Bản án số 258/2024/DS-PT ngày 05/07/2024 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 258/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 258/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 258/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 258/2024/DS-PT ngày 05/07/2024 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 258/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | người đại diện của ông N và bà T thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông N1 tháo dỡ, di dời nhà và tài sản trả lại phần đất thuộc thửasố 74, tờ bản đồ 16 (Bản đồ địa chính 2009) có diện tích theo đo đạc thực tế là 30,3m2 tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cho ông N và bà T; đồng thời, rút lại đối với yêu cầu được nhận số tiền bồi thường 7.000.000 đồng do thu hồi đất mở rộng Quốc lộ A |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 258 /2024/DS-PT
Ngày 05 – 7 – 2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông
Nguyễn Văn Điện – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 135/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 6
năm 2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2024/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 138/2024/QĐ-PT ngày 17
tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Lê Quang N, sinh năm 1956;
2. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1960;
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị
T: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: Số A, N, khóm H, phường H,
thành phố C, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1966 (Có mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1960 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
2. Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1968 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường H, khóm G, phường G, thành phố C,
tỉnh Cà Mau.
3. Ông Nguyễn Văn N3 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
4. Ông Nguyễn Văn Q (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
5. Bà Dương Thị H, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.
6. Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số G, N, khóm A, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của ông Lê Quang N, bà Đỗ Thị T và trong quá trình
giải quyết vụ án ông Ngô Văn Đ trình bày:
Vợ chồng ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T có một phần đất thổ cư diện tích
24m
2
tại thửa số 1107, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp C, xã Đ, thành phố C theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 07852/QSDĐ do Uỷ ban nhân dân (UBND) thị
xã C (nay là thành phố C) cấp ngày 20/8/1996 đứng tên Lê Quang N. Năm 2000,
ông N và bà T cho bà Nguyễn Thị T2 (mẹ ông N1) mượn phần đất diện tích 24m
2
nêu trên để bà T2 cất nhà ở tạm, thời gian mượn 05 năm. Đến khoảng năm 2002,
Nhà nước thu hồi một phần diện tích để mở rộng Quốc lộ A, khi Nhà nước bồi
thường tiền thu hồi đất thì bà T2 đòi nhận số tiền bồi thường khoảng 7.000.000
đồng. Do có tranh chấp nên UBND thành phố C đã gửi số tiền bồi thường vào Kho
bạc Nhà nước để chờ giải quyết.
Quá trình giải quyết tranh chấp, UBND thành phố C ban hành Quyết định số
559/QĐ-UB ngày 03/7/2003 về việc giải quyết tranh chấp đất giữa ông N với bà
Nguyễn Thị Thới . Theo Quyết định số 559 đã bác đơn yêu cầu của ông N, tạm
giao phần đất trên cho bà T2 quản lý, sử dụng. Ông N khiếu nại Quyết định số
559/QĐ-UB ngày 03/7/2003; đến ngày 14/7/2005 UBND thành phố C ban hành
Quyết định số 14/QĐ-UB thu hồi Quyết định số 559 nêu trên do giải quyết không
đúng thẩm quyền.
Đến năm 2018 bà T2 chết, phần đất do ông Nguyễn Văn N1 là con bà T2
quản lý sử dụng. Do đó, ông N và bà T khởi kiện yêu cầu ông N1 tháo dỡ, di dời
nhà và tài sản trả lại phần đất diện tích 24m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C,
tỉnh Cà Mau co ông N và bà T; đồng thời yêu cầu được nhận số tiền 7.000.000
đồng bồi thường thu hồi đất mở rộng Quốc lộ A hiện đang được gửi tại Kho bạc
tỉnh C.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của ông N và bà T thay đổi yêu cầu
khởi kiện, yêu cầu ông N1 tháo dỡ, di dời nhà và tài sản trả lại phần đất thuộc thửa
số 74, tờ bản đồ 16 (Bản đồ địa chính 2009) có diện tích theo đo đạc thực tế là
30,3m
2
tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau cho ông N và bà T; đồng
thời, rút lại đối với yêu cầu được nhận số tiền bồi thường 7.000.000 đồng do thu
hồi đất mở rộng Quốc lộ A.
- Theo ông Nguyễn Văn N1 trình bày:
Phần đất hiện đang tranh chấp có nguồn gốc từ bà ngoại của ông N1 tên
Phạm Thị T3 (đã chết) cho lại mẹ ông là bà Nguyễn Thị T2 (đã chết năm 2018). Bà
T2 có 05 người con gồm Nguyễn Thị T1, Nguyễn Văn N2, Nguyễn Văn N1,
Nguyễn Văn N3, Nguyễn Văn Q và Dương Thị H. Do phần đất này là đất bảo lưu
ven sông nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà T2 đã cất
nhà ở, sinh sống ổn định trên phần đất hơn 50 năm nay. Quá trình sử dụng đất ông
không nghe bà Thới n gì về việc mượn đất của ông N và cũng không biết việc bà
T2 có viết giấy mượn đất như ông N trình bày. Ông N1 không đồng ý đối với yêu
cầu khởi kiện của ông N và bà T.
- Theo bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn N2, bà Dương Thị H trình bày:
Bà T1, ông N2, bà H thống nhất với ý kiến trình bày của ông N1.
- Theo đại diện của Ủy ban nhân dân thành phố C trình bày:
Qua rà soát hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) của ông
Lê Quang N thì thời điểm năm 1996, Hội đồng đã tổ chức xét cấp giấy chứng nhận
QSDĐ và đã được UBND thị xã C duyệt cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho 1.125 hộ
gia đình, cá nhân trên địa bàn xã Đ, trong đó có hộ ông Lê Quang N. Vào thời
điểm năm 1996, trên cơ sở người đề nghị cấp giấy tự kê khai diện tích cấp và cam
kết nguồn gốc đất không tranh chấp với ai thì UBND xã lập danh sách, sau khi qua
Hội đồng xét thì trình UBND thị xã C xem xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo
danh sách đề nghị. Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ thực hiện qua bản đồ không
ảnh (Bản đồ 229), không đo đạc thực tế. Do đó, để giải quyết tranh chấp giữa các
bên, đề nghị Tòa án căn cứ vào những tài liệu do cơ quan chuyên môn cung cấp và
dựa vào tình hình thực tế để giải quyết vụ án. Tuy nhiên, ở thời điểm này nếu là đất
bảo lưu ven sông sẽ không được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2024/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa
án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T về
việc yêu cầu ông Nguyễn Văn N1 tháo dỡ, di dời nhà và tài sản để trả lại phần đất
có kích thước theo đo đạc thực tế tại Bản vẽ hiện trạng ngày 17/01/2023 của Trung
tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C, thuộc
thửa số 74, tờ bản đồ 16 (Bản đồ năm 2009) với diện tích là 30,3m
2
tọa lạc ấp C,
xã Đ, thành phố C.
Đình chỉ đối với yêu cầu của Lê Quang N, bà Đỗ Thị T về việc yêu cầu được
nhận số tiền bồi thường do thu hồi đất mở rộng Quốc lộ A là 7.000.000 đồng.
Chi phí tố tụng: Ông Lê Quang N, bà Đỗ Thị T phải chịu chi phí đo đạc
3.228.000 đồng và thẩm định giá 4.840.000 đồng
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 06/5/2024, ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T có đơn kháng cáo, yêu
cầu sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Nguyễn Văn N1 trả lại cho ông N và bà T diện
tích đất theo đo đạc 30,3m
2
tọa lạc ấp C, xã Đ, thành phố C và số tiền đo đạc
3.228.000 đồng, tiền thẩm định giá 4.840.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị
T giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông Đ phát biểu: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tranh tụng tại
phiên toà, có cơ sở chứng minh ông N cho bà T2 mượn đất, cụ thể: Ông N1 thừa
nhận từ trước đến nay chỉ ở tại vị trí phần đất hiện nay tranh chấp; trước đây bà T2
bỏ đi khỏi địa phương một thời gian, sau đó trở về không có chỗ ở nên ở nhờ nhà
bà T4 là cháu bà T2, ở một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn nên không ở nữa, nên
ông N cho bà T2 mượn đất để cất nhà ở, bà T2 có ký tên giấy mượn đất. Trước đó,
bà T2 có đất nhưng đã sang nhượng cho người khác. Năm 2002, Nhà nước chi trả
tiền bồi thường thu hồi đất, bà T2 đòi nhận, ông N không đồng ý nên phát sinh
tranh chấp. Ngày 03/7/2003, UBND thành phố C ban hành Quyết định số 559/QĐ-
UB giải quyết tranh chấp, bác yêu cầu của ông N, tạm giao phần đất cho bà T2
quản lý sử dụng; đến ngày 14/7/2005, UBND thành phố C ban hành Quyết định số
14/QĐ-UB, thu hồi, huỷ bỏ Quyết định số 559. Phần đất tranh chấp do ông N đứng
tên Giấy chứng nhận QSDĐ. Từ những căn cứ trên, yêu cầu Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của ông N và bà T, sửa bản án sơ thẩm, buộc ông N1 trả lại đất và
chi phí tố tụng cho ông N và bà T.
Ông N1 không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị
T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Theo đo đạc thực tế phần đất tranh chấp có diện tích là 30,3m
2
, thuộc
thửa số 74, tờ bản đồ 16 (Bản đồ địa chính 2009), tọa lạc tại ấp C, xã Đ, thành phố
C.
[1.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Ông N và bà T cho rằng phần đất tranh
chấp có nguồn gốc từ cha ông Nguyện là ông Lê Hữu H1 tặng cho vợ chồng ông N
và bà T, đến năm 1996 được UBND thị xã C (nay là thành phố C) cấp giấy chứng
nhận QSDĐ thuộc thửa số 1107, tờ bản đồ 01 có diện tích 24m
2
tọa lạc ấp C, xã Đ,
thành phố C do ông N đứng tên Giấy chứng nhận QSDĐ. Vào năm 2000, ông N
cho bà T2 (là mẹ ông Nguyễn Văn N1) mượn cất nhà ở, có viết giấy cho mượn đất,
có bà T2 ký tên và có sự chứng kiến của ông Hà Công Q1 (đã chết). Ông N1 cho
rằng nguồn gốc đất là của bà ngoại ông N1 (tên Phạm Thị T3) tặng cho lại mẹ ông
N1 (tên Nguyễn Thị T2). Đến năm 2018 bà T2 chết, ông N1 quản lý, sử dụng đất
cho đến nay. Do là đất bảo lưu ven sông nên chưa được cấp giấy chứng nhận
QSDĐ, gia đình ông đã ở trên phần đất hơn 50 năm nay, ông N chưa từng ở trên
đất. Ông N1 xác định bà T2 không biết chữ nên việc ông N và bà T cho rằng bà T2
có ký tên vào tờ mượn đất là không đúng, ông cũng chưa từng nghe bà T2 nói về
việc mượn đất của ông N và bà T.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, ông N và bà T có cung cấp Giấy mượn đất
thổ cư đề ngày 10/02/2000. Tại phiên toà, ông Đ là người đại diện của ông N và bà
T xác định do bà T2 không biết chữ nên tờ giấy mượn đất là do ông N viết cho bà
T2 ký tên có sự chứng kiến của ông Hà Công Q1, có xác nhận của T5 ấp là ông
Trịnh C. Phía ông N1 không thừa nhận Giấy mượn đất do ông N và bà T cung cấp,
cho rằng bà T2 không biết chữ. Hiện ông Hà Công Q1 đã chết, Tòa án cấp sơ thẩm
tiến hành xác minh làm việc với ông Trịnh C (Trịnh Minh C1) thì ông C1 xác định
việc ông xác nhận vào giấy mượn đất là sau ngày viết giấy mượn đất, ông không
trực tiếp chứng kiến việc thỏa thuận mượn đất giữa các bên, theo sự hiểu biết của
ông thì bà T2 không biết chữ. Theo sự trình bày của những người hiểu biết sự việc
đều xác định bà T2 không biết chữ, hiện bà T2 đã chết, người đại diện của ông N
và bà T cũng không yêu cầu giám định chữ ký của bà T2 trong giấy mượn đất. Tại
các tài liệu thu thập có trong hồ sơ giải quyết tranh chấp của UBND thành phố C
thể hiện bà T2 không thừa nhận có ký tên vào giấy mượn đất. Do đó, chưa có cơ sở
xác định bà T2 có ký tên vào giấy mượn đất trên như phía nguyên đơn trình bày.
[1.3] Tại Biên bản họp dân ngày 07/12/2002, những người tham dự họp xác
định nguồn gốc đất là của bà C2 (mẹ bà T2), bà C2 và bà T2 cùng ở trên phần đất
này. Đến khi bà C2 chết, bà T2 vẫn ở trên đất; do hoàn cảnh khó khăn bà T2 bỏ đi
làm ăn, đến khoảng năm 2000 bà T2 trở về cất nhà ở thì phát sinh tranh chấp với
ông N. Quan điểm của những người dân dự họp thì phần đất tranh chấp giải quyết
cho bà T2 là đúng.
[1.4] Tại Báo cáo xác minh số 15/BC-XC ngày 25/4/2003 của Tổ Công tác
số 02 UBND thành phố C xác định: Đất do bà C2 tự chiếm năm 1963 cất nhà ở,
đến năm 1980 chết để lại cho bà T2 quản lý. Do hoàn cảnh nghèo, bà T2 xuống
Năm C3 làm mướn, gửi lại đất cho bà con lối xóm trông coi. Đến năm 2000 bà T2
quay lại đất thì ông N ngăn cản cho là đất của ông N được cấp Giấy chứng nhận
QSDĐ và buộc bà T2 viết giấy mượn đất.
[1.5] Hơn nữa, từ năm 2002 giữa ông N và bà T2 đã có phát sinh tranh chấp,
ông N yêu cầu bà T2 trả lại đất. UBND thành phố C đã ban hành Quyết định giải
quyết tranh chấp số 559/QĐ-UB ngày 03/7/2003, bác yêu cầu của ông N, tạm giao
phần đất bảo lưu ven sông ngang 4,2m, dài giáp Quốc lộ A xuống sông K - Bạc
Liêu cho hộ bà T2 quản lý. Đến ngày 14/7/2005, UBND thành phố C ban hành
Quyết định số 14/QĐ-UB thu hồi quyết định số 559, do vụ việc tranh chấp thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án. Từ sau năm 2005 đến trước khi bà T2 chết (năm
2018) ông N cũng không tiếp tục yêu cầu tranh chấp với bà T2, sau khi bà T2 chết
đến năm 2022 ông N và bà T mới khởi kiện ông N1 đòi trả lại đất.
[1.6] Mặt khác, theo Giấy mượn đất thổ cư ngày 10/02/2000 do ông N và bà
T cung cấp, có nội dung: Bà Thới mượn của ông N phần đất 4m20, thời gian 05
năm để tìm chỗ ở; nếu chưa có thì bà T2 sẽ hỏi ông N gia hạn thêm (giấy mượn đất
cũng không thể hiện cụ thể vị trí của phần đất). Tuy nhiên, hết thời hạn 05, cũng
không có việc thoả thuận gia hạn giữa ông N và bà T2, bà T2 vẫn tiếp tục ở trên
đất nhưng ông N cũng không có ý kiến gì, trong khi đã có phát sinh tranh chấp từ
năm 2002.
[1.7] Theo Bản vẽ hiện trạng đất tranh chấp thì phần đất tranh chấp thuộc
thửa số 74, tờ bản đồ 16 tọa lạc ấp C, xã Đ, thành phố C có diện tích là 30,3m
2
. Tại
phiên tòa, đại diện nguyên đơn xác định thửa số 74, tờ bản đồ số 16 (theo bản đồ
chỉnh lý 2009) chính là thửa số 1107, tờ bản đồ 01 mà nguyên đơn đã được UBND
thị xã C cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại Giấy chứng nhận số 07852/QSDĐ đứng
tên Lê Quang N. Trình bày cho vấn đề này, đại diện nguyên đơn cho rằng do ông
N, bà T với bà T2 từ năm 2000 phát sinh tranh chấp đến nay chỉ tranh chấp liên
quan đến phần đất này và tại Quyết định số 559/QĐ-UB ngày 03/7/2003 về việc
giải quyết tranh chấp đất giữa ông N với bà Nguyễn Thị T2 đã xác định thửa đất
tranh chấp là thửa 1107 thuộc đất bảo lưu ven sông trong giấy chứng nhận QSDĐ
số 07852/QSDĐ cấp ngày 20/8/1996 theo Quyết định 381/QĐ-UB ngày 16/3/1996
cho ông Lê Quang N. Ngoài lời trình bày, phía nguyên đơn không cung cấp được
tài liệu, chứng cứ chứng minh thửa số 1107, tờ bản đồ 01 theo giấy chứng nhận
QSDĐ của ông N là thửa đất tranh chấp số 74, tở bản đồ 16 (bản đồ năm 2009).
[1.8] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có văn bản gửi đến cơ
quan chuyên môn để yêu cầu cung cấp thông tin thửa đất số 1107, tờ bản đồ 01 đã
được UBND thị xã C cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông N vào ngày 20/8/1996
theo Bản đồ chỉnh lý năm 2009 có phải là thửa số 74, tờ bản đồ 16 đang tranh chấp
hay không. Tại Công văn số 230/CV-TTKTCNQT-TVDV ngày 24/5/2023 của
Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh C phúc
đáp yêu cầu Tòa án sao lục bản đồ thửa đất qua các thời kỳ để phục vụ giải quyết
tranh chấp. Qua xem xét thửa đất số 74, tờ bản đồ 16 (bản đồ năm 2009) thì theo
bản đồ cũ thành lập năm 1998 là thửa số 73, tờ bản đồ 10 đứng tên Nguyễn Thanh
T6. Đồng thời, tại Công văn số 1198/CNVPĐKĐĐ ngày 15/12/2023 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C phúc đáp yêu cầu cung cấp thông
tin của Tòa án đối với thửa đất tranh chấp xác định “thửa đất số 74, tờ bản đồ 16
thành lập năm 2009 tọa lạc ấp C, xã Đ, thành phố C do Nguyễn Thanh T6 đứng
tên đăng ký mục kê, chưa chỉnh lý biến động, chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất”.
[2] Từ những nhận định trên, xét thấy không có cơ sở để xác định phần đất
tranh chấp là của ông N và bà T cho bà Thới mượn, Toà án cấp sơ thẩm không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N và bà T là có căn cứ. Do đó, cấp phúc thẩm
không chấp nhận kháng cáo ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T, giữ nguyên bản án
sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia
phiên toà là phù hợp.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T được miễn
chịu án phí (được miễn dự nộp).
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số:77/2024/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm
2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T
về việc yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn N1 tháo dỡ, di dời nhà và tài sản để trả lại
diện tích đất theo đo đạc thực tế 30,3m
2
, thuộc thửa số 74, tờ bản đồ 16 (Bản đồ
năm 2009), tọa lạc ấp C, xã Đ, thành phố C.
(Kèm theo Bản vẽ hiện trạng ngày 17/01/2023 của Trung tâm kỹ thuật -
Công nghệ - Quan trắc - Tài nguyên và Môi trường tỉnh C).
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Lê Quang N và bà Đỗ Thị T về việc
yêu cầu được nhận số tiền 7.000.000 đồng, tiền bồi thường do thu hồi đất mở rộng
Quốc lộ A.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T phải chịu chi phí đo
đạc 3.228.000 đồng và chi phí thẩm định giá 4.840.000 đồng (đã nộp xong).
- Án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Ông Lê Quang N và bà Đỗ Thị T được
miễn chịu án phí (đã được miễn dự nộp).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
- Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 18/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm