Bản án số 26/2023/DS-PT ngày 08/03/2023 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp chia tài sản chung và đòi lại tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 26/2023/DS-PT ngày 08/03/2023 của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp chia tài sản chung và đòi lại tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Số hiệu: 26/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/03/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Các nguyên đơn kiện ông Đỗ Ngọc Đ về việc tranh chấp chia tài sản chung và đòi lại tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét x phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Vỹ
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Sử
Ông Cao Xuân Long
- Thư ký phiên a: Nguyễn Thị - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa-Vũng Tàu tham gia
phiên tòa: Thành Thị Linh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 08 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Rịa-Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
164/2022/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 về Tranh chấp chia i sản
chung đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2022
của Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Rịa-Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2023/QĐ-PT ngày
11 tháng 01 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023/QĐ-PT ngày 14
tháng 02 năm 2023 và Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số
27A/2023/QĐPT-DS ngày 03 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Nguyn Xuân T, sinh năm 1969 và bà Trn Th H, sinh năm 1970.
Cùng địa chỉ: A42 tổ 3, ấp T, P, huyn L, tỉnh Rịa-Vũng u (vắng mặt).
2. Ông Nguyn Xuân T1, sinh năm 1966 và bà Lê Th C, sinh năm 1965.
Cùng địa chỉ: A45 tổ 3, ấp T, P, huyn L, tỉnh Rịa-Vũng u (vắng mặt).
3. Ông Nguyn Xuân B, sinh năm 1972 và bà Lâm Th B, sinh năm 1978.
Cùng địa chỉ: A40 tổ 3, ấp T, P, huyn L, tỉnh Rịa-Vũng u (vắng mặt).
4. Ông Nguyn Xuân T2, sinh năm 1976 Nguyn Th T, sinh năm 1981.
Cùng địa chỉ: A43 tổ 3, ấp T, P, huyn L, tỉnh Rịa-Vũng u (vắng mặt).
5. Ông Trn Minh M, sinh năm 1976 và Nguyễn Th B, sinh m 1981.
Cùng địa chỉ: A42 tổ 3, ấp T, P, huyn L, tỉnh Rịa-Vũng u (vắng mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 26/2023/DS-PT
Ngày 08-3-2023
V/v tranh chp chia tài sn chung
và đòi lại tài sn
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Lê Thị G, sinh
năm 1989.
Địa chỉ: 577 P, phường P, thành phố B, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (theo Giấy
ủy quyền ngày 22-5-2018 Giấy ủy quyền ngày 28-5-2018) (có mặt).
- Người bảo v quyền và lợi ích hp pháp ca c nguyên đơn: Lut i
Đức Q - ng ty luật TNHH MTV T - Đoàn lut tỉnh Rịa-Vũng u (có mặt).
- Bị đơn:
Ông Đỗ Ngọc Đ, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Tổ 6, p P, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (đã chết ngày 04-
10-2018).
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Đ:
1. Trần Thị D, sinh năm 1956.
Địa chỉ: F66 tổ 14, p L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
2. Đỗ Thị T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: tổ 7, ấp L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
3. Đỗ Thị N, sinh năm 1989.
Địa chỉ: K14, tổ 10, p H, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
4. Ông Đỗ Phúc T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: F66 tổ 14, p L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
5. Ông Đỗ Phúc N, sinh năm 1993.
Địa chỉ: F66 tổ 14, p L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
6. Ông Đỗ Tấn L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: F66 tổ 14, p L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của T, N, ông T, ông N, ông L:
Ông Thái D, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Q14 tổ 6, ấp K, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (theo Giấy
ủy quyền ngày 05-01-2021) (có mặt).
7. Ông Đỗ Duy T, sinh năm 1984.
Địa chỉ: I22 tổ 1, ấp T, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
8. Đỗ Thị C, sinh năm 1979.
Địa chỉ: F66 tổ 14, p L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Thị D, sinh năm 1956.
Địa chỉ: F66 tổ 14, p L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của D:
1. Ông Thái D, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Q14 tổ 6, ấp K, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (có mặt).
2. Ông Quý T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: 31 đường 15, khu phố 5, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ
Chí Minh (có mặt).
(Theo Giấy ủy quyền ngày 12-9-2018).
- Người làm chứng:
1. Ông Hoàng Xuân T, sinh năm 1971.
3
Địa chỉ: 32 L, khu phố 5, thị L, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt, đơn đề
nghị xét xử vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Trạm dầu nhớt P, cảng P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng
mặt, đơn đ nghị xét xử vắng mặt).
3. Ông Bùi Thanh H, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Tổ 14, ấp L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng u (vắng mặt).
4. Ông V, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Tổ 14, ấp L, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng u (vắng mặt).
5. Ông Nguyễn Văn Hổ.
Địa chỉ: Q24 tổ 1, ấp K, P, huyện L, tỉnh Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
- Người kháng o:
1. Thị G - Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn.
2. Trần Thị D - Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
3. Đỗ Thị T - Người kế thừa quyền, nghĩa vụ t tụng của bị đơn.
4. Đỗ Thị N - Người kế thừa quyền, nghĩa vụ t tụng của bị đơn.
5. Ông Đỗ Phúc T - Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
6. Ông Đỗ Phúc N - Người kế thừa quyn, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
7. Ông Đỗ Tấn L - Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn các ông, bà: Nguyễn Xuân T, Trần Th H, Nguyễn Xuân T1,
Thị C, Nguyễn Xuân B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh
M, Nguyễn Thị B người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn
Thị G trình bày như sau:
Vào năm 2008, các nguyên đơn hùn chung với ông Đỗ Ngọc Đ, Trần
Thị D mua 02 chiếc ghe mới mang số hiệu BV-4542-TS BV- 4532-TS, cả hai
chiếc ghe này đều do ông Đ đứng tên sở hữu. Hai chiếc ghe trên chia làm 8 phần
hùn, ông Đ, D hùn 02 phần, các nguyên đơn hùn 06 phần.
Các nguyên đơn khi kin ông Đỗ Ngc Đ, Trần Th D v việc u cầu chia
phần hùn ghe. Nguyên đơn thng nht giá tr 02 chiếc ghe trên là 3.600.000.000
đồng. Ông Đ, bà D đang s dụng hai chiếc ghe y n phải tr cho c nguyên đơn
06 phần hùn ơng đương với số tin là 2.700.000.000 đồng. Các nguyên đơn thng
nhất yêu cầu đưc sở hữu chung s tiền trên ch không chia nh ra tng phần. Hiện
nay ông Đỗ Ngc Đ đã chết, c nguyên đơn u cu bà Trn Th D ng những
người tha kế quyn nghĩa vụ tố tng của ông Đ c ông, Trn Th D, Đỗ Th T,
Đỗ Th N, Đỗ Phúc T, Đ Phúc N, Đỗ Tấn L, Đỗ Duy T, Đ Th C nghĩa v tr
s tiền trên cho các nguyên đơn.
Ngày 29-11-2021, các nguyên đơn đơn yêu cầu khi kin bổ sung v việc
yêu cầu bà D và những người kế tha quyn, nghĩa v t tng ca ông Đ phi tr cho
các nguyên đơn số tiền 1.800.000.000 đồng là tiền đóng góp để ký hợp đồng bảo
lãnh đánh bắt bên vùng biển Indonexia o năm 2010. Các nguyên đơn xác định
4
giao tiền 1.800.000.000 đồng/6 phần hùn (mỗi phần n 300.000.000 đồng) cho
ông Đ ch không phải cho ông V, c nguyên đơn giao toàn bộ cho ông Đ đứng ra
ký kết hợp đồng n việc ông Đ có ký hp đồng hay không thì c nguyên đơn
không biết. Ông Đ bo đảm việc đánh bắt đó không bị bắt s giải quyết hậu qu
nếu sự cố gì xảy ra. Các nguyên đơn không biết ông V là ông nào, ch biết tại nhà
ông Đ mt treo mt cái bng của công ty N, chính vậy ông Đ mới u
nguyên đơn đưa tiền cho ông Đ để ký hợp đồng bảo lãnh việc đánh bắt đó (còn thực
tế ông Đ hay không thì các nguyên đơn không biết).
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc thanh toán số tiền chuộc ghe thì
2 phương án n sau: Nếu bên bị đơn t yêu cầu phản tố thì nguyên đơn
cũng sẽ không yêu cầu khởi kiện bổ sung, còn nếu b đơn giữ nguyên yêu cầu
phản tố thì nguyên đơn sẽ đồng ý với yêu cầu phản tố (là yêu cầu nguyên đơn
phải trả cho ông Đ số tiền chuộc ghe của 6 phần hùn 2.243.733.600 đồng)
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện bổ sung của mình (yêu cầu bên ông Đ phải trả cho
nguyên đơn tiền hợp đồng bảo lãnh đánh bắt 1.800.000.000 đồng).
Bị đơn ông Đỗ Ngọc Đ, người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Đ
Trần Th D, Đỗ Thị T, Đỗ Thị N, ông Đỗ Phúc T, ông Đỗ Phúc N, ông
Đỗ Tấn L người đại diện theo y quyền của D, T, N, ông T, ông N,
ông L ông Thái D trình bày:
Ông Đ, D thống nhất với bên nguyên đơn về việc ông Đ, D hùn
mua chung 02 chiếc ghe mới mang số hiệu BV-4542-TS BV- 4532-TS, cả hai
chiếc ghe này đều do ông Đ đứng tên sở hữu. Hai chiếc ghe trên chia làm 8 phần
hùn, ông Đ, D hùn 02 phần còn các nguyên đơn hùn 06 phần còn lại. thống
nhất giá trị đôi ghe là 3.600.000.000 đồng. Hiện nay hai chiếc ghe trên do ông Đ,
D đứng tên và đang quản lý sử dụng. Bị đơn đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn chia lại g trị hai chiếc ghe cho nguyên đơn theo 06 phần
hùn đã đóng góp 2.700.000.000 đồng.
Ngày 12-5-2014, ông Đ đơn yêu cầu phản t về việc buộc các nguyên
đơn phải thanh toán cho bị đơn số tiền chuộc ghe bên Indonexia. Cụ thể, vào
năm 2011ghe đi đánh bắt được 01 chuyến trót lọt đến chuyến thứ hai thì bị phía
Indonexia bắt giữ. Ông Đ các nguyên đơn thống nhất ông Đ sẽ bỏ tiền ra
chuộc ghe về như sau: chuộc ghe 100.000 USD; chuộc hai tài công 13.000 USD;
chi phí qua Indonexia 100.000.000 đồng; tiền nợ dầu của đại 500.000.000
đồng. Quy thành tiền 2.991.645.000 đồng. Như vậy chia theo tỷ lệ phần hùn
thì 06 phần hùn phải thanh toán cho bị đơn số tiền 2.243.733.600 đồng. Hiện
nay bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố như đã nêu.
Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của các nguyên đơn thì bị đơn không
đồng ý, vì các nguyên đơn đóng tiền trực tiếp cho ông Nguyễn Ngọc V chứ
không phải cho ông Đ thực tế ghe đã đi đánh bắt trót lọt 1 lần, đến lần thứ 2
thì ghe b bắt.
Ông Đ chết ngày 04-10-2018, cha mẹ ông Đ tên Đỗ Minh K (đã chết)
Phạm Thị C (đã chết). Ông Đ vợ Trần Thị D 07 người con tên Đỗ
5
Thị C, Đỗ Duy T, Đỗ Thị T, Đỗ Thị N, Đỗ Phúc T, Đỗ Phúc N Đỗ Tấn L.
Ngoài ra ông Đ không còn nời con nào khác.
Người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Đ là ông Đỗ Duy T
Đỗ Thị C đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không
do, tại phiên tòa ông T, C vắng mặt.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị D, người đại diện theo
ủy quyền của D ông Quý T ông Thái D trình bày:
D đồng ý với phần trình bày của ông Đ những người thừa kế quyền
nghĩa vụ tố tụng của ông Đ, D không ý kiến bổ sung thêm.
Người làm chứng ông Bùi Thanh H trình bày:
Vào tháng 03-2011, ông Đỗ Ngọc Đ nói ông H qua Indonexia sửa máy
ghe để cho ghe chạy về Việt Nam. Tại nhà ông Đ t ông Đ đưa cho ông H 1
xấp tiền USD, ông H không đếm bao nhiêu nhưng nghe ông V nói
20.000 USD, cùng lúc đó thì ông Đ cũng đưa cho ông B một sấp tiền ông H
không biết bao nhiêu sau đó ông H giấu tiền trong giày. Ngoài số tiền
ông Đ đưa cho ông H thì ông H không biết ông Đ đưa cho ai bao nhiêu cả. Khi
đưa tiền thì ông Đ nói qua chuộc ghe còn việc tiền này của ông Đ hay của ai
ông H không biết.
Mọi người qua Indonesia bằng máy bay, khi qua đến Indonexia thì ông H
đưa hết tiền trên cho ông V. Ông V cầm tiền làm sau đó ông H không biết.
Sau đó ông H và mọi người đi qua đảo khác Indonexia ông H sửa ghe xong thì
ông H đi về Việt Nam trước, những người khác vẫn còn lại. Ông H không nhớ
bao nhiêu người cùng đi qua Indonexia, ông H chỉ nhớ ông Nguyễn
Xuân B, ông V ông H.
Người làm chứng ông Võ V trình bày:
Ngày 24-3-2011, ông V qua Indonexia chuộc hai chiếc ghe mang số hiệu
BV-4542-TS BV-4532-TS. Khi đi, bố vợ ông V ông Đỗ Ngọc Đ đưa
cho ông V 100.000 USD, ông V đưa lại ông H ông B mỗi người mang dùm
20.000 USD, còn lại ông V mang 60.000 USD. Ngày 25-3-2011, ông V đưa
100.000 USD cho phía người Indonexia để xin chuộc lại 02 chiếc ghe trên, sự
chứng kiến của ông B ông H Phước Tỉnh.
Khi nhận lại ghe, ông H thợ máy kiểm tra đầy đủ, ông V nhờ ông B
người bạn ghe chạy về. Còn ông V ông H về bằng đường máy bay ngày 03-4-
2011. Đồng thời, ông Đ đưa cho ông V 100.000.000 đồng để chi phí cho 02
lần đi qua lại giao dịch chuộc ghe gồm chi phí máy bay cho 03 người dịch
vụ khách sạn ăn uống.
Người làm chứng ông Hoàng Xuân T trình bày:
Vào khoảng năm 2011, do mối quan hệ quen biết t trước, ông Đ nói
02 tài công của ghe ông Đ bị bắt bên Indonexia nên nhờ ông T qua làm thủ tục
chuộc họ về nên ông T đồng ý. Khi qua Indonexia ông T liên hệ với các
quan bên đó để bảo lãnh 02 tài công của ông Đ về. Ông Đ đưa cho ông T khoảng
6
275.000.000 đồng (tương đương 13.000 USD) để làm chi phí đi lại, ăn uống
đóng tiền chuộc. Việc thỏa thuận chuộc tài công chỉ ông T ông Đ biết,
ngoài ra không còn ai biết. Ông T đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt
ông T trong suốt quá trình t tụng.
Người làm chứng ông Nguyễn Mạnh H trình bày:
Trong thời điểm năm 2010 ông H bán dầu cho ghe BV-4542-TS BV-
4532-TS do ông Đỗ Ngọc Đ làm chủ ghe. Trong thời gian buôn bán không phát
sinh công nợ, nhưng năm 2010 đôi ghe này lấy dầu của ông H đi biển bị
Indonexia bắt. Ông Đức gọi cho ông Hà i cho ông Đức n chuyến hàng lấy
dầu đi biển này bị rủi ro ghe bị bắt ông đã đồng ý với số nợ
500.000.000 đồng. Ông H chưa yêu cầu về số nợ này đề nghị Tòa án giải
quyết, xét xử vắng mặt ông H trong suốt quá trình tố tụng.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn H đã được triệu tập làm việc hợp lệ
nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, tại phiên tòa ông H vắng mặt.
Tại bản án dân sự thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2022
của Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Rịa-Vũng Tàu, đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu khởi kiện bổ sung của các
nguyên đơn ông, Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C,
Nguyễn Xuân B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Thị T, Trần Minh M,
Nguyễn Thị B về việc “Tranh chấp chia tài sản chung đòi lại tài sản”:
- Buộc Trần Thị D những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
ông Đỗ Ngọc Đ các ông, Trần Thị D, Đỗ Thị T, Đỗ Thị N, Đỗ Phúc T, Đỗ
Phúc N, Đỗ Tấn L, Đỗ Duy T, Đỗ Thị C phải trả lại cho các nguyên đơn các
ông, bà Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C, Nguyễn Xuân
B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M, Nguyễn Thị B
số tiền hùn đóng 02 chiếc ghe BV-4542-TS BV- 4532-TS 2.700.000.000
(hai tỷ bảy trăm triệu) đồng.
- Buộc Trần Thị D những người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của
ông Đỗ Ngọc Đ các ông, Trần Thị D, Đỗ Thị T, Đỗ Thị N, Đỗ Phúc T, Đỗ
Phúc N, Đỗ Tấn L, Đỗ Duy T, Đỗ Thị C phải trả lại cho các nguyên đơn các
ông, bà Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C, Nguyễn Xuân
B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M, Nguyễn Thị B
số tiền đã nhận 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu) đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Đỗ Ngọc Đ, buộc các nguyên
đơn các ông, Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C,
Nguyễn Xuân B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M,
Nguyễn Thị B phải thanh toán cho Trần Thị D những người thừa kế quyền
nghĩa vụ tố tụng của ông Đỗ Ngọc Đ là các ông, Trần Thị D, Đỗ Thị T, Đỗ
Thị N, Đỗ Phúc T, Đỗ Phúc N, Đỗ Tấn L, Đỗ Duy T, Đỗ Thị C số tiền chuộc
ghe, chuộc tài công, chi phí đi lại chuộc ghe và tiền dầu tổng cộng là
2.243.733.600 (hai tỷ hai trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm ba mươi ba ngàn sáu
trăm) đồng.
7
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án
quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 8-9-2022, đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn Lê Thị G
đơn kháng cáo một phần bản án thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp
nhận yêu cầu phản t của bị đơn.
Ngày 09-9-2022, những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị
đơn Trần Thị D, Đỗ Thị T, ĐỗThị N, ông Đỗ Phúc T, ông Đỗ Phúc
N ông Đỗ Phúc L đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một
phần bản án thẩm về việc buộc các b đơn phải trả lại cho các nguyên đơn số
tiền 1.800.000.000 đồng, là tiền đóng góp để hợp đồng bảo lãnh đánh bắt
trên vùng biển Indonesia.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các nguyên đơn (do Thị G đại diện) giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
yêu cầu khởi kiện bổ sung nhưng thay đổi yêu cầu kháng cáo như sau: Đề
nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chỉ chấp nhận một phần yêu
cầu phản tố của bị đơn đối với các khoản tiền sau: Chi phí chuộc i công
13.000 USD, chi phí đi sang Indonesia chuộc ghe 100.000.000 đồng chi
phí mua dầu 500.000.000 đồng. Riêng khoản tiền chi phí chuộc ghe 100.000
USD thì phía nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận một phần
60.000 USD, còn 40.000 USD còn lại đ nghị không chấp nhận. Đối với các
phần khác của bản án thẩm thì các nguyên đơn đồng ý nên không kháng cáo.
- Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn người
quyền lợi, nghĩa v liên quan Trần Thị D (do ông Thái Lý D và ông Quý
T đại diện) giữ nguyên yêu cầu phản tố yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng
xét xử sửa một phần bản án thẩm theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện bổ sung của các nguyên đơn về việc buộc các bị đơn phải trả lại cho các
nguyên đơn số tiền 1.800.000.000 đồng, tiền góp để hợp đồng bảo lãnh
đánh bắt trên vùng biển Indonesia. Đối với các phần khác của bản án thẩm
thì các bị đơn đồng ý nên không kháng cáo.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác .
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Rịa-Vũng Tàu về
việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các nguyên đơn các bị đơn nộp trong
thời hạn luật định. Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng đầy đủ
trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện
đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của của các ông bà: Trần Thị D, Đỗ Thị T, ĐỗThị N,
ông Đỗ Phúc T, ông Đỗ Phúc N ông Đỗ Phúc L không đồng ý với quyết định
8
của bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của c nguyên đơn về
việc buộc bị đơn phải trả lại cho các nguyên đơn số tiền 1.800.000.000 đồng,
tiền góp để hợp đồng bảo lãnh đánh bắt trên vùng biển Indonesia:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm phiên tòa phúc thẩm,
các nguyên đơn đều xác nhận: Vào năm 2010, ông Đ nói với các nguyên đơn
về việc hùn tiền, mỗi phần hùn 300.000.000 đồng để ký hợp đồng bảo lãnh đánh
bắt trên vùng biển Indonesia. Do tin tưởng ông Đ nên các nguyên đơn chỉ hùn
tiền đưa cho ông Đ không biết ông Đ hợp đồng với ai đưa tiền cho ai,
các nguyên đơn không biết ông V, chỉ thấy tại nhà ông Đ treo bảng tên Công
ty TNHH N. Nhưng ngoài lời khai của mình, các nguyên đơn không chứng
cứ nào khác về việc giao tiền hùn hợp đồng bảo lãnh cho ông Đ, ông Đ
không thừa nhận việc này.
n theo bị đơn những người thừa kế của bị đơn thì chỉ thừa nhận việc
c nguyên đơn ông Đ thống nhất thỏa thuận hùn tiền hợp đồng bảo lãnh
với ng ty TNHH dịch vụ khai thác hải sản N đưa tiền trực tiếp cho ông
Nguyễn Ngọc V Giám đốc Công ty này. Ông Đ chỉ đại diện hợp đồng bảo
nh ông đứng n ch ghe. Bị đơn cung cấp được cho Tòa án 01 bản hợp đồng
cung cấp dịch vụ hồ khai thác hải sản ng biển Indonesia ngày 18-9-2010
giữa bên cung cấp dịch vụ là ông Nguyễn Ngọc V và bên chủ tàu ông Đ, trong
đó thỏa thuận việc giao nhận tiền để được đánh bắt vùng biển Indonesia.
Cả nguyên đơn bị đơn không cung cấp được địa chỉ chính xác của ông V để
Tòa án triệu tập m sự liên quan của ông V đối với thỏa thuận nêu trên. Do các
nguyên đơn không chứng minh được đã giao số tiền 1.800.000.000 đồng cho ông
Đ nên cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung này của các nguyên đơn
không căn cứ. Kháng o của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
của bị đơn sở.
Xét kháng cáo của các nguyên đơn: Trong suốt quá trình tố tụng tại cấp
thẩm, các nguyên đơn đều đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc
các nguyên đơn phải trả cho b đơn khoản chi phí chuộc ghe mà bị đơn đã bỏ ra.
Sau khi bản án thẩm, nguyên đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định
của bản án thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Tuy nhiên, nguyên
đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình. Tại
phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn xác nhận: Do bị đơn kháng cáo nên
nguyên đơn mới kháng cáo, nguyên đơn không chứng cứ chứng minh cho
yêu cầu kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các nguyên đơn không sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, không chấp nhận kháng cáo của các nguyên
đơn, sửa bản án thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ s
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
9
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của đại diện nguyên đơn những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nộp trong thời hạn luật định nên được chấp
nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Các nguyên đơn bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã
người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa; riêng ông Đỗ Duy T Đỗ
Thị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt không
do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, xử
vắng mặt các đương sự trên.
[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn
phải trả lại giá trị 06 phần hùn của 02 chiếc ghe mang số hiệu BV-4542-TS
BV-4532-TS, thành tiền là 2.700.000.000 đồng: Do các đương sự đều đồng ý
với quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung này không kháng cáo nên
cấp phúc thẩm không xem xét lại.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn đối với việc giải quyết yêu
cầu phản tố của bị đơn:
[3.1] Ti phiên a phúc thm, ngưi đại din hp pháp ca các nguyên đơn
Lê Th G c nhn: Yêu cu kháng cáo của các nguyên đơn đ ngh cấp phúc thm
sa bn án sơ thm theo hướng ch chp nhận mt phn yêu cu phản t của b đơn về
việc yêu cầu các nguyên đơn phi hoàn tr cho b đơn 2.243.733.600 đồng chi phí
chuộc ghe và tài công, gm: Chi phí chuc 02 tài công là 275.145.000 đồng (tương
đương 13.000 USD), tin chi phí đi qua Indonesia là 100.000.000 đồng, tin du là
500.000.000 đồng. Riêng khon tin chuộc 02 chiếc ghe là 2.116.500.000 đồng (tương
đương 100.000 USD), nguyên đơn ch chp nhn thanh toán s tin 1.269.900.000
đng (tương đương 60.000 USD), s tiền n lại 846.600.000 USD (tương đương
40.000 USD) các nguyên đơn không tha nhn vì b đơn không chng minh được nên
đ ngh Hi đồng xét x không chp nhn phần u cầu y ca b đơn.
[3.2] Xét yêu cu kháng o nêu trên ca các nguyên đơn thì thy: Trong sut
quá trình gii quyết li v án cấp thm (sau khi bn án giám đốc thm) và ti
phiên tòa thẩm ln 2, các nguyên đơn đu đng ý thanh toán cho b đơn toàn b các
khoản chi phí mà b đơn ông Đ đã b ra để chuc 02 chiếc ghe mang s hiu BV-
4542-TS và BV-4532-TS và 02 i công vào m 2011 2.243.733.600 đồng như b
đơn u cu. Do yêu cu phn t của b đơn đưc các nguyên đơn tha nhn n b
đơn không cn chứng minh. Vì vy, cấp sơ thm chp nhn toàn bộ yêu cu phn t
ca b đơn, buc các nguyên đơn phi thanh toán cho b đơn 2.243.733.600 đồng là
hoàn toàn có căn c, phù hợp quy định ca pháp lut. Ti phn tòa phúc thm, đi
diện các nguyên đơn u cu không chấp nhận một phn khon tiền chuc ghe
40.000 USD nhưng không xuất trình đưc chứng c mới để phn bác yêu cầu này.
Mt khác, ngưi đại din theo ủy quyn của các nguyên đơn và ngưi bảo v quyn
lợi ích hp pháp ca các nguyên đơn cũng khng đnh ti phiên a phúc thẩm: Mc
dù phía b đơn không đưa ra đưc chng c c th chng minh các khoản chi phí
chuộc ghe tài ng vào năm 2011, nhưng c nguyên đơn vn có thiện chí tha
nhn các khoản chi phí y và đng ý thanh toán cho b đơn. S dĩ các nguyên đơn
10
kháng cáo vì phía b đơn kháng o n c nguyên đơn ng kháng o đ m rõ
thêm ý kiến và quan điểm của mình. Như vậy, các nguyên đơn vn tha nhận và đồng
ý thanh toán c chi phí chuc ghe cho b đơn như bn án sơ thẩm đã tuyên nên Hi
đng t xử phúc thẩm không chp nhn yêu cu kháng cáo này ca các nguyên đơn,
gi nguyên quyết đnh này ca bn án thm như đề ngh của đại diện Vin kim sát.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng
của bị đơn đối với việc giải quyết yêu cầu khởi kiện bổ sung của các nguyên đơn
đối với khoản tiền 1.800.000.000 đồng:
[4.1] Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn cho rằng cấp
thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của các nguyên đơn hoàn toàn
không căn cứ pháp luật, các nguyên đơn không bất cứ tài liệu, chứng cứ
nào chứng minh đã giao cho ông Đ khoản tiền 1.800.000.000 đồng để hợp
đồng bảo lãnh việc đánh bắt trên vùng biển Indonesia, vậy yêu cầu cấp
phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu này của các nguyên đơn.
[4.2] t yêu cu kháng o này ca phía bị đơn thì thy: Quá trình giải quyết
v án qua nhiu cp xét x cũng như ti phiên tòa phúc thm ngày 03-3-2023, c
nguyên đơn đều thừa nhận: Sau khi n tiền đóng cp ghe BV-4542-TS và BV-
4532-TS, do đánh bt vùng biển Việt Nam không hiệu qu nên gia ông Đ
các nguyên đơn thống nhất tha thuận ng góp tin để ký hợp đồng bảo lãnh nhm
đảm bo hai chiếc ghe này đưc đánh bắt cá ng biển Indonesia không b bt
giữ. S tiền mỗi phần n phải p tương đương 300.000.000 đồng. Điều y ng
đưc phía b đơn thừa nhận ti phiên a thẩm và phiên a phúc thẩm. Do vậy,
Hội đồng t x có n c để kết luận việc các nguyên đơn b đơn tha thuận
cùng p s tin trên để ký hp đồng bo lãnh trên là có thật và đã đưc các bên thực
hiện trên thực tế.
[4.3] Tuy nhiên, phía nguyên đơn cho rng họ p tin trực tiếp cho ông Đ vì
tại nhà ông Đ treo bảng Công ty N, họ không biết ông V ai và không giao tiền
cho ông V; ông Đ có hp đồng vi người o khác hay không và có giao tiền cho
ai hay không thì c nguyên đơn không biết. Ông Đ đã cam kết sẽ chu trách nhiệm
nếu ghe b bắt nên sau khi ghe b bắt, ông Đ phải b tiền ra chuc ghe về. Nay ông Đ
yêu cu các nguyên đơn tr lại chi phí chuộc ghe thì ông Đ phải tr li s tiền c
nguyên đơn đã p để hợp đồng bo nh.
Còn phía bị đơn thì khẳng định các nguyên đơn bị đơn cùng góp tiền
giao trực tiếp cho ông Nguyễn Ngọc V Giám đốc Công ty TNHH Thương
mại dịch vụ thủy sản N tại nhà ông Đ, chứ không giao cho ông Đ. Ông Đ
cũng khai với tư cách chủ ghe, ông đã đứng ra đại diện cho các phần hùn hợp
đồng cung cấp dịch vụ hồ khai thác hải sản vùng biển Indonesia vào ngày 18-
9-2010 với bên cung cấp dịch v do ông Nguyễn Ngọc V đại diện. Ông V cam
kết việc đánh bắt vùng biển Indonesia của hai chiếc ghe trên là hợp pháp
sẽ không bị bắt giữ. Nếu ghe bị bắt giữ t ông V sẽ chịu trách nhiệm bồi thường
hoàn trả chi phí cho các phần hùn. Số tiền ghi trong hợp đồng này do c
nguyên đơn ông Đ cùng góp giao trực tiếp cho ông V. Sau khi 02 chiếc
ghe trên bị phía Indonesia bắt giữ, ông Đ đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông V
11
không bồi thường thiệt hại cho ông Đ các nguyên đơn n đã cam kết trong
hợp đồng, do vậy ông Đ cũng người bị thiệt hại như các nguyên đơn. Do các
nguyên đơn đều thống nhất thỏa thuận góp tiền đ hợp đồng bảo lãnh với
Công ty của ông V nên nếu đi đánh bắt Indonesia lời thì cùng hưởng,
còn nếu bị thua lỗ, thiệt hại thì phải cùng gánh chịu với bị đơn. Thực tế, chuyến
đi đánh bắt đầu tiên vùng biển Indonesia thuận lợi các nguyên đơn đã
được chia tiền lời theo phần hùn, đến chuyến thứ hai bị bắt thì phải cùng góp
tiền để chuộc ghe theo phần hùn chứ không thể bắt một mình bị đơn gánh chịu
thiệt hại. Đồng thời, các nguyên đơn cũng phải hợp tác với bị đơn để yêu cầu
ông V bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã kết, số tiền thu được sẽ
chia theo phần hùn.
[4.4] Hội đồng t x nhn thy: Phía c nguyên đơn khai tha thuận ký hợp
đồng bảo nh đánh bt cá ở ng biển Indonesia với ông Đ, giao s tin
1.800.000.000 đồng trực tiếp cho ông Đ và ông Đ cam kết sẽ chịu hoàn toàn trách
nhiệm nếu cặp ghe BV-4542-TS và BV-4532-TS b phía Indonesia bắt giữ. Tuy
nhiên, c nguyên đơn không cung cp đưc tài liệu, chng c nào chứng minh giữa
các nguyên đơn và ông Đ có giao kết với nhau hợp đồng bảo lãnh việc đánh bt
vùng biển Indonesia hợp pháp, không bị bắt gi ông Đ phi chịu trách nhiệm
chuc ghe bồi thường nếu ghe bị bắt. c nguyên đơn cũng không chứng c
chng minh đã giao s tiền 1.800.000.000 đng cho ông Đ. Trong khi đó, ông Đ
những người thừa kế của ông Đ không thừa nhận việc ông Đ có tha thuận bảo nh
và nhận số tiền 1.800.000.000 đồng như các nguyên đơn khai. Vì vậy, li khai trên
ca các nguyên đơn không căn cứ n không được chp nhn.
[4.5] n lời khai của phía bị đơn phù hợp với chứng cứ phía bị đơn cung
bản chính Hợp đồng cung cấp dịch vụ hồ khai thác hải sản vùng biển
Indonesia vào ngày 18-9-2010 (Bl 742-744), giữa bên cung cấp dịch vụ đại diện
ông Nguyễn Ngọc V (Bên A) bên chủ tàu đại diện ông Đỗ Ngọc Đ (Bên
B). Nội dung hợp đồng thể hiện: Bên A đồng ý cung cấp cho bên B toàn bộ hồ
hợp lệ cho phép khai thác trên vùng biển thuộc Indonesia cho các đôi tàu của
bên B, trong đó đôi tàu BV-4542-TS BV-4532-TS được phép khai thác hải
sản trên vùng biển thuộc Indonesia 12 tháng kể từ ngày được phép khai thác ”;
Bên A cam kết hoàn trả lại số tiền bên B đã đưa cho bên A nếu hợp đồng
khai thác không được phép chấp nhận của Indonesia sau khi trừ cho những
tháng đã hoạt động”. Hợp đồng này có chữ của ông Nguyễn Ngọc V đại
diện bên A. Lời khai chứng cứ nêu trên của bị đơn cũng phù hợp với lời khai
của các nguyên đơn trong Đơn xin tường trình giúp đỡ ngày 14-02-2014
(Bl 29) Đơn đề nghị xin giải quyết (Bl 27-28) trong lúc 02 tài công bị bắt
giữ Indonesia thì một người lạ nói tên V đến thăm nói: Anh chú Đ
đã lo chuộc ghe về, em cố gắng chú anh đang lo chuộc em về.
Như vậy, đủ căn cứ kết luận việc ông Đ với cách chủ ghe đại diện cho
các phần hùn đứng ra kết hợp đồng cung cấp dịch vụ hồ khai thác hải sản
vùng biển Indonesia với ông Nguyễn Ngọc V để đảm bảo cho cặp ghe tài sản
chung của các nguyên đơn bị đơn được đánh bắt hải sản trên biên Indonesia
hợp pháp. Nhưng do hiện nay, các b đơn xác nhận ông V không còn trú tại
12
địa chỉ ghi trong Hợp đồng ngày 18-9-2010 cũng không cung cấp được địa
chỉ chính xác hiện nay của ông Nguyễn Ngọc V Công ty N nên Tòa án không
căn cứ xác minh, làm lời khai của bị đơn về sự liên quan của ông V hoặc
Công ty N trong vụ án này. Các đương sự cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết
quan hệ hợp đồng bảo lãnh nêu trên giữa ông Đ (đại diện ch tàu) với ông V nên
cấp thẩm không giải quyết quan hệ hợp đồng này phù hợp. Trường hợp các
nguyên đơn những người thừa kế của ông Đức tranh chấp với ông Nguyễn
Ngọc V hoặc Công ty ông V đại diện t quyền khởi kiện vụ án khác theo
quy định của pháp luật.
[4.6] Do các nguyên đơn không chứng minh được hợp đồng bảo lãnh
đánh bắt vùng biển Indonesia với ông Đ, không chứng minh được việc giao
số tiền 1.800.000.000 đồng cho ông Đ nên Hội đồng xét xử không căn cứ đ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của các nguyên đơn về việc buộc ông Đ
(nay những người thừa kế của ông Đ) trả lại số tiền trên.
[4.7] Từ những căn c phân tích như trên, Hội đồng t xử đủ căn cứ
kết luận việc các nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Đ (nay những người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đ) trả lại số tiền 1.800.000.000 đồng đã góp để
hợp đồng bảo lãnh đánh bắt vùng biển Indonesia không căn c nên
cần sửa phần này của bản án thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này
của các nguyên đơn n đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về án phí:
[5.1] Về án phí dân sự thẩm:
Các nguyên đơn phi chịu án phí n sự sơ thẩm giá ngạch trên giá tr i sn
chung đưc chia là 2.700.000.000 đồng, nh thành tiền 86.000.000 đồng. Ngoài ra,
các nguyên đơn n phải chịu án phí trên s tin chi phí chuộc ghe phải tr cho bị
đơn là 2.243.733.600 đồng, tính thành tiền 76.875.472 đồng và chu án phí trên số
tiền 1.800.000.000 đồng u cầu b đơn tr nhưng không đưc chấp nhận, tính thành
tiền 66.000.000 đồng. Tng cng, các nguyên đơn phi chịu số tin án phí sơ thẩm
có giá ngạch là 86.000.000 đng + 76.857.472 đồng + 66.000.000 đồng =
228.857.472 đồng, đưc khấu tr vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn phải chịu án phí
trên giá trị tài sản chung được chia 900.000.000 đồng, tính thành tiền
39.000.000 đồng. Cấp thẩm không buộc những người kế thừa quyền, nghĩa
vụ tố tụng của bị đơn chịu số tiền án phí trên sai sót nên cần sửa phần này.
[5.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của các nguyên đơn không được chấp nhận nên các nguyên đơn
phải chịu án p dân s phúc thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm đã nộp.
Kháng cáo của những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn
được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho các
đương sự này số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
13
các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận
kháng cáo của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, không
chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn, sửa một phần bản án thẩm.
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39,
Điều 227, Điều 228, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 105, 106, 166,
207, 208, 209, 216, 217, 218, 219 khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Điều 5, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Nguyễn Xuân T, Trần
Thị H, Nguyễn Xuân T1, Lê Thị C, Nguyễn Xuân B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân
T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M, Nguyễn Thị B về việc tranh chấp chia tài sản
chung:
- Buộc Trần Thị D những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
ông Đỗ Ngọc Đ các ông, Trần Thị D, Đỗ Thị T, Đỗ Thị N, Đỗ Phúc T, Đỗ
Phúc N, Đỗ Tấn L, Đỗ Duy T, Đỗ Thị C phải trả lại cho các nguyên đơn các
ông, bà Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C, Nguyễn Xuân
B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M, Nguyễn Thị B
giá trị 06 phần hùn của 02 chiếc ghe mang số hiệu BV-4542-TS BV-4532-TS
2.700.000.000 (hai tỷ bảy trăm triệu) đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của các nguyên đơn
Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C, Nguyễn Xuân B, Lâm
Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M, Nguyễn Thị B về việc
yêu cầu Trần Thị D những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông
Đỗ Ngọc Đ phải trả lại cho các nguyên đơn số tiền đã nhận 1.800.000.000
(một t tám trăm triệu) đồng để hợp đồng bảo lãnh đánh bắt vùng biển
Indonesia.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Đỗ Ngọc Đ (nay những
người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đ), buộc các nguyên đơn là các
ông, bà Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C, Nguyễn Xuân
B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M, Nguyễn Thị B
phải trả lại cho Trần Thị D những người thừa kế quyền nghĩa vụ t tụng
của ông Đỗ Ngọc Đ các ông, Trần Thị D, Đỗ Thị T, Đỗ Thị N, Đỗ Phúc T,
Đỗ Phúc N, Đỗ Tấn L, Đỗ Duy T, Đỗ Thị C số tiền chuộc ghe, chuộc tài công,
chi phí đi lại chuộc ghe tiền dầu tổng cộng 2.243.733.600 (hai t hai trăm
bốn mươi ba triệu bảy trăm ba mươi ba ngàn sáu trăm) đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu
người phải thi hành án không chịu trả s tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm tiền
14
lãi tính trên số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật dân s 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
4. Về án phí dân sự thẩm:
Các nguyên đơn Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C,
Nguyễn Xuân B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M,
Nguyễn Thị B phải nộp tổng số tiền 228.875.472 (hai trăm hai mươi tám triệu
tám trăm bảy mươi lăm ngàn bốn trăm bảy mươi hai) đồng án phí dân sự giá
ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 43.687.500 đồng,
gồm: 42.187.500 (bốn mươi hai triệu một trăm tám mươi bảy ngàn năm trăm)
đồng theo biên lai thu tiền số 024142 ngày 22-5-2014; 300.000 (ba trăm ngàn)
đồng theo biên lai thu tiền số 0008625 ngày 03-12-2021; 300.000 (ba trăm ngàn)
đồng theo biên lai thu tiền số 0008626 ngày 03-12-2021; 300.000 (ba trăm ngàn)
đồng theo biên lai thu tiền số 0008624 ngày 03-12-2021; 300.000 (ba trăm ngàn)
đồng theo biên lai thu tiền số 0008627 ngày 03-12-2021; 300.000 (ba trăm ngàn)
đồng theo biên lai thu tiền số 0008628 ngày 03-12-2021 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa-Vũng Tàu. c nguyên đơn tên nêu
trên còn phải nộp tiếp số tiền 185.187.972 (một trăm tám mươi lăm triệu một
trăm tám mươi bảy ngàn chín trăm bảy mươi hai) đồng án phí thẩm.
- Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Đỗ Ngọc Đ
các ông, TTrần Thị D, Đỗ Thị T, Đỗ Thị N, Đỗ Phúc T, Đỗ Phúc N, Đỗ
Tấn L, Đỗ Duy T, Đỗ Thị C phải nộp 39.000.000 (ba mươi chín triệu) đồng án
phí dân sự thẩm g ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 34.297.500 (ba mươi triệu, hai trăm chín mươi bảy ngàn năm trăm)
đồng theo biên lai thu tiền số 024148 ngày 27-5-2014 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa-Vũng Tàu, còn phải nộp tiếp số tiền
4.702.500 (bốn triệu bảy trăm lẻ hai ngàn năm trăm) đồng.
5. Án phí dân sự phúc thẩm:
Các nguyên đơn Nguyễn Xuân T, Trần Thị H, Nguyễn Xuân T1, Thị C,
Nguyễn Xuân B, Lâm Thị B, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Thị T, Trần Minh M,
Nguyễn Thị B phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc
thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu tiền số 0009039 ngày 16-9-2022 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa–Vũng Tàu.
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Trần Thị D, Đỗ
Thị T, Đỗ Thị N, Đỗ Phúc T, Đỗ Phúc N, Đỗ Tấn L không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho Đỗ Thị T 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu tiền số 0009037 ngày 12-9-2022 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa–Vũng Tàu.
Hoàn trả cho ông Đỗ Tấn L 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án p
đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009036 ngày 12-9-2022 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa–Vũng Tàu.
15
Hoàn trả cho ông Đỗ Phúc N 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009035 ngày 12-9-2022 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa–Vũng Tàu.
Hoàn trả cho ông Đỗ Phúc T 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009034 ngày 12-9-2022 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa–Vũng Tàu.
Hoàn trả cho Đỗ Thị N 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án p đã
nộp theo biên lai thu tiền số 0009033 ngày 12-9-2022 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Long Điền, tỉnh Rịa–Vũng Tàu.
6. Bn án dân s phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án (08-3-2023).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh BR-VT;
-
Sở pháp tỉnh BR-VT;
- TAND H. Long Điền, tỉnh BR-VT;
- VKSND H. Long Điền, tỉnh BR-VT;
-
Chi cục THADS H. Long Điền, tỉnh BR-VT;
- Các đương sự;
- Lưu: Tòa Dân sự, Hồ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Cao Minh Vỹ
Tải về
Bản án 26/2023/DS-PT Bà Rịa - Vũng Tàu Bản án 26/2023/DS-PT Bà Rịa - Vũng Tàu

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 26/2023/DS-PT Bà Rịa - Vũng Tàu Bản án 26/2023/DS-PT Bà Rịa - Vũng Tàu

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất