Bản án số 25/2023/HNGĐ-ST ngày 23/03/2023 của TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 25/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 25/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 25/2023/HNGĐ-ST ngày 23/03/2023 của TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Châu Thành A (TAND tỉnh Hậu Giang) |
| Số hiệu: | 25/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/03/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ly hôn Nguyễn Thị N - Nguyễn Thanh T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

Trang 1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Hải Vân.
2. Ông Nguyễn Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham
gia phiên tòa: Bà Phạm Linh Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,
tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý
số: 440/2022/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh
chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐST-HN
ngày 09 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/QĐST-
HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1983,
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1983,
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Chị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện , các biên bản trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên
đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE
Bản án số:25/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23/3/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
Trang 2
Về hôn nhân: Chị N và anh Nguyễn Thanh T kết hôn vào năm 2016, hôn nhân
do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C,
tỉnh Bến Tre vào ngày 07/9/2016. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh
phúc thời gian đầu. Tuy nhiên, sau đó giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, anh T thường hay cờ bạc, tụ tập với bạn
bè, không chăm lo cho gia đình, có lần chị N phải một mình nuôi con do anh T bỏ
công việc, đổi chỗ làm vì cờ bạc, chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh T cứ hứa
mà không sửa đổi khiến chị rất mệt mỏi. Chị N đã sống ly thân với anh T. Chị N
xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn với anh T. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị khi ly hôn.
Về con chung: Chị N yêu cầu nhận nuôi 02 con chung là Nguyễn T T, sinh
ngày 23/7/2017 và Nguyễn Trọng N, sinh ngày 02/01/2020 và yêu cầu anh T cấp
dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000đồng cho mỗi con chung cho đến khi mỗi
con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, chị N có thay đổi yêu cầu khởi kiện về vấn
đề con chung như sau:
Tại bản tường trình đề ngày 07/02/2023 của chị Nguyễn Thị N, chị N yêu cầu
được nuôi con chung là Nguyễn T T, sinh ngày 23/7/2017 và không yêu cầu anh T
cấp dưỡng nuôi con; chị đồng ý để cho anh T được nuôi con Nguyễn Trọng T, sinh
ngày 02/01/2020 và chị cũng không cấp dưỡng nuôi con.
Theo nội dung bản tự khai , các biên bản trong quá trình làm việc tại Tòa án,
bị đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Anh T thống nhất với lời trình bày của chị N về quá trình kết
hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn
là do lỗi của anh, anh cờ bạc với bạn bè nên phải thường xuyên thay đổi công việc,
không làm tròn trách nhiệm làm chồng và làm cha; mấy tháng nay sống một mình
anh cũng rất hối hận và anh vẫn phụ tiền để lo cho con hàng tháng. Anh xác định
vẫn còn rất thương vợ con nên anh tha thiết chị N cho anh cơ hội sửa đổi để cùng lo
cho con. Anh T không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Nếu trường hợp Tòa án buộc ly hôn thì anh yêu cầu được nhận
nuôi con chung là Nguyễn Trọng T, sinh ngày 02/01/2020. Anh đồng ý để chị N
được nuôi con Nguyễn T T, sinh ngày 23/7/2017. Hai bên không phải cấp dưỡng
nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trang 3
Tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành
phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật.
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại
các điều 70, 71; bị đơn thực hiện chưa đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo
quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Chị
N được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T. Ghi nhận chị N không yêu cầu cấp dưỡng
giữa vợ chồng khi ly hôn. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn T T, sinh
ngày 23/7/2017 và Nguyễn Trọng T, sinh ngày 02/01/2020. Khi ly hôn, chị N được
nuôi cháu Nguyễn T T và anh T được nuôi cháu Nguyễn Trọng T. Hai bên không
phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, về nợ chung: Hai bên khai không có,
không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn
Thanh T là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung; bị đơn anh Nguyễn
Thanh T có địa chỉ nơi cư trú tại 321, ấp Phú Xuân, xã Phú Túc, huyện Châu
Thành, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre là phù hợp với quy định tại các điều 28, 35 và 39
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Thanh T vẫn vắng
mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; chị N có
đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, vì vậy căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2
Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt anh T và chị N.
[2] Về hôn nhân: Chị N và anh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào ngày 07/9/2016,
nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp.
Chị N xác định sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian
đầu nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi
nhau, anh T hay cờ bạc, tụ tập, không chăm lo cho gia đình, chị đã nhiều lần
khuyên can nhưng anh T không sửa đổi khiến chị rất mệt mỏi. Chị N đã sống ly
thân với anh T. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với
anh T. Quá trình Tòa án mở phiên hòa giải, anh T cũng thừa nhận vợ chồng xảy ra
Trang 4
mâu thuẫn là do lỗi của anh, anh cờ bạc với bạn bè, thường xuyên thay đổi công
việc, không làm tròn trách nhiệm làm chồng, làm cha. Nay chị N yêu cầu ly hôn,
anh T không đồng ý ly hôn vì anh xác định còn rất thương vợ con, mong muốn chị
N cho anh cơ hội sửa đổi. Tuy nhiên, tại Bản tường trình đề ngày 07/02/2023 của
chị N, chị trình bày trong khoảng thời gian 03 tháng sau khi hòa giải tại Tòa, anh T
vẫn không thay đổi. Chị N kiên quyết ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng
phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau trong
cuộc sống, nhưng anh T lại thường xuyên cờ bạc, tụ tập với bạn bè, không lo cho
vợ con, mặc dù chị N đã nhiều lần khuyên can và cho anh T cơ hội sửa đổi nhưng
anh vẫn không thay đổi. Hơn nữa hiện tại chị N và anh T đã sống ly thân, không
còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay chị N xác định đã không còn tình cảm với anh
T, đời sống hôn nhân khiến chị cảm thấy mệt mỏi, chị kiên quyết ly hôn. Xét thấy
tại phiên toà anh T vắng mặt không lý do. Điều đó cho thấy anh T không có thiện
chí và biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa
chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích
hôn nhân không đạt được, nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn
cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N. Ghi nhận việc chị N không yêu cầu cấp dưỡng
giữa vợ chồng khi ly hôn.
[3] Về con chung: Chị N và anh T có 02 con chung là Nguyễn Trọng T, sinh
ngày 02/01/2020 và Nguyễn T T, sinh ngày 23/7/2017. Trước đây, tại đơn khởi
kiện, chị N yêu cầu được nuôi 02 con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con
mỗi tháng 1.000.000đồng cho mỗi con. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án,
chị N thay đổi yêu cầu khởi kiện về vấn đề con chung, cụ thể chị yêu cầu được nuôi
con chung Nguyễn T T và chị đồng ý để cho anh T được nuôi cháu Nguyễn Trọng
T, hai bên không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi yêu
cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được chấp
nhận. Quá trình giải quyết tại Tòa, anh T cũng trình bày yêu cầu được nhận nuôi
con là Nguyễn Trọng T, anh đồng ý để chị N được nuôi cháu Nguyễn T T và hai
bên không cấp dưỡng nuôi con. Đây là ý chí tự nguyện của chị N và anh T thể hiện
sự thống nhất của anh chị về việc xác định người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn,
do đó căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình xét
thấy cần công nhận sự thỏa thuận của chị N và anh T, vì vậy Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của chị N.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh T khai không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên không xét đến.
Trang 5
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ
thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh
Bến Tre tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp
nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T. Ghi
nhận chị N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
2. Về con chung: Khi ly hôn, chị N sẽ là người trực tiếp nuôi con chung sinh
ngày 23/7/2017, anh Nguyễn Thanh T sẽ là người trực tiếp nuôi con chung tên
Nguyễn Trọng T sinh ngày 02/01/2020. Ghi nhận chị N và anh T không yêu cầu
cấp dưỡng nuôi con.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung mà không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp người không trực tiếp nuôi
con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông
nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người đang trực tiếp nuôi con có
quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi
con.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo
quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa
án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi
con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh T khai không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên không xét đến.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ
thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí chị N đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí,
Trang 6
lệ phí Tòa án số 0010471 ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
C, tỉnh Bến Tre. Chị N đã nộp đủ án phí.
Chị N, anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15
(Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ
theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bến Tre;
- Các đương sự;
- VKSND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành, tỉnh Bến
Tre;
- UBND xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh
Bến Tre;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Ánh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 17/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 09/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm