Bản án số 23/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp tài sản thừa kế

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/2020/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 23/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp tài sản thừa kế
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bá Thước (TAND tỉnh Thanh Hóa)
Số hiệu: 23/2020/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƯỚC
TỈNH THANH HOÁ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 23/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29-09-2020
V/v: “Tranh chấp tài sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Cao Cường
Hà Thị Tâm
- Thư phiên toà: Cao Thị Nhung Thư Toà án nhân dân huyện
Thước, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thước tham gia phiên tòa: Ông
Hà Văn Quyển - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh
Thanh Hoá xét xử thẩm ng khai vụ án thụ số 03/2020/TLST- DS ngày 07
tháng 02 năm 2020 về: “Tranh chấp tài sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 05/2020/QĐXXST- DS ngày 14 tháng 09 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị L, sinh năm: 1967
Trú tại: Thôn Bồng, xã Lũng Niêm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Có
mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hà Văn Khếm sinh
năm 1961.
Trú tại: Thôn Đủ, xã Lũng Niêm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Bị đơn: Anh Hà Văn Đ, sinh năm: 1969
Trú tại: Thôn Đủ, xã Lũng Niêm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Hà Thị Ình, sinh năm 1947
Trú tại: Thôn Na Ca, Cổ Lũng, huyện Thước, tỉnh Thanh Hóa. Vắng
mặt.
2. Hà Thị Chon, sinh năm 1951
Trú tại: Thôn Đòn, xã Lũng Niêm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
3. Hà Thị Tủi, sinh năm 1955
Trú tại: Nông trường 3, I A Sup, huyện Chư Prong, tỉnh Gia Lai. Vắng
mặt.
4. Hà Thị Tến, sinh năm 1957
Ttại: Thôn Đủ, Lũng Niêm, huyện Thước, tỉnh Thanh Hóa. Vắng
mặt.
2
5. Hà Thị Út, sinh năm 1961
Trú tại: Thôn Đủ, xã Lũng Niêm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Thị L trình bày: Bố
mẹ chị sinh được 8 chị em. Các chị gái đã đi lấy chồng còn lại 3 chị em (gồm ch,
chị Mão và em Đăng) ở chung cùng bố mẹ. Tháng 12/1993 mẹ chị chết. Năm 1995
em Đăng đi lấy vợ ra riêng vào năm 1996. Cuối năm 1996 bố chị chết còn lại
chị chị Mão sống với nhau tại ngôi nhà mảnh đất của bố mẹ để lại. Bố, mẹ,
ông bà nội ngoại của chị đều đã chết.
Năm 2011 do nbị hư, dột nát nên 2 chị em làm nhà mới nhà sàn 3
gian gỗ trị giá khoảng 30.000.00 cùng chung sống lập nên khối tài sản chung
gồm: 02 cái giường, 01 ti vi lúc mới mua là 8.000.000đ, tủ lạnh lúc mới mua
4.000.000đ, xe máy lúc mới mua 23.000.000đ, máy xát lúc mới mua
5.000.000đ và các đồ trang sức gồm: 1 vòng cổ 2 chỉ vàng, 1 vòng cổ 4 chỉ vàng, 1
vòng đeo tay 3 chỉ vàng, 3 nhẫn vàng mỗi nhẫn 0,5 phân = 1,5 chỉ vàng, 01 giây
chuyền vàng 3 chỉ, 01 lắc tay 3 chỉ, 01 đôi hoa tai vàng 1 chỉ, 01 vòng cổ bạc 1 chỉ,
03 bộ dây bạc (dùng đeo váy dây tộc), 2 sổ tiết kiệm gửi ngân hàng Agribanh
bưu điện trị giá 30.000.000đ, 01 trích lục đất mang tên Thị Mão, 01 trích lục
đất ruộng mang tên Thị Mão (Nguồn gốc đất do bố mđể lại, sau khi bố mẹ
chết thì sang tên cho chị Mão đứng tên và đều được các chị em trong nhà đồng ý).
Năm 2017 chị đi lấy chồng nhưng chị vẫn để khối tài sản chung trên cho chị
Mão quản ( Chị Mão không lấy chồng). Ngày 10/9/2019 chị Thị Mão chết.
Sau khi được 49 ngày của chị Mão thì anh Đ tự ý dỡ ngôi nhà do chị em chị xây
dựng nên và để chất đống ở đấy. Anh Đ tự ý quản hết khối tài sản trên cùng các
giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất phân chia cho chị không công bằng với
công sức đóng góp của chị. Nay chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bá Thước chia
tài sản thừa kế cho chị theo quy định của pháp luật. Di sản thừa kế bao gồm các
khoản sau:
Nhà sàn 3 gian gỗ trị giá khoảng 30.000.000 đồng 01 trích lục đất mang tên
Thị Mão trị giá khoảng 30.000.000 đồng, 01 trích lục đất ruộng mang tên
Thị Mão trị giá khoảng 5.000.000 đồng; 02 cái giường, 01 ti vi lúc mới mua là
8.000.000đ, tủ lạnh lúc mới mua 4.000.000đ, xe máy c mới mua
23.000.000đ, máy xát lúc mới mua là 5.000.000đ và các đồ trang sức gồm: 1 vòng
cổ 2 chỉ vàng, 1 vòng cổ 4 chỉ vàng, 1 vòng đeo tay 3 chỉ vàng, 3 nhẫn vàng mỗi
nhẫn 0,5 phân = 1,5 chvàng, 01 giây chuyền vàng 3 chỉ, 01 lắc tay 3 chỉ, 01 đôi
hoa tai vàng 1 chỉ; 01 vòng cổ bạc 1 chỉ, 03 bộ dây bạc (dùng đeo váy dây tộc), 2
sổ tiết kiệm gửi ngân hàng Agribanh và Ngân hàng bưu điện trị giá 30.000.000đ.
Tại bản tự khai ngày 12 tháng 02 năm 2020 anh Văn Đ trình bày: Về
mảnh đất tại thôn đủ Lũng Niêm, huyện Thước, khi chị Mão n sống đã
làm sổ đỏ mang tên anh là Văn Đ, thửa đất số 400-2, tờ bản đồ số 3, diện tích
690 m
2
, đất thuộc quyền sử dụng của anh nên anh không đồng ý chia; đối với ngôi
nhà sàn trên đất đã mục nát anh đã dỡ xuống để thành đống, nếu chị Liên muốn lấy
3
thứ gì thì lấy. Hiện nay anh đã làm lán tranh trên đất để đựng đồ đạc; đối với mảnh
đất lâm nghiệp thời hạn sdụng 50 năm, tại 7, 11 khoảnh 2, tiểu khu 266,
thôn Đủ, Lũng Niêm tổng diện tích 10.000 m
2
, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên Thị Mão, trên đó đang trồng keo chung với 4 hộ người
hàng xóm.
Đối với các tài sản 02 chiếc giường, ti vi, tủ lạnh, máy t trước đây anh
đã cho chị L nhưng chị L không lấy, hiện nay vẫn để trong lán; chiếc xe máy đăng
mang tên Thị Mão đây là tài sản anh muốn giữ làm kỷ niệm của chị Mão
nên không chia.
Về số vàng thật khi chị Mão chết 03 chỉ, 01 chỉ đeo cho chị Mão khi chị
chết chôn cùng, 01 chỉ chia chị Liên, 01 chchia cho vợ anh, 01 vòng cổ bạc đã
chia cho chị L, còn giây bạc dùng đeo váy dân tộc là bạc giả;
Về stiền gửi Ngân hàng: 01 sổ tiết kiệm chMão gửi ngân hàng chính
sách hội Thước trị giá 10.000.000 đồng; 01 sổ tiết kiệm chMão gửi ngân
hàng Bưu điện Liên Việt trị giá 20.000.000 đồng. Anh đề nghị chia theo pháp luật.
Bố, mẹ, ông bà nội ngoại của anh đều đã chết.
Quá trình giải quyết vụ án những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của chị
Mão là Hà Thị Ình, Hà Thị Chon, Hà Thị Tủi, Hà Thị Tến và Hà Thị Út đều có văn
bản từ chối nhận di sản thừa kế của chị Mão. Còn lại 02 người Thị Liên
Văn Đăng. Đối với 02 sổ tiết kiệm gửi Ngân hàng mang tên Thị Mão. Chị
Hà Thị L và anh Hà Văn Đ đã tự thỏa thuận phân chia với nhau. Theo đó
Anh Văn Đ sở hữu sổ tiết kiệm gửi ngân hàng Agribanh trị giá 20.000.000 đ.
Chị Liên sở hữu 01 sổ gửi Ngân hàng chính sách xã hội huyện Thước trị giá
10.000.000đ ( theo sổ tiết kiệm số AB 508477, ngày gửi 24/6/2019 mang tên người
gửi Thị Mão, địa chthôn Đủ Lũng Niêm, huyện Thước, Thanh Hóa; số
CMND 173484118 cấp ngày 10/11/2006. Anh Đ giao cho chị L số tiền chênh lệch
sổ tiết kiệm 5.000.000 đồng. Hai bên đã thực hiện xong thỏa thuận trên. Các tài
sản còn lại hai bên đề nghị phân chia theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ
đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghHĐXX phân
chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Về án phí: Đề nghị miễn tiền án
phí cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Chị Hà Thị Mão không có chồng con, bố mẹ chị Mão đều đã
chết, chị Mão 7 chị em ruột trong đó chị Thị L anh Văn Đ. Ngày
10/9/2019 chị Hà Thị Mão chết không để lại di chúc. Khi còn sống chị Mão có một
số tài sản, sau khi chị Mão chết các bên trong hàng thừa kế thứ nhất của chị Mão
không tự thỏa thuận phân chia được với nhau nên chị Liên khởi kiện ra Tòa án yêu
cầu chia tài sản thừa kế. Đây quan hệ tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 điều 26 Bộ luật tố
tụng dân sự.
4
[2] Về nội dung:
[2.1]. Xét về hàng thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án đã xác định bố mẹ
chị Mão là ông Văn Ênh Thị Ùn đã chết, ông nội ngoại của chị
Mão đều đã chết, chị Mão không chồng, không con. Chị Mão 7 chị em
ruột là Thị Ình, Thị Chon, Thị Tủi, Thị Tến và Thị Út, Thị
Liên Văn Đăng. Trong số này 05 người Thị Ình, Thị Chon,
Thị Tủi, Thị Tến Thị Út văn bản tchối nhận di sản thừa kế của chị
Mão. Còn lại 02 người Thị Liên Văn Đăng tranh chấp với nhau. Như
vậy xác định chị L anh Đ 02 người được hưởng tài sản thừa kế của chị Mão
để lại.
[2.2]. Xét về di sản thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án đã xác định cụ thể như
sau:
[2.21]. Về đất: Phía chị L khai 01 trích lục đất ở mang tên Hà Thị Mão, 01
trích lục đất ruộng mang tên Thị Mão (Nguồn gốc đất do bố mẹ để lại, sau khi
bố mẹ chết thì sang tên cho chị Mão đứng tên đều được các chị em trong nhà
đồng ý). Về phía anh Đ khai: Mảnh đất tại thôn đủ Lũng Niêm, huyện
Thước, khi chị Mão còn sống đã làm sổ đỏ mang tên anh là Hà Văn Đăng, thửa đất
số 400-2, tờ bản đồ số 3, diện ch 690 m
2
, đất thuộc quyền sử dụng của anh nên
anh không đồng ý chia; mảnh đất lâm nghiệp thời hạn sử dụng 50 năm, tại lô 7,
11 khoảnh 2, tiểu khu 266, thôn Đủ, Lũng Niêm tổng diện tích 10.000 m
2
,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Thị Mão, trên đó đang trồng keo
chung với 4 hộ là người hàng xóm. Theo các tài liệu mà đương sự cung cấp và quá
trình xác minh của Tòa án thì mảnh đất không mang tên chị Mão mang tên
anh Văn Đăng chị Lương Thị Tia, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AK 327151, cấp ngày 15/02/2008 ( thời điểm chị Mão đang còn sống ), thửa đất số
400-2, tờ bản đồ số 3, diện tích 690 m
2
, đất tại nông thôn. Chị Mão chỉ đứng tên
trên mảnh đất lâm nghiệp thời hạn sử dụng 50 năm, tại 7, 11 khoảnh 2, tiểu
khu 266, thôn Đủ, Lũng Niêm tổng diện tích 10.000 m
2
. Tuy nhiên, trước
đây theo chủ trương cấp đất diện tích 10.000 m
2
cấp cho 4 hộ bao gồm Thị
Mão, Văn Đăng, Văn Dong Văn Ết. Chị Mão chỉ người đại diện
đứng tên. Thực tế trên mảnh đất này 04 hộ đang trồng cây, thuộc sở hữu của 4
hộ. Vào tháng 03 năm 2020 nhà nước đã thu hồi 1100 m
2
đất lâm nghiệp chuyển
sang đất giao thông. Diện tích còn lại còn 8900 m
2
, hiện tại 4 hộ này đang yêu
cầu tách thửa làm lại giấy chứng nhận theo hiện trạng các hộ đang sử dụng ( các hộ
trồng cây trên mảnh đất này không tranh chấp với nhau về ranh giới đều tên
xác nhận thống nhất nội dung trên trong biên bản làm việc với Tòa án). Quá trình
xem xét thẩm định tại chỗ cũng xác định được diện tích đất thực tế của chị Mão
2746,8 m
2
, trên mảnh đất này chị Mão đã trồng khoảng 275 cây keo đã được 3 năm
tuổi. Như thế đã xác định được mảnh đất lâm nghiệp tại thôn Đủ, Lũng Niêm,
huyện Thước diện tích 2746,8 m
2
275 cây keo đã được 3 năm tuổi di
sản thừa kế của chị Mão. Kết quả định giá mảnh đất lâm nghiệp diện tích 2746,8
m
2
giá trị là 13.734.000 đồng 275 cây keo đã được 3 năm tuổi trên mảnh đất
này giá trị 8.250.000 đồng. Tổng giá trị đất lâm nghiệp keo trên đất
21.984.000 đồng.
5
[2.22]. Về các tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, thẩm định định giá tài
sản đã xác định được các tài sản và giá trị của các tài sản này di sản thừa kế của
chị Mão như sau: Nhà sàn 3 gian gỗ đã dỡ ra để chất đống trị giá 10.000.000 đồng;
02 chiếc giường, 01 chiếc 1,6 m x 2 m giá trị 600.000 đồng, 01 chiếc 1,8 m x 2 m
trị giá 700.000 đồng; 01 ti vi đã gtrị 1.400.000đ; 01 tủ lạnh đã trị giá
1.500.000đ; 01 xe máy đã nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, Biển kiểm
soát 36G5 06110, số máy JC43E6453497, số khung 4324BY495629, đăng xe
mang tên Thị Mão giá trị 13.500.000đ; 01 máy nghiền đã trị giá
1.400.000đ.
[2.23]. Đối với số vàng trang sức của chị Mão như các bên khai. Quá trình
giải quyết vụ án không chứng minh được số vàng này hay không nếu thì
số lượng bao nhiêu, vàng thật hay vàng giả nên không căn cứ để chứng minh
xác định đây di sản thừa kế của chị Mão. Hội đồng xét xử không căn cứ xem
xét nội dung này.
[2.24]. Đối với 02 sổ tiết kiệm gửi Ngân hàng mang tên Thị Mão, chị
Thị Liên anh Văn Đăng đã tự thỏa thuận phân chia với nhau. Theo đó
Anh Văn Đăng sở hữu sổ tiết kiệm gửi ngân hàng Agribanh trị giá 20.000.000
đ. Chị Liên sở hữu 01 sổ gửi Ngân hàng chính sách hội huyện Thước trị g
10.000.000đ ( theo sổ tiết kiệm số AB 508477, ngày gửi 24/6/2019 mang tên người
gửi Thị Mão, địa chthôn Đủ Lũng Niêm, huyện Thước, Thanh Hóa; số
CMND 173484118 cấp ngày 10/11/2006. Anh Đăng giao cho chị Liên số tiền
chênh lệch sổ tiết kiệm 5.000.000 đồng. Hai bên đã thực hiện xong thỏa thuận
trên vì vậy miễn xét.
Như vậy di sản thừa kế của chị Mão trong vụ án này cụ thể gồm những tài
sản sau:
1. Mảnh đất lâm nghiệp tại thôn Đủ, Lũng Niêm, huyện Thước diện
tích 2746,8 m
2
giá trị là 13.734.000 đồng 275 cây keo đã được 3
năm tuổi trên mảnh đất này giá trị 8.250.000 đồng. Tổng giá trị
đất lâm nghiệp và keo trên đất là 21.984.000 đồng;
2. Nhà sàn 3 gian g đã dỡ ra để chất đống trị giá 10.000.000 đồng;
3. 02 chiếc giường, 01 chiếc 1,6 m x 2 m giá trị 600.000 đồng, 01 chiếc 1,8
m x 2 m trị giá 700.000 đồng;
4. 01 ti vi đã cũ giá trị1.400.000đ;
5. 01 tủ lạnh đã cũ trị giá là 1.500.000đ;
6. 01 xe máy đã nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE RSX, Biển kiểm
soát 36G5 06110, số máy JC43E6453497, số khung 4324BY495629,
đăng ký xe mang tên Hà Thị Mão giá trị là 13.500.000đ;
7. 01 máy nghiền đã cũ trị giá là 1.400.000đ.
Xét hoàn cảnh thực tế chị Liên phụ nữ mới đi lấy chồng, hoàn cảnh khó
khăn nên cần đất để lao động sản xuất. Anh Đ đã nhà cửa đất đai ổn định, một
số tài sản thừa kế của chị Mão vẫn đang để ở nhà anh Đăng. Vì vậy cần chia tài sản
thừa kế của chị Mão để lại cho chị L và anh Đ cụ thể như sau:
Chia cho chị L 01 mảnh đất lâm nghiệp tại thôn Đủ, Lũng Niêm, huyện
Thước diện tích 2746,8 m
2
gtrị 13.734.000 đồng 275 cây keo đã
được 3 năm tuổi trên mảnh đất này giá trị là 8.250.000 đồng. Tổng giá trị đất
6
lâm nghiệp và keo trên đất là 21.984.000 đồng. Chị L có quyền liên hệ với cơ quan
thẩm quyền để thực hiện việc tách thửa sang tên mảnh đất nay theo quy định
của pháp luật đất đai.
Chia cho anh Đ các tài sản sau: 01 xe máy đã nhãn hiệu HONDA, số loại
WAVE RSX, Biển kiểm soát 36G5 06110, số máy JC43E6453497, số khung
4324BY495629, đăng xe mang tên Thị Mão giá trị 13.500.000 đồng; 01
Nhà sàn 3 gian g đã dỡ ra để chất đống trị giá 10.000.000 đồng; 02 chiếc giường,
01 chiếc 1,6 m x 2 m giá trị 600.000 đồng, 01 chiếc 1,8 m x 2 m trị giá 700.000
đồng; 01 ti vi đã giá trị 1.400.000đ; 01 tủ lạnh đã trị giá 1.500.000đ; 01
máy nghiền đã cũ trị giá là 1.400.000đ ( tất cả các tài sản này đang để ở nhà anh Đ.
Tổng cộng gtrị các tài sản là 29.100.000 đ ( Hai mươi chín triệu một trăm nghìn
đồng ).
Anh Đ phải đưa cho chị L số tiền chênh lệch tài sản : ( 29.100.000 đ -
21.984.000 đ ): 2 = 3.558.000 đ ( Ba triệu năm trăm năm mươi tám nghìn đồng ).
[3]. Về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng: Theo quy định của pháp luật đối với vụ
án dân sự này. Cả chị L anh Đ đều có yêu cầu chia tài sản thừa kế thì mỗi người
được chia tài sản thừa kế phải chịu phần chi phí thẩm định, định giá tài sản tương
ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia. Trong vụ án này chị L anh Đ
được chia phần giá trị tài sản bằng nhau và đã nộp tiền chi phí thẩm định, định giá
tài sản ngang nhau ( mỗi bên 1.000.000 đồng ) nên không bên nào phải hoàn lại
cho bên nào. Hội đồng xét xử không giải quyết nội dung này.
[4] Về án phí: Cả chị L và anh Đ đều người đồng bào dân tộc thiểu số (
dân tộc Thái ), sống điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên
tòa chị Liên và anh Đăng đều đề nghị miễn tiền án phí. Vì vậy cần căn cứ vào điểm
đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí
Tòa án miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị Hà Thị L và anh Văn Đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 612, 620, 649, điểm a khoản 1 điều 650, điều 651 Bộ luật
dân sự; Khoản 5 điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị
quyết s326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu ¸n phÝ và
lÖ phÝ Tßa ¸n.
1/ Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn chị Thị L.
Chia di sản thừa kế của chị Hà Thị Mão cụ thể như sau:
- Chia cho chị Hà Thị L 01 mảnh đất lâm nghiệp tại thôn Đủ, xã Lũng Niêm,
huyện Bá Thước, diện tích 2746,8 m
2
toàn bộ 275 cây keo trồng đã được 3 năm
tuổi trên mảnh đất này. Chị Liên quyền liên hệ với quan thẩm quyền để
thực hiện việc tách thửa sang tên mảnh đất này theo quy định của pháp luật đất đai;
( Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 26/04/1997, tại 7 - 11,
khoảnh 2, tiểu khu 266, thôn Đủ, Lũng Niêm tổng diện tích 10.000 m
2
, giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Thị Mão Biên bản làm việc của
Tòa án ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước).
- Chia cho anh Văn Đ các tài sản sau: 01 xe máy đã nhãn hiệu
HONDA, số loại WAVE RSX, Biển kiểm soát 36G5 06110, số máy
7
JC43E6453497, số khung 4324BY495629, đăng xe mang tên Thị Mão; 01
nhà sàn 3 gian gỗ đã dỡ ra để chất đống; 02 chiếc giường, 01 chiếc 1,6 m x 2 m, 01
chiếc 1,8 x 2 m; 01 ti vi đã cũ; 01 tủ lạnh đã cũ; 01 máy nghiền đã ( tất cả các
tài sản này đang để ở nhà anh Đăng.
Anh Hà Văn Đăng phải đưa cho chị Hà Thị Liên số tiền chênh lệch tài sản là
3.558.000 đ ( Ba triệu năm trăm năm mươi tám nghìn đồng )
Từ khi bản án hiệu lực pháp luật, chị Thị L đơn yêu cầu thi hành
án, nếu chưa thi hành án, hàng tháng anh Văn Đ còn phải chịu thêm khoản tiền
lãi theo quy định tại điều 357 BLDS năm 2015 trên số tiền phải thi hành án, tương
ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 Luật thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Miễn nộp tiền án phí dân sự thẩm cho chị Hà Thị L anh
Văn Đ.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn chị Hà Thị L bị đơn anh Hà
Văn Đ, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị Chon Thị Út.
Vắng mặt người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thị Ình, Thị Tủi
Thị Tến. Chị Thị L, anh Văn Đ, Thị Chon và Thị Út
quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể tngày tuyên án. Bà Thị
Ình, Thị Tủi Thị Tến quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Bá Thước;
- Các đương sự;
- UBNDLũng Niêm
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Hùng
8
HỘI ĐỒNG XÉT X
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Cao Cường Hà Thị Tâm Phạm Văn Hùng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Anh
Lê Thị Hiền
Phạm Văn Hùng
9
10
11
Tải về
Bản án số 23/2020/HNGĐ-ST Bản án số 23/2020/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất