường T, Phường 14, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh gây áp, lực
đe, dọa uy hiếp tinh thần để buộc bà N phải trả nợ thay ông H. Ngày 18/9/2020 bị
cáo Tạ Tương Minh V cùng với Nguyễn Quang M khóa cửa cổng nhà của bà N từ
bên ngoài; ngày 01/10/2020 lại cùng với Quang M dùng sơn màu đỏ tạt vào cửa
chính nhà bà N để uy hiếp tinh thần. Với hành vi như đã nêu trên, bị cáo Tạ Tương
Minh V đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3
Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Bị cáo V là thanh niên đã trưởng thành nên bị cáo phải biết rõ việc đe
dọa, uy hiếp tinh thần để buộc người khác phải trả nợ thay là hành vi sai trái và bị
pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, vì thiếu ý thức chấp hành pháp luật
nên bị cáo đã cố tình cùng với Nguyễn Quang M thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Hành vi mà bị cáo đã cùng với Nguyễn Quang M gây ra là nguy hiểm
cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp đối với
tài sản công dân, mà còn uy hiếp đến sức khỏe tinh thần của người khác, ảnh
hưởng xấu đến tình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử nghiêm để
giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Đây là vụ án có đồng phạm nH mang tính giản đơn, bị cáo V là người
đã giúp sức chở Nguyễn Quang M đến nhà bà N để Minh khóa cửa và tạt sơn gây
áp lực buộc bà N trả tiền. Vì vậy, khi lượng hình cần căn cứ Điều 17; Điều 58 Bộ
luật Hình sự để cân nhắc hình phạt phù hợp với vai trò tính chất hành vi phạm tội
mà bị cáo đã tham gia trong vụ án.
[6] Tuy nhiên cũng xét, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, quá trình
điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nH
chưa chiếm đoạt được tài sản nên gây thiệt hại không lớn. Sau khi phạm tội, bị cáo
đã chủ động ra đầu thú, hiện bị cáo là lao động chính phải nuôi bố bị bệnh tâm
thần, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm
nhẹ quy định tại các điểm h – s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để
xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm h – s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 nên cần áp dụng thêm quy định tại khoản 1
Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo dưới mức thập nhất của
khung hình phạt là phù hợp.
[7] Đối với hành vi phạm tội của Nguyễn Quang M trong vụ án này đã bị
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử bằng Bản án có hiệu lực pháp
luật số 169/2022/HS-PT ngày 18/4/2022 nên Hội đồng xét xử không phải xem xét
gì thêm.
[8] Đối với Tạ Tú Anh do chỉ có lời khai của bị cáo V xác định số tiền cho
ông H vay là của Tú Anh nH hiện chưa tìm ghi được lời khai của Tú Anh nên Cơ
quan điều tra đã ra quyết định truy tìm, khi nào tìm được sẽ tiếp tục điều tra, xử lý
sau.
5
[9] Đối với các đối tượng Nguyễn Hữu Lê M, Nguyễn Văn H, Mai Tuấn C
có đi cùng với Quang M, V đến nhà bà N đòi tiền nH không biết và không tham
gia việc khóa cửa, tạt sơn để uy hiếp tinh thần của gia đình bà N nên chưa có đủ
căn cứ để xử lý hình sự, Cơ quan điều tra không xử lý hình sự với các đối tượng
này là phù hợp.
[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật
Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm
nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 170; Điều 17; Điều 58; Điều 50; các điểm h- s
khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi,
bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Tạ Tương Minh V phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Tạ Tương Minh V 06 (sáu) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Tạ Tương Minh V phải chịu 200.000
đồng (Hai trăm ngàn đồng);
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Áp dụng Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.
6
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Những người tham gia
tố tụng khác;
- VKSND Quận 3;
- TAND TP.HCM ;
- Chi cục THADS Quận 3;
- Công an Quận 3;
- Trại tạm giam Chí Hòa;
- PC53-CATP.HCM;
- Lưu: VP, hồ sơ (TK.Nhi).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thanh Sơn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm