Bản án số 26/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai về ly hôn, không công nhận là vợ chồng và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 26/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 của TAND huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai về ly hôn, không công nhận là vợ chồng và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Chư Sê (TAND tỉnh Gia Lai)
Số hiệu: 26/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Sỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Siu Tơ Lul.
2. Bà Đỗ Thị Giang.
Thư phiên tòa: Thanh Hường, Thư Tòa án nhân dân huyện
Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Sê,
tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2019/TLST-HNngày
31/7/2019 về tranh chấp “Ly hôn (không công nhận vợ chồng) tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa ván ra xét xử số: 28/2019/QĐXX-ST
ngày 29 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích L, sinhm 1975; Địa chỉ: Tổ 14, thị trấn
C, huyn C, tỉnh Gia Lai (có mặt).
- Bị đơn: Anh Lý Quốc B, sinh năm 1973; Địa chỉ: T 14, thtrấn C, huyện Chư
Sê, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 7 năm 2019, lời khai trong quá trình
tham gia tố tụng tại tòa án và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị ch
L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L anh Lý Quốc B sau khi tìm hiểu thì được sự
đồng ý của hai bên gia đình đã tổ chức đám cưới tự nguyện về chung sống với
nhau từ năm 1992, nhưng không đi đăng kết hôn do không hiểu biết về pháp luật.
Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát
sinh mâu thuẫn do anh B có tính gia trưởng, vũ phu, không tôn trọng thương yêu vợ
con. Trong cuộc sống hàng ngày anh B thường uống rượu vô cớ về đánh đập chị tàn
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ SÊ
TỈNH GIA LAI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 26/2019/HNGĐ-ST
Ngày 10/10/2019
V/v Ly hôn (không công nhận vợ
chồng) và tranh chp về nuôi con
khi ly hôn
2
nhẫn, vì nghĩ cho các con nên chị cố gắng trong thời gian dài nhẫn nhịn để gia đình
êm ấm, con cái có cha có mẹ, chị và con đã góp ý để anh B bỏ tính vũ phu, bỏ việc
đánh chị để cuộc sống gia đình hòa thuận hơn, anh B đã hứa sẽ thay đổi nhung sau
đó vẫn chứng nào tật nấy thường xuyên vô cớ chửi bới uống rượu về đánh đập chị.
Từ tháng 7 năm 2019 cho đến nay, chị anh B không còn sống chung với nhau
nữa. Chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, không thể
duy trì cuộc sống vợ chồng và yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị L
anh B vợ chồng.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị L và anh B có 04 con chung
Thị Trúc Q, sinh năm 1993; cháu Thị Phương D, sinh năm 1995; cháu
Thiên B, sinh năm 1997; cháu Lý Vương T, sinh ngày 08/5/2002.
Hiện nay cháu Q, cháu D, cháu B đã thành niên tự lập được nên chị L không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Lý Vương T, sinh ngày 08/5/2002 chưa thành
niên nên chị nguyện vọng được nuôi cháu không yêu cầu Tòa án giải quyết
việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung vay nợ: Chị anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Theo lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại tòa án và lời khai tại phiên
tòa bị đơn anh Quốc B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh chị Nguyễn Thị Bích L sau thời gian tìm hiểu
về chung sống với nhau từ năm 1992 không đi đăng kết hôn theo quy định.
Anh và chị L cách cãi nhau, trước đây thỉnh thoảng anh đánh chị nhưng vì khi
đó anh nóng tính, không làm chủ được bản thân. 08 năm nay anh không đánh vợ
nữa. Anh nhận thấy anh vẫn còn nh cảm với chị L, anh không đồng ý yêu cầu khởi
kiện của chị L. Anh mong chị L quay về đoàn tụ nuôi dạy con cái.
Về con chung: Trong thời gian chung sống anh B và chị L có 04 con chung
Thị Trúc Q, sinh năm 1993; cháu Thị Phương D, sinh năm 1995; cháu
Thiên B, sinh năm 1997; cháu Lý Vương T, sinh ngày 08/5/2002.
Hiện nay cháu Q, cháu D, cháu B đã thành niên và tự lập được. Còn cháu Lý
Vương T, sinh ngày 08/5/2002 chưa thành niên, anh B nguyện vọng được nuôi
cháu T và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Anh B và chị L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm
tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định về vụ án như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
3
Ngày 30 tháng 7 năm 2019, chị Nguyễn Thị Bích L nộp đơn khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Quốc B. Cùng
với đơn khởi kiện chị L đã nộp kèm các tài liệu chứng cứ đchứng minh yêu cầu
khởi kiện của mình căn cứ, hợp pháp. Xét hình thức, nội dung đơn khởi kiện
của chị L đúng theo quy định; Chị L anh B đều nơi đăng hộ khẩu thường
trú tại t14, thtrấn C, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện C
Sê, tỉnh Gia Lai tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định
tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 ca Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Anh Quốc B đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia
phiên tòa nhưng vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng.
Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật
tố tụng dân sự Hội đồng xử xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là anh Lý Quốc B,
là đúng theo quy định của Pháp luật.
[2] Về hôn nhân:
Chị L anh B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992 đến nay nhưng
không đăng kết hôn. Mặc việc sống chung tự nguyện nhưng việc chung
sống không đăng ký kết hôn cuả anh chị đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn
nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 9 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do
quan nhà nước thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật
về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không
giá trị pháp . Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình quy định: Nam,
nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ
chồng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ
và chồng .
Do chị L và anh B chung sống với nhau từ năm 1992 đến nay, không đăng
kết hôn, quá trình chung sống cả hai không còn hòa hợp, hiện nay chị L và anh B
không còn sống chung với nhau; nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, không công nhận chị Nguyễn Thị Bích L và anh Quốc B vợ
chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con Chung:
Trong thời gian chung sống chị Nguyễn Thị Bích Lanh Quốc B 04
con chung cháu Thị Trúc Q, sinh năm 1993; cháu Thị Phương D, sinh năm
1995; cháu Lý Thiên B, sinh năm 1997; cháu Lý Vương T, sinh ngày 08/5/2002.
Các cháu Thị Trúc Q, sinh năm 1993; cháu Thị Phương D, sinh năm
1995; cháu Thiên B, sinh năm 1997 đã thành niên đã tự lập được nên anh B
chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Vương T, sinh ngày
08/5/2002, cả anh B và chị L đều có nguyện vọng nuôi cháu T.
Trong quá trình giải quyết vụ án cháu T lời khai thể hiện cháu nguyện
vọng ở với mẹ chị L.
4
Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo điều kiện sống ổn định phát triển
toàn diện của cháu T và phù hợp với nguyện vọng của cháu Thịnh, cần giao cháu
Vương T, sinh ngày 08/5/2002 cho chị Nguyễn Thị Bích L trực tiếp trông nom, chăm
sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T thành niên hoặc đã thành niên nhưng
bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài
sản để tự nuôi mình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con:
Nguyên đơn chị L và bị đơn là anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
nên min xét;
[5] V phn tài sn chung và n chung: Min xét;
[6] V án phí: Buc chị Nguyễn Thị Bích L phi chu án phí dân sự thẩm
về việc ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 227, khoản 3
Điều 228, Điều 266 và Điều 273 ca Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81,
Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vQuốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị Bích L và anh Lý
Quốc B là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao cháu Vương T, sinh ngày 08/5/2002 cho chị Nguyễn
Thị Bích L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu T
thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị n tật, mất năng lực hành vi dân sự, không
khảng lao động không có tài sn đtự nuôi mình. Anh B không có nghĩa v
cấpỡng nuôi con trong vụ án này.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom
con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây
ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người
trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người
đó.
5
Trong trường hợp yêu cầu của cha, mẹ hoặc nhân, tổ chức theo quy định
của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc
việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Bích L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn
đồng) án pdân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm
ngàn đồng) tạm ứng án phí thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002580 ngày
30/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án, bị đơn quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
-VKSND huyện Chư Sê;
- Chi cục THADS huyện Chư Sê;
- TAND tỉnh Gia Lai;
- Lưu HSVA, VT;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
Võ Tiến Sỹ
Tải về
Bản án số 26/2019/HNGĐ-ST Bản án số 26/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất