Bản án số 24/2017/HSST ngày 18/09/2017 của TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 24/2017/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 24/2017/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 24/2017/HSST ngày 18/09/2017 của TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tam Bình (TAND tỉnh Vĩnh Long) |
| Số hiệu: | 24/2017/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 18/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 24/2017/HSST
Ngày: 18/9/2017
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Tám – Phó Giám đốc Trung tâm giáo dục nghề nghiệp –
giáo dục thường xuyên huyện Tam Bình.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh – Cán bộ hưu trí huyện Tam Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án
nhân dân huyện Tam Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên tòa:
Ông Lê Huỳnh Long – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Trung tâm giáo dục nghề nghiệp –
giáo dục thường xuyên huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:
22/2017/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2017 đối với:
* Bị cáo: Nguyễn Minh S (M M), sinh năm 1966; Nơi đăng ký HKTT và
chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm mướn;
Trình độ học vấn: 5/12; con ông Nguyễn Trung B (chết) và bà Nguyễn Thị P; có
vợ Nguyễn Thanh T và 02 con (lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1984); Anh
chị em ruột có 12 người (lớn nhất sinh năm 1950, nhỏ nhất sinh năm 1971).
Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án; ngày 21/4/2003 bị Tòa án nhân dân
huyện T, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 18 (mười tám) tháng tù giam về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 10/3/2004, phần trách
nhiệm dân sự đến nay bị cáo chưa bồi thường cho bà Lâm Thị T, sinh năm 1962
ngụ ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long số tiền 28.380.000
đ
(hai mươi tám
triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng).
Bị cáo tại ngoại đến ngày 28/8/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyện B, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh
bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Minh S về tội “Trộm cắp tài sản” để điều
tra, xử lý. Hiện tại bị can Nguyễn Minh S đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ
Công an huyện B theo Công văn số 34/CQCSĐT của Công an huyện B ngày
30/8/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
* Người bị hại: Anh Trần Nhất H, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 23/5/2017, bị cáo Nguyễn Minh Sđiều
khiển xe mô tô mang biển số 64E1-118.48 đến tiệm tạp hóa N do NLC1 tại khu
đô thị mới chợ S, thuộc ấp P, xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
làm chủ để mua nước sơn. Trong lúc NLC1 vào nhà khiêng thùng sơn thì bị cáo
S đứng bên ngoài quan sát thấy có một điện thoại di động đang sạc pin trên kệ
trưng bày hàng hóa gần cửa ra vào nên Sang nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại.
S lén lút lấy trộm điện thoại cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đứng đợi. Khi
NLC1 giao nước sơn xong thì bị cáo S điều khiển xe mô tô đi về nhà. Sau đó
anh Trần Nhất H (con của NLC1) đi đến nơi để điện thoại thì phát hiện bị mất
trộm. Anh H đến Công an xã S trình báo sự việc.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo Nguyễn Minh S nghe tin lực
lượng công an đang tìm mời sang làm việc, biết hành vi trộm cắp tài sản của
mình bị phát hiện nên bị cáo S mang theo điện thoại vừa trộm được đến tổ công
tác Công an huyện T thuộc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long và khai nhận
toàn bộ hành vi của mình phù hợp với lời trình bày của bị hại, phù hợp với hiện
trường vụ án và những chứng cứ đã thu thập được. Sang đã giao nộp vật chứng
là một điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy S7 Edge.
Tại kết luận định giá tài sản số: 83/KL.HĐĐGTS ngày 31/5/2017 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình, kết luận: Một điện
thoại di động hiệu SamSung Galaxy S7 Edge có giá thị trường bình quân tại thời
điểm ngày 23/5/2017 là: 7.100.000
đ
(bảy triệu một trăm ngàn đồng).
Ngày 06/7/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Bình đã
trả lại một điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy S7 Edge cho bị hại Trần
Nhất H và anh H không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự.
Đối với phương tiện là xe mô tô biển số: 64E1-118.48 bị cáo không có ý
thức dùng làm phương tiện đi tìm tài sản để lấy trộm nên Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an huyện Tam Bình không thu giữ là có căn cứ.
Bản cáo trạng số: 21/Ctr-VKS ngày 25/7/2017 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Trộm cắp tài
sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên nêu quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị áp dụng khoản 1
Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46
của Bộ luật hình sự: tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do bị cáo
thành khẩn khai báo; bị cáo có chú ruột Nguyễn Minh V là Liệt sĩ; người bị hại
3
xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị xử phạt bị cáo 01 (một) năm đến
01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 76 Bộ
luật tố tụng hình sự: Anh Trần Nhất H đã nhận lại tài sản xong và không có yêu
cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải
quyết.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin hưởng mức án nhẹ nhất để sớm
trở về.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người
bị hại, người làm chứng, Biên bản hỏi cung bị can và Biên bản sự việc cùng các
tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa thể hiện:
Vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 23/5/2017 tại nhà của NLC1 ở khu đô thị N,
thuộc ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Nguyễn Minh S đã có hành vi
lén lút lấy trộm một điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy S7 Edge có giá trị
là: 7.100.000
đ
(bảy triệu một trăm ngàn đồng) của anh Trần Nhất H.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố, cơ sở để kết luận: Bị cáo đã phạm vào
tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự như truy
tố của Viện kiểm sát là có căn cứ.
[2] Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài
sản bằng hành vi trộm cắp. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực
tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời xâm phạm đến quyền sở hữu
tài sản của người khác một cách trái pháp luật, làm mất trật tự trị an ở địa
phương. Bản thân bị cáo S đã chấp hành xong hình phạt 18 (mười tám) tháng tù
về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 10/3/2004; lẽ ra, bị cáo phải lấy đó
làm bài học kinh nghiệm để tích cực lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội
thì bị cáo lại tái phạm; với thái độ thích hưởng thụ, lười lao động để có tiền phục
vụ tiêu xài cá nhân. Xét cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian
nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời lấy đó làm răn đe phòng ngừa chung
trong xã hội.
[3] Tuy vậy, bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo; người bị hại
xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được
quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự và cũng được
xem xét áp dụng khi lượng hình.
[4] Về xử lý vật chứng và về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 3 Điều
76 của Bộ luật tố tụng hình sự: Anh Trần Nhất H đã nhận lại tài sản xong và
không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không
xem xét giải quyết.
4
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S (M M) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p
khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự;
1/ Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
2/ Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 3 Điều 76
của Bộ luật tố tụng hình sự: Anh Trần Nhất H đã nhận lại tài sản xong và không
có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét
giải quyết.
3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình
sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh S phải nộp số tiền 200.000
đ
(hai trăm ngàn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với
những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là
15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND huyện Tam Bình;
- Chi cục THADS huyện Tam Bình;
- Công an huyện Tam Bình;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Sở tư pháp;
- Lưu hồ sơ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Huỳnh Thanh Hùng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm