Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 09/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 09/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 26/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Trần Hữu X khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Y K Mlô phải trả lại số tiền cọc đã nhận 100.000.000 đồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - ĐẮK LẮK
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 26/2025/DS-ST
Ngày: 09/9/2025
“V/v Tranh chấp hợp đồng
đặt cọc”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y Mưng Niê;
2. Ông Nguyễn Tư Thế.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Yến - Thư Tòa án nhân dân Khu vực 8,
tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Quang Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk
xét xử thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2025/TLST-DS ny 23 tháng 4 năm 2025
về việc“Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
28/2025/QĐXXST-DS ngày 08/8/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐST-
DS ngày 26/8/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hữu X, sinh năm 1977 - Có mặt.
Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nay là thôn K, xã K, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Y K Mlô, sinh năm 1980 - Có mặt.
Địa chỉ: Buôn K, xã C, huyện K; tỉnh Đắk Lắk;
Nay là Buôn K, xã K, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà H D Niê, sinh năm 1990 - Có mặt.
Địa chỉ: Buôn K, xã C, huyện K; tỉnh Đắk Lắk;
Nay là Buôn K, xã K, tỉnh Đắk Lk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn ông
Trần Hữu X trình bày:
Ngày 03/8/2024, ông Trần Hữu X thoả thuận chuyển nhượng của ông Y K
Mlô, bà H D Niê thửa đất số 80, tờ bản đồ số 165, diện tích 445,9 m
2
, trong đó: đất ở
400 m
2
, đất trồng cây lâu m 45,9 m
2
, tọa lạc tại buôn K, C, huyện K, tỉnh Đắk
2
Lắk đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 276336 do UBND huyện
K cấp ngày 09/7/2021, đứng tên ông Y K Mlô, bà H D Niê, với số tiền 1.100.000.000
đồng (Một tỷ một trăm triệu đồng chăn). Ông X đã đặt cọc cho ông Y K Mlô, bà H D
Niê số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), đến ngày 26/9/2024 theo cam kết
trong giấy đặt cọc mua đất, hai bên cùng đến phòng Công chng P tại thị trần P đ
công chứng hợp đồng mua bán thì nhân viên phòng Công chứng P phát hiện thửa đất
số 80, tờ bản đồ số 165 là đất do Nhà nước cấp theo Quyết định 134 của Chính phủ
vậy căn cứ khoản 3, Điều 48 Luật Đất đai 2024 thì Giấy CNQSD đất nêu trên không
được chuyển nhượng, mua bán. Thửa đất nêu trên giao dịch không thành công do
chính sách về Luật Đất đai, không phải do bên bán cũng không phải do bên mua,
nên ông X yêu cầu ông Y K Mlô, H D Niê trả lại số tiền 100.000.000 đồng (Một
trăm triệu đồng) đã đặt cọc mua thửa đất số 80, tờ bản đồ số 165, nhưng ông Y K Mlô,
bà H D Niê không trả. Vì vậy ông X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Y K Mlô, bà
H D Niê trả lại số tiền 100.000.000 đồng đã nhận đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất nhưng không hoàn thành.
- Bị đơn ông Y K Mlô trình bày: Vào ngày 03/8/2024, ông Y K ông Trần Hữu
X kết Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng đối với thửa đất số 80, tờ bản
đồ số 165 với diện tích 445,9m
2
tại C, huyện K, tỉnh Đăk Lăk (nay K, tỉnh Đăk
Lăk) theo GCN QSDĐ số CY 276336. Sau khi ký kết hợp đồng, ông Y K và v là bà
H D Nđã nhận số tiền đặt cọc 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) từ ông X. Đến
ngày 14/8/2024, ông X đã tiếp tục đặt cọc số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu
đồng). Tổng số tiền cọc đã nhận 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Khi đến
mua, ông X đã kiểm tra nói với ông Y K rằng ông X thể làm được thủ tục chuyển
nhượng đối với thửa đất trên nhận sẽ tự làm giấy tờ thủ tục sang tên, chuyển nhượng.
Trước khi làm giấy thỏa thuận mua bán thì gia đình tôi đã cho ông X xem hiện trạng
đất và các giấy tờ liên quan. Khoảng gần một tháng sau thì mới thống nhất 2 bên, ông
Y K không biết đất đó chuyển nhượng được hay không chuyển nhượng được, vì thấy
người ta bán nhiều chỗ bình thường cho nên ông bán theo như người dân trong
buôn.
Vì là người đồng bào, thiếu hiểu biết nên khi nghe ông X nói vậy thì ông Y K đã
tin tưởng và đồng ý chuyển nhượng thửa đất giao cho ông X làm giấy tờ, thủ tục
chuyến nhượng. Sau đó, vì ông X không thlàm được thủ tục chuyển nhượng nên đến
ngày 26/9/2024 ông X có kêu vợ chồng ông Y K đến Văn phòng công chứng P và yêu
cầu ký vào Bản thỏa thuận sẽ trả số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng. Còn đổ thừa cho
tôi: Nói do tôi không đi công chứng sớm cho nên không thực hiện được thủ tục chuyển
nhượng và doạ nếu không ký đơn thỏa thuận gọi công an đến, lúc gọi điện thoại, có
lúc gửi tin nhắn làm cho gia đình tôi bất an, lo lắng. Tuy nhiên, vì ông Y K đã dùng
số tiền cọc 100.000.000 đồng đã nhận từ ông X đđặt cọc mua 01 thửa đất rẫy khác
để khai hoang, đầu canh tác, sản xuất, làm kinh tế đchi phí sinh sống, sinh hoạt
gia đình. Đồng thời, bởi vì ông X không mua đất, không tiếp tục thực hiện Hợp đồng
nên ông Y K không tiền để tiếp tục việc mua thửa đất rẫy đã đặt cọc và đầu canh
tác. Vì vậy, gia đình ông Y K đã bị mất khoản tiền đã đặt cọc và số tiền đã đầu tư vào
thửa đất rẫy nói trên.
Nay ông Trần Hữu X khởi kiện thì bởi hiện gia đình ông Y K không thu
nhập ổn định để lo chi phí sinh hoạt, hoàn cảnh gia đình vô cùng khó khăn, không có
khả năng trả số tiền trên cho ông X. Ông Y K chỉ đồng ý tr cho ông X số tiền
3
20.000.000 đồng tiền còn sau khi trừ các khoản chi phí phát sinh. Nếu ông X
không đồng ý thì đề nghị Toà án giải quyết theo Hợp đồng cọc giữa hai bên vào ngày
03/8/2024 và ngày 14/8/2024 và theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H D Niê trình bày: H D Niê
là vợ của ông Y K Mlô và ký tên nhận tiền cọc số tiền 80.000.000 đồng của ông X
để bán thửa đất của gia đình là thửa đất số 165, diện tích 445,9 m
2
, trong đó: đất ở 400
m
2
, đất trồng cây lâu năm 45,9 m
2
, tọa lạc tại buôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 276336 do UBND huyện K cấp
ngày 09/7/2021, đứng tên ông Y K Mlô, H D Niê. Nay ông X khởi kiện yêu cầu tr
tiền cọc thì do số tiền đó gia đình đã chi phí cọc đmua 01 thửa đất rẫy khác đã chi
phí hết. Hiện nay gia đình không thu nhập ổn định, hoàn cảnh cùng khó khăn
không có khả năng trả lại tiền. vậy, mong toà án xem xét giải quyết theo quy định
của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm
về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thvụ án đến trước khi mở phiên
tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét
xử đã thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình đối trình tự thủ tục của phiên tòa
thẩm; đối với nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực
hiện đầy đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 68, 70, 71, 72, 73
và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 117; Điều 122; Điều 123; Điều
131; Điều 328 Bộ luật Dân s2015; Khoản 3 Điều 192 Luật đất đai 2013; Điều 40
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật đất đai năm 2013 đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn; tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 03/8/2024 giữa ông Y K Mlô ông Trần Hữu
X vô hiệu; Buộc ông Y K Mlô, H D Nphải trả lại cho ông Trần Hữu X số tiền đặt
cọc đã nhận là 100.000.000 đồng.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây loại việc tranh chấp về hợp đồng
(Hợp đồng đặt cọc) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3
Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự loại việc tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Ngày 03/8/2024, ông Trần Hữu X ông Y K Mlô xác lập
hợp đồng đặt cọc nhằm đảm bảo việc ông Y K Mlô, H D Niê sẽ chuyển nhượng cho
ông X quyền sử dụng thửa đất số 80, tờ bản đồ số 165, diện tích 445,9 m
2
, tọa lạc tại
buôn K, C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất số CY 276336 do UBND huyện K cấp ngày 09/7/2021, đứng tên ông Y K Mlô, bà
H D Niê.
Ông X đã giao cho ông Y K Mlô, H D Niê số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng.
Ngày 26/9/2024 hai bên cùng đến Văn phòng công chứng P để công chứng hợp đồng
4
chuyển nhượng thì được biết thửa đất số 80, tờ bản đồ số 165 là đất do Nhà nước cấp
theo Quyết định 134 của Chính phủ nên hai bên không thực hiện việc chuyển nhượng
được. vậy, ông X yêu cầu ông Y K Mlô, H D Niê trả lại số tiền đã nhận cọc
100.000.000 đồng.
Về phía bị đơn ông Y K Mlô chỉ đồng ý trả cho ông X số tiền 20.000.000 đồng
là tiền còn dư sau khi trừ tiền đặt cọc nhận chuyển nhượng đất rẫy khác và các khoản
chi phí phát sinh. Nếu ông X không đồng ý thì đề nghị Toà án giải quyết theo Hợp
đồng cọc giữa hai bên vào ngày 03/8/2024 ngày 14/8/2024 theo quy định của
pháp luật.
[2.1] Xét nguồn gốc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 165, diện tích 445,9 m
2
, tọa lc
tại buôn K, C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay K, tỉnh Đắk Lắk), Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số CY 276336 do UBND huyện K cấp ngày 09/7/2021, đứng tên
ông Y K Mlô, bà H D Niê là do Uỷ ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk giao đất theo
Quyết định số 134/2004/-TTg ngày 20/7/2024 của Thủ tưởng Chính phủ; Đất cấp
năm 2008.
Tại khoản 3 Điều 192 Luật đất đai 2013 quy định: Trường hợp hộ gia đình,
nhân chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện.
“3. Hộ gia đình, nhân dân tộc thiểu số sử dụng đất do Nhà nước giao đất
theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng
đất sau 10 năm, kể từ ngày có quyết định giao đất theo quy định của Chính ph”.
Tại Điều 40 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai quy định về điều kiện chuyển
nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu
số sử dụng đất do được Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ.
“1. Hộ gia đình, nhân đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng đất do được Nhà
nước giao đất theo chính sách hỗ trcủa Nhà nước chỉ được chuyển nhượng, tặng cho
quyền sử dụng đất sau 10 năm kể từ ngày quyết định giao đất nếu được Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi đất xác nhận không còn nhu cầu sử dụng do chuyển khỏi địa
bàn xã, phường, thị trấn nơi trú đđến nơi khác hoặc do chuyển sang làm nghề
khác hoặc không còn khả năng lao động.
2. Tổ chức, nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử
dụng đất của hộ gia đình, nhân đồng bào dân tộc thiểu ssử dụng đất do được Nhà
nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước mà không thuộc trường hợp được
chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1 Điều này.”
Xét thấy, tại thời điểm xác lập hợp đồng đặt cọc giữa hai bên tđối tượng của
hợp đồng đặt cọc thửa đất số 80, tờ bản đồ số 165 thuộc trường hợp giao đất cho
người đồng bào dân tộc thiểu số để định canh định (theo Quyết định số
134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2024 của Thủ tưởng Chính phủ). Hộ gia đình ông Y K
Mlô, bà H D Niê được chuyển nhượng thửa đất trên sau 10 năm kể từ ngày 09/7/2021
ngày được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi thuộc các trường hợp như
được Ủy ban nhân dân cấp nơi đất xác nhận không còn nhu cầu sử dụng do
chuyển khỏi địa bàn nơi tđể đến nơi khác hoặc do chuyển sang làm nghề khác
hoặc không còn khả năng lao động. Ông Y K Mlô, H D Niê ông Trần Hữu X xác
lập hợp đồng đặt cọc khi chưa tìm hiểu rõ về điều kiện chuyển nhượng của thửa đất
lỗi của cả hai bên.
5
[2.2] Bị đơn ông Y K Mlô, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan H D Niê ch
đồng ý trả cho ông X số tiền 20.000.000 đồng là tiền còn lại sau khi trừ các khoản chi
phí phát sinh trong việc ông đặt cọc nhận chuyển nhượng đất rẫy khác do ông X
không thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất số 80 dẫn đến ông Y K Mlô, H D Niê
không có tiền để tiếp tục việc mua thửa đất rẫy khác và bị mất tiền đặt cọc. Xét ý kiến
của ông Y K Mlô, H D Nkhông căn cứ việc ông Y K Mlô, H D Niê
đặt cọc để nhận chuyển nhượng thửa đất rẫy khác là một quan hệ pháp luật khác, ông
X không tham gia vào quan hệ này.
Từ những phân ch trên, Hội đồng xét xử xét thấy, đối tượng giao dịch trong hợp
đồng đặt cọc ngày 03/8/2024 ngày 14/8/2024 giữa ông Trần Hữu X ông Y K
Mlô thửa đất số 80, tờ bản đồ số 165, tại buôn K, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay
K, tỉnh Đắk Lắk) thuộc loại đất chuyển nhượng điều kiện nên Hợp đồng đặt
cọc hiệu tại thời điểm giao kết do vi phạm điều cấm của luật theo quy định tại điểm
c khoản 1 Điều 117, Điều 122, Điều 123, Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015. Hợp đồng vô
hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên; các bên khôi phục lại tình
trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại khoản 1, 2 Điều
131 Bộ luật Dân sự 2015. vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông X, tuyên
bố Hợp đồng đặt cọc ngày 03/8/2024 và ngày 14/8/2024 giữa ông Trần Hữu X và ông
Y K Mlô hiệu. Buộc ông Y K Mlô, H D Niê phải trả lại cho ông X số tiền đã
nhận cọc là 100.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000
đồng. Ông Y K Mlô, H D Niê người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống các
điều kiện kinh tế - hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí dân
sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng cho nguyên đơn ông Trần
Hữu X đã nộp theo Biên lai số 0002150 ngày 17/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện Krông Búk (nay Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8, tỉnh Đắk Lắk) là phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều
12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều
266 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 117; Điều 122; Điều 123; Điều 131; Điều 328 Bộ
luật Dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 192 Luật đất đai năm 2013; Điều 40 Nghị định
số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật đất đai năm 2013;
Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vQuốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần
Hữu X.
- Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 03/8/2024 ngày 14/8/2024 về việc thoả
thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là thửa đất số 80, tờ bản đồ số 165, diện tích
445,9 m
2
, tọa lạc tại buôn K, C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay K, tỉnh Đắk Lắk),
6
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 276336 do UBND huyện K cấp ngày
09/7/2021, đứng tên ông Y K Mlô, bà H D Niê giữa ông Y K Mlô và ông Trần Hữu X
vô hiệu.
Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Y K Mlô, bà H D Niê phải trả lại
cho ông Trần Hữu X số tiền đặt cọc đã nhận 100.000.000 đồng (Một trăm triệu
đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bluật dân s
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho ông Y K Mlô, bà H D Niê.
Hoàn trả lại cho ông Trần Hữu X số tiền 2.500000 đồng tạm ứng án phí dân sự
thẩm đã nộp theo Biên lai số 0002150 ngày 17/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk (nay là Phòng Thi hành án dân sKhu vực 8, tỉnh
Đắk Lắk).
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, nời phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đăk Lăk;
- VKSND Khu vc 8 - Đắk Lk;
- Phòng THADS Khu vc 8 - Đắk Lk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Vp.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT X S THM
THM PHÁN CH TO PHIÊN TOÀ
Đã ký
Lê Anh Thái
Tải về
Bản án số 26/2025/DS-ST Bản án số 26/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 26/2025/DS-ST Bản án số 26/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất