Bản án số 248/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 248/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 248/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 248/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hồng, ông Phạm Cao Gia
- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Hoa – Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Trương Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số: 444/2025/TLPT- DS ngày
13 tháng 11 năm 2025 về việc Tranh chấp quyền sdụng đất”. Do bản án dân sự
thẩm số: 11/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Toà án nhân dân dân khu vực 7 -
Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:
21/2026/QĐ-PT ngày ngày 06 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên C2. Địa chỉ: Thôn
A, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Q Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo văn bản ủy quyền ngày 29/7/2025:
Ông Trần Đức Á, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lắk. (đều có mặt
tại phiên tòa)
- Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn D, E, tỉnh Đắk
Lắk. (có mặt tại phiên tòa)
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm 1979.
Địa chỉ Thôn D, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
+ Ông Phạm Đình N, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Có
đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Huy V, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn B, E, tỉnh Đắk Lắk.
Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
+ Ông Cao Trung K, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Ông
K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 248/2026/DS-PT
Ngày 23 4 2026.
V/v: Tranh chấp quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên
C2, bị đơn ông Trần Văn D đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết tại phiên tòa đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn ông Trần Đức Á trình bày:
Ngày 08/02/1999, Chủ tịch UBND tỉnh Đ cấp quyền sử dụng đất cho Nông
trường cà phê 715A được quyền sử dụng 13.701.236m
2
đất tại xã E, huyện M’Đrắk.
Đến năm 2010, thay đổi xắp xếp lại cơ cấu Nông trường, Nông trường cà phê 715A
chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV C2 (viết tắt Công ty). Ủy ban nhân dân
tỉnh Đ ban hành quyết định s2123/QĐ-UBND ngày 19/8/2011 về việc cho Công
ty thuê 9.511.289m
2
đất, giao 6.020m
2
đất tại E huyện M’Đrăk để sử dụng vào
mục đích nông nghiệp, thủy lợi, đất sản xuất, kinh doanh và đất cơ sở T2. Đồng thời
UBND tỉnh cùng với Công ty hợp đồng thuê đất ngày 10/4/2012 đối với diện tích
đất nêu trên.
Năm 2012, Công ty C3, cho phá bỏ cây cà phê chè già cỗi, không hiệu quả để
cải tạo lại đất trồng cây phê mới đối với một số tại đội 2, thôn A E (Nay
thuộc đơn vị đội 1 và thôn B mới). Trong thời gian cải tạo đất, công ty giao đất về
cho đội trưởng các đội quản lý và cho người dân mượn (có thu tiền thuế đất và tiền
Quản phí với giá 5.000.000 đồng-7.000.000 đồng/ha/năm để chi trả cho hoạt động
quản trên diện tích đất thuê khoán tùy vào vị trí đất chất đất, thời hạn cho mượn
đất 1-2 năm) để trồng cây ngắn ngày. Trước khi cho mượn đất, Công ty đã tiến hành
cày đất 01 lần đang để trống. Đội trưởng cho mượn đất trách nhiệm thu phí cho
mượn đất về nộp lại cho Công ty.
Năm 2013, ông V (đội trưởng đội 2) cho ông D mượn diện tích đất tranh chấp
hiện nay (1,23 ha tại thửa đất 171 và 173 tờ bản đồ số DC08), không lập thành văn
bản mà chỉ bằng lời nói. Trong thời gian ông D sử dụng đất thì ông D không đóng
bất kì khoản chi phí nào cho Công ty.
Năm 2016, Công ty đi khảo sát đồng ruộng để chuẩn bị trồng mới thì phát
hiện gia đình ông D và ông Phạm Đình N tự ý trồng cây Macca trên đất của Công ty
(ông D ông N trồng cây macca khoảng năm 2014). Từ năm 2016 đến nay Công
ty đã trực tiếp yêu cầu ông D phải trả lại đất nhưng ông D không chấp hành. Do đó,
Công ty phải yêu cầu UBND E giải quyết nhổ bỏ cây macc trồng không đúng quy
hoạch, trả lại diện tích đất chiếm dụng cho Công ty. Quá trình làm việc ông D không
hợp tác mà còn dựng trụ bê tông và rào kẽm gai xung quanh diện tích đất đã chiếm
dụng.
Công ty đề nghị Toà án giải quyết buộc ông Trần Văn D phải phá bỏ toàn bộ
cây trồng và tài sản trên đất, trả lại hiện trạng diện tích 12.081,9m
2
. Công ty rút mt
phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 918,1m
2
chênh lệch so với đơn khởi kiện.
Ngoài ra, Công ty yêu cầu ông D bồi thường cho Công ty số tiền 136.536.527đồng
3
tạm tính đến ngày 22/05/2025, tương đương số tiền mà công ty bị thiệt hại do việc
chiếm dụng đất trái phép trên phần đất tranh chấp gồm: Tiền thuế từ năm 2013 đến
ngày 22/5/2025 mà C đã nộp cho Nhà nước 16.781.764 đồng; Số tiền tương đương
với tiền quản pcông ty phải chi trả trên diện tích đất tranh chấp từ năm 2013
tạm tính đến ngày 22/5/2025 119.754.763 đồng phải tiếp tục tính các khoản
tiền phát sinh cho đến khi Công ty nhận lại đất.
Nguyn Th T là v ca ông D, cùng s dụng đất hưởng lợi trên đất vi
ông D nên yêu cu T phi trách nhim liên đi thc hiện các nghĩa vụ trên
cùng vi ông D. Do v chng ông D s dụng đất không được s đồng ý ca công ty,
đã được hưởng li trên phần đất chiếm dng trái phép t năm 2013 đến nay nên
Công ty không chp nhn bồi thường công trình, cây trng trên diện tích đất cho v
chng ông D.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Văn D trình bày:
Nguồn gốc thửa đất tranh chấp là của Nông trường cà phê 715A, đã được Ủy
ban nhân dân tỉnh Đ đã trả về địa phương, tờ bản đồ 116 này hiện đang được lưu giữ
tại Ủy ban nhân dân xã E, tờ bản đồ này không đề ngày tháng cấp nhưng có chữ ký
của Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đ. Năm 2011, ông D được ông Cao
Trung K (trưởng phòng tài chính kế hoch ng ty), tha lnh ca Công ty C2 xung
giao và ch đất cho ông D s dng. Việc giao đất không có văn bản mà ch bng li
nói.
Sau khi nhận đất, gia đình ông D trng mt v mì. Tháng 10/2011, gia đình
ông D trng cây macca trồng xen cây hàng năm như ngô, mỳ, đậu… trên đất t
khi trồng macca cho đến nay, không đ trống đất. Năm 2013, ông D làm hàng rào
thép gai, khoảng năm 2015-2016, ông D khoan giếng để phục vụ tưới tiêu. Việc ông
D sử dụng đất trồng cây, đào giếng không báo với Công ty cũng như chính quyền
địa phương, do đất của ông D nên ông D không phải báo cáo, xin phép ai. Đến
khoảng năm 2018, Công ty C2 mi mi ông D đến làm việc đề ngh ông D tr li
đất cho Công ty C2. Ông D chưa đăng cấp GCNQSDĐ đối vi thửa đất tranh
chp. Ông D sử dụng đất đúng quy định, tài sản trên đất của ông D nên không
chấp nhận di dời nhổ bỏ.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyn Th T: Tòa án sơ thẩm
đã giao văn bn t tng cho T thông qua ông D nhưng T không nộp văn bản
trình bày, không đến tòa án làm vic.
Tại Bản án dân sự thẩm số 11/2025/DS - ST ngày 22/8/2025 của Toà
án nhân khu vực 7 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ khoản 2 3 Điều 6; khoản 10 Điều 12, Điều 166, khoản 1, 3 5
điều 170, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ khoản 1 khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTV- QH14 ngày 30/12/2016.
4
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc bị đơn ông Trần Văn D người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Nguyn Th T phải trả cho nguyên dơn Công ty TNHH MTV C2 (viết tắt Công
ty) diện tích đất 12.081,9m
2
tại thửa đất 171 và 173 tờ bản đồ số DC08 được UBND
tỉnh Đ cấp GCNQSD đất số BE 925915 số vào sổ CT 00968 ngày cấp 05/01/2013.
Vị trí (kèm theo sơ đồ, ta độ đo đạc hiện trạng).
- Buộc bị đơn ông Trần Văn D người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị T phải nhổ bỏ và di dời toàn bộ cây trồng trên đất gồm 336 cây macca
giai đoạn kinh doanh chăm sóc từ năm thứ 10 đến năm thứ 14; 32 cây mac ca mới
trồng năm 2025; 120 trụ bê tông cao 02m và hàng rào thép gai dựng nào năm 2014
để trả lại đất cho Công ty.
- Buộc ông D và bà T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Công ty T3
88.796.497đồng (T1 mươi tám triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn bốn trăm chín
mươi bảy đồng) tạm tính đến ngày 22/5/2025. Trong đó tiền thuế đất 16.781.764
đồng, tiền chi phí quản lý 72.014.733đồng.
Ngoài ra ông D và bà T trả tiền thuế đất và chi phí quản từ ngày 23/5/2025
cho đến khi ông D bà T trả lại đất cho Công ty.
2. Buộc Công ty phải có nghĩa vụ trả cho ông D và bà T một phần giá trị cây
macca đã cho thu hoạch 70.740.000đồng (Bảy mươi triệu bảy trăm bốn mươi
nghìn đồng).
Số tiền nguyên đơn được chấp nhập 88.796.497đồng sẽ khấu trừ vào số tiền
nguyên đơn phải trả cho bị đơn 70.740.000đồng. Như vậy bị đơn còn phải trả cho
nguyên đơn 18.056.497đồng (Mười tám triệu không trăm năm mươi sáu nghìn bốn
trăm chín mươi by đồng).
3. Bác mt phn yêu cu khi kin của nguyên đơn về yêu cu buc b đơn
phi tr chi phí quản lý tư năm 2013 đến năm 2015 là 30.410.012đồng
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/9/2025, nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
C2 đơn kháng cáo đối dân sự sơ thẩm số: 11/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm
theo hướng không chấp nhận bồi thường cho ông D số tiền 70.740.000 đồng.
Ngày 08/9/2025, bị đơn ông Trần Văn D có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ
thẩm với nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét huỷ Bản án dân sự
thẩm số: 11/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhânn khu vực 7- Đắk Lắk.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện,
nội dung đơn kháng cáo, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
5
Về tố tụng: Các đương sự trong vụ án, Tký, Thẩm phán Hội đồng xét
xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp
nhận đơn kháng cáo của Công ty TNHH MTV C2; Không chấp nhận đơn kháng cáo
của ông Trần Văn D. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025DS-ST ngày 22/8/2025
của Toà án nhân dân khu vực 7 Đắk Lắk theo hướng không tuyên buộc Công ty
phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông D số tiền 70.740.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện cũng như kháng cáo của nguyên đơn Công ty Trách
nhiệm hữu hạn một thành viên C2 và kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn D1,
Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1.1] Về nội dung bị đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp đã được UBND
tỉnh Đ thu hồi của Công ty, giao địa phương quản nên bị đơn được tiếp tục sử
dụng. Xét thấy:
Diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất số 171 và 173, tờ bản đồ số 08. Trích
lục bản đồ đa chính số 135/TL-VPĐKQSDĐ ngày 09/5/2011 thì nay thuộc thửa đất
số 151 một phần thửa đất 71 tờ bản đồ số 116 được Văn phòng đăng đất đai
tỉnh Đ cấp ngày 17/10/2022 cho Công ty TNHH MTV C2, nằm trong tổng diện tích
đất 9.511.289m
2
của Công ty TNHH MTV C2 được UBND tỉnh Đ cho thuê để sử
dụng vào mục đích nông nghiệp, thủy lợi, đất sản xuất, kinh doanh theo Quyết định
số 2123/QĐ-UBND ngày 19/8/2011. Đất đã được UBND tỉnh Đ cấp GCNQSDĐ số
BE 925915, ngày cấp 05/01/2013 cho Công ty TNHH MTV C2.
Năm 2012, Công ty C3, trong thời gian chờ đất phục hồi, giao cho các đội
trưởng đội sản xuất quản lý, để các hộ dân trồng cây ngắn ngày có thu tiền sử dụng
đất.
Ông Trần Văn D thừa nhận nguồn gốc đất nhưng cho rằng diện tích đất tranh
chấp đã được UBND tỉnh Đ thu hi giao địa phương quản lý nên gia đình ông được
tiếp tục sử dụng đất thuộc trường hợp được xem xét cấp GCNQSD đất. Tuy nhiên,
Kết quả xác minh tại UBND E xác định: Diện tích đất nêu trên đến thời điểm hiện
tại chưa phương án trả vđịa phương quản (BL 158). Bị đơn không đưa ra
được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Tại phiên toà phúc thẩm,
ông D đồng ý trả lại đất nhưng yêu cầu Công ty thanh toán giá trị tài sản trên đất.
Do đó, cấp sơ thẩm buộc bị đơn người liên quan phải trả lại diện tích đất nêu trên
cho nguyên đơn là có căn cứ.
[1.2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn không chấp nhận thanh toán 1/7
giá trị cây trồng trên đất cho bị đơn. Xét thấy:
6
Căn cứ Biên bản làm việc ngày 19/10/2016 (BL 41-43), Lời khai của người
làm chứng là ông Nguyễn Huy V (đội trưởng đội 2 giai đoạn 2011-2013) (BL178),
thì thời gian bị đơn bắt đầu sử dụng đất là năm 2013. Theo Biên bản làm việc ngày
19/10/2016 thì Công ty cho phép các hộ dân trồng màu, trồng cây ngắn ngày. Tuy
nhiên, hộ ông D chỉ trồng 01 vụ mì. Sau đó, vào năm 2013 gia đình ông đã trồng cây
macca, đến năm 2015-2016, ông D khoan giếng đtưới tiêu cây trồng, năm 2020
tiến hành rào thép gai (BL 32, 33)
Bị đơn thừa nhận việc bị đơn trồng cây macca, tự khoan giếng nhưng không
xin phép Công ty. Như vậy, ông D sử dụng đất không đúng mục đích sử dụng đất,
sai quy hoạch cây trồng của Công ty. Cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông D nhổ bỏ các
cây trồng di dời các tài sản khác như trụ tông hàng rào kẽm gai để trả lại
đất cho công ty là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm Công ty cung cấp thêm các biên bản thể hiện: Năm 2016,
Hội đồng Công ty, Đội trưởng Đ đã biên bản làm việc với ông D và xác định ông
D trồng cây lâu năm trên đất sai quy hoạch, yêu cầu nhổ bỏ nhưng ông D không
thực hiện. Sau khi lập biên bản làm việc năm 2016 với ông D, Công ty có nhiều văn
bản yêu cầu ông D nhổ bỏ cây mắc ca để trồng cà phê mít theo quy hoạch của Công
ty hoặc ký kết Hợp đồng khoán với Công ty nhưng ông D không thực hiện. Ông D
đã thu hoa lợi trên đất cho đến nay vẫn chưa trả đất cho Công ty. Hiện tại, Công ty
không có nhu cầu nhận các tài sản trên đất mà chỉ lấy đất để sử dụng theo kế hoạch
sử dụng đất của công ty. Do đó, căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty,
không buộc công ty phải bồi thường 1/7 giá trị giá trị cây macca tương đương với
số tiền 70.740.000đ cho ông D nđề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
Đối với 01 giếng khoan trị giá 45.000.000 đồng vẫn thể sdụng để tưới
tiêu cây trồng, Công ty lấy lại đất để cho các hộ nhận khoán trồng phê theo quy
hoạch nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông D, buộc Công ty thanh toán
cho ông D giá trị giếng khoan là phù hợp.
[1.3] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn không chấp nhận trả tiền thuê đất
hàng năm và chi phí quản lý trong thời gian từ năm 2013 tạm tính đến tháng 5/2025
* Đối với tiền thuê đất hàng năm: Nguyên đơntổ chức được nhà nước giao
đất có thu tiền sử dụng đất. Hàng năm, nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ đối với
nhà nước trên diện tích đất được thuê trong đó diện tích đất tranh chấp. Trong các
bên bản làm việc, thông báo của Công ty yêu cầu ông D phải trả tiền thuê đất
hàng năm cho Công ty nhưng ông D không thực hiện. vậy, cấp thẩm buộc bị
đơn phải trả cho nguyên đơn tiền thuế sử dụng đất mà nguyên đơn phải nộp cho nhà
nước trên diện tích đất tranh chấp từ năm 2013 đến tháng 8/2025 16.781.764 đồng
là có căn cứ.
7
* Đối với khoản tiền quản phí trong thời gian từ năm 2013 tạm tính đến
tháng 5/2025: Năm 2016, Công ty văn bản làm việc với ông D đề nghị hợp
đồng khoán hoặc trả lại đất nhưng ông D không chấp nhận ký Hợp đồng, trong khi
các trường hợp hợp đồng khoán đều phải nộp quản phí cho công ty, nên cấp
thẩm buộc bđơn phải trả cho nguyên đơn stiền quản phí từ năm 2016 đến
năm 2025 trên diện tích đất tranh chấp là 10 năm là 72.014.733 đồng là phù hợp.
[2] Từ các nhận định nêu trên, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn,
chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Sửa án sơ thẩm như đã phân tích.
[3] Cấp sơ thẩm tuyên “Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Công ty TNHH Một thành viên C2 (Công ty) về việc buộc bị đơn ông Trần Văn D
phải trả diện tích 918,1m
2
tại thửa đất 171 173 tờ bản đồ số DC08 (Thôn B,
E)” là không cần thiết bởi đây không phải là thửa đất riêng biệt mà là chênh lệch do
đo đạc giữa thực tế so với nội dung khởi kiện, việc tuyên đình chỉ một phần yêu cầu
khởi kiện sẽ làm phát sinh hậu quả của việc đình chỉ giải quyết. Ngoài ra, cấp
thẩm tuyên ông D T trả tiền thuế đất chi phí quản lý từ ngày 23/5/2025
cho đến khi ông D bà T trả lại đất cho Công ty” sẽ gây khó khăn khi thi hành án vì
Tòa án không xác định số tiền cụ thể phải trả trong bản án. Nội dung này Công ty
phải khởi kiện bằng vụ án khác.
[4] Về án pdân sự thẩm: Do sửa án thẩm nên án phí thẩm được nh
lại theo đúng quy định. Cụ thể:
- Bị đơn ông Trần Văn DNguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự không
giá ngạch 300.000 đồng án phí dân sự gngạch trên số tiền phải trả cho
nguyên đơn là: 88.796.497 đồng x 5% = 4.439.000 đồng (đã làm tròn). Tổng cộng
tiền án phí phải chu 4.739.000 đồng.
- Công ty TNHH Một thành viên C2 phi chu án phí dân sự thẩm giá
ngạch đi với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là 30.410.010 đồng x 5% =
1.520.000 đồng (đã làm tròn) và án phí trên s tin phi tr cho b đơn là 45.000.000
x 5% = 2.250.000 đồng. Tổng cộng: 3.770.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do được chấp nhận đơn kháng cáo nên
nguyên đơn, bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH MTV C2. Chấp nhận
một phần kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn D. Sửa Bản án dân sthẩm số
11/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk.
- Căn cứ khoản 2 3 Điều 6; khoản 10 Điều 12, Điều 166, khoản 1, 3 5
điều 170, Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
8
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ quc hội;
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH
Một thành viên C2
[1.1] Buộc ông Trần Văn D và bà Nguyn Th T phải trả cho Công ty TNHH
Một thành viên C2 diện tích đất 12.081,9m
2
tại thửa đất 171 173 tờ bản đồ số
DC08, nằm trong diện tích đất UBND tỉnh Đ cấp GCNQSD đất số BE 925915
ngày 05/01/2013 cho Công ty TNHH MTV C2. Đất vị trí: Hướng Đông giáp thửa
168 của Công ty dài 143,72 m; Hướng Tây giáp vườn keo gồm 03 đoạn dài lần lượt
44,84m-56,37m-45,46m; Hướng Nam giáp vườn keo gm 03 đoạn dài lần lượt
51,27m-20,99m-7,60m; Hướng Bắc giáp đường bờ phê mít của Công ty gồm
04 đoạn dài lần lượt 3.03m-41,91m-15,36m-25,45. (Sơ đồ, tọa độ đo đạc hiện trạng
được Đính kèm bản án).
[1.2] Buộc ông Trần Văn D và Nguyễn Thị T phải nhổ bỏ di dời toàn
bộ cây trồng trên đất gồm 336 cây macca giai đoạn kinh doanh chăm c từ năm thứ
10 đến năm thứ 14; 32 cây mac ca mới trồng năm 2025; 120 trụ bê tông cao 02m
hàng rào thép gai để trả li đất cho Công ty. Trường hợp không tự nguyện thi hành
án thì Công ty TNHH MTV C2 có quyền yêu cầu Phòng thi hành dân sự Khu vực 7
cưỡng chế nhỏ bỏ.
[1.3] Buộc ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa v liên đới trả
cho Công ty TNHH Một thành viên C2 tổng cộng 88.796.497đồng (Tám mươi tám
triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó tiền
thuế sử dụng đất 16.781.764 đồng, tiền chi pquản 72.014.733 đồng (tính đến
ngày 22/5/2025).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
dân sự.
[1.4] Công ty TNHH Một thành viên C2 phải thanh toán cho ông Trần Văn D
và bà Nguyễn Th T số tiền 45.000.000 đồng.
[2]. Bác mt phn yêu cu khi kin ca Công ty TNHH Một thành viên C2
v yêu cu buc ông Trần Văn D Nguyễn Thị T phi tr cho Công ty chi phí
qun lý t năm 2013 đến năm 2015 là 30.410.012 đồng.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
không giá ngạch 4.439.000 đồng án phí dân sự giá ngạch. Tổng cộng tiền
án phí phải chịu là 4.739.000 đồng.
9
- ng ty TNHH Một thành viên C2 phi chu 3.770.000 đồng án phí dân sự
thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 3.280.000 đã nộp theo biên lai
thu tiền số AA/2023/0008801 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi nh án dân sự huyện
M’Đrắk (nay Phòng Thi hành án dân skhu vực 7 Đắk Lắk). Công ty TNHH
Một thành viên C2 còn phải nộp 490.000 đồng.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Công ty TNHH MTV C2 không phải chịu án phí dân sphúc thẩm. Được
nhận lại số tiền 300.000 đồng mà ông Nguyễn Huy C1 đã nộp thay tại Thi hành án
dân sự tỉnh Đ theo biên lai số: 0000759 ngày 12 tháng 9 năm 2025.
- Ông Trần Văn D không phải án phí dân sự phúc thẩm. Được nhận lại số tiền
300.000 đồng ông Hoàng Trung K1 đã nộp thay tại Thi hành án dân sự tỉnh Đ
theo biên lai số: 0000834 ngày 16 tháng 9 năm 2025.
[5] Các quyết định khác của án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm hiệu
lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a
Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đnh
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Vụ II-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 7;
- Phòng THADS Khu vực 7;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(Đã )
Lưu Thị Thu Hường
Tải về
Bản án số 248/2026/DS-PT Bản án số 248/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 248/2026/DS-PT Bản án số 248/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất