Bản án số 22/2021/HNGĐ-PT ngày 06/12/2021 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2021/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 22/2021/HNGĐ-PT ngày 06/12/2021 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Dương
Số hiệu: 22/2021/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/12/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp chia tài sản sau ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 22/2021/HNGĐ-PT
Ngày: 06-12-2021
V/v tranh chấp chia tài sản chung sau
khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Chum;
Lưu Thị Mỹ Hương;
Ông Trần Văn Luông.
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Văn Tấn Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên
tòa: Bà Đặng Hà Nhung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 01 06 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án n nhân, gia đình thụ số
20/2021/TLPT-HNGĐ, ngày 26 tháng 7 năm 2021 về việc tranh chấp chia tài
sản chung sau khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 65/2021/HNGĐ-ST, ngày 17
tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố An, tỉnh nh Dương bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 50/2021/-PT
ngày 25 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế Anh, sinh năm 1980; hộ khẩu thường
trú: Số 16/22, đường Phan Đình Giót, khu phố Đông B, phường Đông Hòa,
thành phố An, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số 40 đường T, Trung tâm
hành chính An, khu phố Nhị Đồng 2, phường An, thành phố An, tỉnh
Bình Dương.
Người đại diện hợp phápcủa nguyên đơn ông Nguyễn Thế Anh: Anh Võ
Tấn Trí, sinh năm 1994; hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã Tiên Lãnh, huyện Tiên
Phước, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ liên lạc: Số 40 đường T, Trung tâm hành chính
thành phố An, khu phố Nhị Đồng 2, phường An, thành phố Dĩ An, tỉnh
Bình Dương (Hợp đồng ủy quyền ngày 05/01/2021). Có mặt;
2
2. B đơn: Nguyễn Thị Sen, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 16/22, đưng
Phan Đình Giót, khu ph Đông B, phưng Đông Hòa, thành phDĩ An, tỉnh nh
Dương; địa ch liên hệ: Đường GS 7, số 26 đường Thị Sáu, khu phố Tây B,
phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Người đại din hp pp ca bị đơn bà Nguyễn Thị Sen Phạm Thị Hải
Dương, sinh năm 1991 và Lê Thị Hoa, sinh m 1996; địa chỉ: Ngã ba y Điệp,
khu phố Đông Tân, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. (Theo Văn
bản ủy quyền ngày 21/5/2021). mặt;
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Phương
Đông Chi nhánh Bình Dương Phòng giao dịch Lái Thiêu; địa chỉ: Số 11
đường DT745, khu phố Chợ, phường Lái Thiêu, thành phố An, tỉnh Bình
Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Bình An, chức vụ: Giám đốc tín
dụng Ngân hàng TMCP Phương Đông Chi nhánh Bình Dương Phòng giao
dịch Lái Thiêu, người đại diện theo ủy quyền. (Theo văn bản ủy quyền ngày
14/4/2021). Vắng mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/12/2020, lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án tại phiên tòa thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh
Nguyễn Thế Anh là anh Võ Tấn Trí trình bày:
Ông Nguyễn Thế Anh Nguyễn Thị Sen vợ chồng nhưng do quá
trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn không thhàn gắn được nên đã ly
hôn theo quyết định của Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 55/2020/HNGĐ-
ST ngày 17 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố An, tỉnh Bình
Dương. Tại bản án nói trên thì ông Anh và Sen chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết
về quan hệ hôn nhân con chung còn tài sản chung nợ chung của vợ chồng
thì tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, kể từ khi bản án hiệu
lực pháp luật cho đến nay, vchồng không thỏa thuận được với nhau về việc
chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, ông
Nguyễn Thế Anh yêu cầu Tòa án chia tài sản chung nchung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân như sau:
Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng có tạo lập được khối tài
sản gồm:
+ Quyền sdụng đất diện tích 67,3m
2
, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản
đồ số 02 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số CL997696, số vào sổ CS14946 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Bình Dương cấp ngày 20/7/2018 cho ông Nguyễn Thế Anh
Nguyễn ThSen cùng đứng tên. Đất nguồn gốc chuyển nhượng của ông
Nguyễn Trọng Tuấn. Trên đất có tài sản theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ
do Tòa án thực hiện vào ngày 03/3/2021 gồm có: 01 Nhà riêng lẻ loại 01 tầng
do ông Nguyễn Thế Anh và Nguyễn Thị Sen xây dựng trước năm 2018,
kết cấu: Nền gạch men, tường gạch xây sơn nước, mái tôn, cột gạch + cột
tông cốt thép, trần thạch cao, cửa sắt kính + cửa sắt, diện tích 48.7m
2
; 01 gác gỗ
diện tích 5m x 4m = 20m
2
; phía trước 01 nhà tạm kết cấu như sau: Nền
3
gạch men, tường gạch xây sơn nước, cột gạch + sắt, phía trên khung sắt,
cửa sắt, diện tích 10,8m
2
; phía sau 01 mái che kết cấu như sau: Nền gạch
tàu + gạch men, diện tích 1,1m x 4m = 4,4m
2
; 01 đồng hồ nước; 01 điện kế
chính. Nhà đất tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An,
tỉnh Bình Dương. Tài sản này do ông Anh quản lý, sử dụng từ thời điểm vợ
chồng sống ly thân cho đến nay.
+ Quyền sử dụng đất có diện tích khoảng 70m
2
, gắn liền với đất là căn nhà
kết cấu 1 trệt, 1 lầu, nhà đất tọa lạc tại tổ 24, khu phố Đông Tác, phường
Tân Đông Hiệp, thành phố An, tỉnh nh Dương. Nguồn gốc do nhận
chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Duy vào năm 2008, hiện nay toàn bộ giấy
tờ liên quan do Nguyễn Thị Sen giữ. Tài sản này hiện do Sen quản lý, sử
dụng.
Về nghĩa vụ chung: Ngày 13/6/2018, ông Anh Sen hợp đồng
tín dụng số 5805/2018/PLT/HĐTD với Ngân hàng TMCP Phương Đông Chi
nhánh Bình Dương Phòng giao dịch Lái Thiêu đ vay số tiền 890.000.000
đồng, thời hạn vay 120 tháng. Mục đích vay để thanh toán tiền mua thửa đất số
8090, tbản đồ số 02, tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành
phố An, tỉnh Bình Dương. Thực hiện hợp đồng vay trên, ông Anh Sen
đã thanh toán được 185.400.000 đồng, còn nợ lại 704.600.000 đồng tiền nợ gốc
i suất phát sinh. Từ ngày 01/01/2019 đến nay vợ chồng sống ly thân, ông
Anh tự thanh toán khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng với tổng số tiền bao gồm
lãi tổng cộng là 126.380.148 đồng.
Ông Nguyễn Thế Anh yêu cầu Tòa án giải quyết được nhận tài sản
Quyền sử dụng đất diện tích 67,3m
2
, thuộc thửa đất số 8090, tbản đồ số 02
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất, số vào sổ CS14946 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bình
Dương, nhà đất tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố
An, tỉnh Bình Dương. Ông Anh nhận trách nhiệm hoàn trả giá trị Sen được
hưởng.
Đối với Quyền sử dụng đất diện tích khoảng 70m
2
, gắn liền với đất
căn nhà kết cấu 1 trệt, 1 lầu, nđất tọa lạc tại tổ 24, khu phố Đông Tác,
phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương hiện do bà Sen đang
quản sdụng và do chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên
ông Anh không tranh chấp.
Về nợ chung: Ông Anh yêu cầu chia đôi nợ còn lại theo xác nhận của
Ngân hàng tính đến ngày 06/5/2021 637.856.000 đồng tiền nợ gốc lãi suất
phát sinh. Ngoài ra, Sen còn có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Anh 50% số
tiền ông Anh đã đóng thay cho Sen trong thời kvợ chồng sống ly thân
đến nay, tương đương số tiền là 63.190.000 đồng.
Lời khai trong quá trình tố tụng tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị
Sen trình bày:
Sen và ông Nguyễn Thế Anh tự nguyện xây dựng gia đình với nhau
vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cẩm Lạc, huyện Cẩm
Xuyên, tỉnh Tĩnh. Quá trình chung sống, vợ chồng do phát sinh nhiều mâu
4
thuẫn không thể hàn gắn được nên bà và ông Anh đã ly hôn vào ngày 17/7/2020.
Khi ly hôn thì ông Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung
nợ chung. Tuy nhiên, kể từ khi bản án hiệu lực pháp luật cho đến nay,
ông Anh không thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà Sen cũng xác định tài sản chung
được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng như ông Anh xác định.
Về nghĩa vụ chung: Sen thừa nhận quá trình sống chung vợ chồng
Hợp đồng tín dụng s5805/2018/PLT/HĐTD ngày 13/6/2018 Hợp đồng
sửa đổi bổ sung số 5805/2018/PLT/HĐTD/SCBS-01 ngày 24/7/2018 với Ngân
hàng TMCP Phương Đông Chi nhánh Bình Dương Phòng giao dịch Lái
Thiêu để vay số tiền 890.000.000 đồng. Mục đích vay để thanh toán tiền mua
thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02. Khi vay vợ chồng bà có thế chấp chính tài sản
trên để đảm bảo việc trả nợ. Vdiễn biến trả nợ thì thống nhất như ý kiến của
người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Anh về việc phân chia tài sản chung
và nợ chung thì bà Sen có ý kiến như sau:
Sen yêu cầu được nhận phần nhà đất diện tích 67,3m
2
, thuộc thửa
đất số 8090, tờ bản đồ s02, tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông a,
thành phố An, tỉnh nh Dương. Mặc dù ông Anh không tranh chấp nhưng
bà Sen đồng ý giao căn nhà gắn liền diện tích khoảng 70m
2
, tọa lạc tại tổ 24, khu
phố Đông Tác, phường Tân Đông Hiệp, thành phố An, tỉnh Bình Dương cho
ông Anh quản lý, sử dụng.
Đối với khoản nợ chung thì bà chỉ đồng ý thanh toán khoản tiền
200.000.000 đồng trong tổng nợ còn lại còn ông Anh phải trách nhiệm
hoàn trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng vì thực tế khoản vay trên ông bà chỉ dùng
một ít để trả tiền mua đất, phần còn lại ông Anh sử dụng để kinh doanh quán
phê, lợi nhuận do ông Anh giữ nên ông Anh phải chịu trách nhiệm.
Lời khai trong quá trình tố tụng tại phiên tòa ngày 06/5/2021, người
đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP
Phương Đông Chi nhánh Bình Dương Phòng giao dịch Lái Thiêu là anh
Trần Bình An trình bày:
Ngày 13/6/2018, ông Nguyễn Thế Anh Nguyễn Thị Sen hợp
đồng số 5805/2018/PLT/HĐTD với Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi
nhánh Bình Dương Phòng giao dịch Lái Thiêu đ vay số tiền 890.000.000
đồng, thời hạn vay 120 tháng. Mục đích vay đthanh toán tiền chuyển nhượng
thửa đất số 8090, tờ bản đồ s02, tọa lạc tại khu phố Đông B, phường Đông
Hòa, thành phố An, tỉnh Bình Dương. Đồng thời, vợ chồng ông Anh, Sen
đã thế chấp chính tài sản này để đảm bảo cho khoản vay trên. Tính đến ngày
06/5/2021, ông Anh Sen còn nợ Ngân hàng số tiền 637.856.000 đồng.
Hiện nay, ông Anh, bà Sen vẫn thực hiện việc trả nợ theo đúng tiến độ, không vi
phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng không có ý kiến gì đối với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp ông Anh Sen có vi phạm nghĩa vụ
thanh toán đối với khoản tiền nêu trên thì Ngân hàng sẽ tự khởi kiện thành một
vụ kiện khác. Ngân hàng không có yêu cầu độc lập đối với vụ án này.
5
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc, định giá thể hiện: Quyền sử
dụng đất hiện các đương sự xác định tranh chấp có diện tích đất theo đo đạc thực
tế là 67,3m
2
(gồm 59,8m
2
đất ODT và 7,5m
2
đất BHK). Giá trị đất ODT:
25.000.000 đồng/m
2
; giá trị đất BHK 23.000.000đồng/m
2
. Tổng giá trị quyền sử
dụng đất: 1.667.500.000 đồng. Trên đất có tài sản do ông Anh, bà Sen xây dựng:
01 Nhà riêng lẻ loại 01 tầng diện tích 48,7m
2
, giá trị 168.696.800 đồng + gác
gỗ diện tích 20m
2
, giá trị 7.680.000 đồng; 01 nhà tạm diện tích 10.8m
2
, giá trị
10.627.200 đồng; 01 mái che diện tích 4.4m
2
, giá trị 2.016.960 đồng; 01 đồng h
nước có g 234.000 đồng/cái; 01 đồng hồ điện kế chính giá 1.755.000
đồng/cái. Tổng giá trị tài sản trên đất: 191.009.960 đồng. Tổng giá trị tài sản
tranh chấp là 1.858.509.960 đồng.
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 65/2021/HNGĐ-ST, ngày 17
tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố An, tỉnh Bình Dương
tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thế Anh về
việc yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn với bà Nguyễn Thị Sen.
2. Buộc Nguyễn Thị Sen giao cho ông Nguyễn Thế Anh quản lý, sử
dụng 01 nhà riêng lẻ loại 01 tầng diện tích 48,7m
2
gác gỗ diện tích 20m
2
; 01
nhà tạm diện tích 10.8m
2
; 01 mái che diện tích 4.4m
2
; 01 đồng hồ nước ; 01
đồng hồ điện kế chính, gắn liền thửa đất 8090, tbản đồ số 02, đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số CL 997696, số vào sổ cấp GCN: CS14946 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Bình Dương cấp ngày 20/07/2018, nhà đất tọa lạc tại 16/22
Phan Đình Giót, khu phố Đông B, phường Đông Hòa, thành phố An, tỉnh
Bình Dương. (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Ông Nguyễn Thế Anh có trách nhiệm liên hệ với Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai thành phố An, tỉnh Bình Dương để điều chỉnh giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CL 997696, số vào sổ cấp GCN: CS14946 từ sở hữu
chung của ông Nguyễn Thế Anh và Nguyễn Thị Sen sang sở hữu riêng của
ông Nguyễn Thế Anh theo quy định của Luật đất đai.
3. Buộc ông Nguyễn Thế Anh trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
trả nợ cho Ngân hàng TMCP Phương Đông Chi nhánh Bình Dương Phòng
giao dịch Lái Thiêu theo Hợp đồng tín dụng số 5805/2018/PLT/HĐTD ngày
13/06/2018 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 5805/2018/PLT/HĐTD/SĐBS-01
ngày 24/07/2018.
4. Buộc ông Nguyễn Thế Anh nghĩa vụ thanh toán cho Nguyễn Thị
Sen số tiền 547.136.980 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí ttụng quyền
kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 20/5/2021 bị đơn Nguyễn Thị Sen nộp
đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án.
6
Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị Sen
Thị Hoa trình bày: Hiện nay Sen không có nhà để ở, bản thân ông Anh
quản căn nhà nhưng ông Anh không sử dụng mà cho người khác thuê. Do
vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Sen,
giao phần đất có diện tích diện tích 67,3m
2
, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số
02 cho bà Sen trực tiếp quản lý. Bà Sen bồi hoàn cho ông Anh 1/2 giá trị tài sản.
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ngoài phần đất
và nhà tranh chấp ông Anh không có chỗ ở nào khác, ông Anh mong muốn được
nhận bằng hiện vật để chăm lo cho con chung. Đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Phần đất tranh chấp diện tích
67,3m
2
, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 là tài sản chung của vợ chồng
ông Anh Sen. Trên thực tế ông Anh Sen đều thừa nhận mỗi người
đang quản 1 căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất riêng. Do vậy, Tòa án án
cấp sơ thẩm quyết định giao tài sản gắn liền với quyền sử dụng phần đất diện
tích 67,3m
2
, thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 cho ông Anh trực tiếp quản
buộc ông Anh phải bồi hoàn cho Sen được hưởng ½ giá trị tài sản
căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ngày 17/5/2021, Tòa án nhân dân thành phố An, tỉnh
Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án, ngày 20/5/2021 bị đơn bà Nguyễn Thị Sen
đơn kháng cáo toàn b bản án thẩm trong thời hạn theo quy định tại Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thế Anh
Nguyễn Thị Sen cùng thống nhất: Ông Anh, bà Sen vợ chồng đã ly hôn hôn
theo quyết định của Bản án số: 55/2020/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2020
của Tòa án nhân dân thành phố An, tỉnh Bình Dương. Khi ly hôn, ông Anh
Sen không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản. Quá trình chung
sống vợ chồng 02 người con chung. Khi ly hôn Tòa án đã giao con chung
Nguyễn Thị Hồng My, sinh ngày 25/5/2015 cho Nguyễn Thế Anh trực tiếp nuôi
dưỡng giao con chung Nguyễn Thị Thùy m, sinh ngày 16/9/2012 cho chị
Sen trực tiếp nuôi dưỡng.
[3] Giữa nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận phần đất diện tích
67,3m
2
tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 8090, tờ bản đồ số 02 theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
đất số CL997696, số vào sổ CS14946 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bình Dương cấp ngày 20/7/2018 cho ông Nguyễn Thế Anh Nguyễn Thị
7
Sen tài sản chung của vợ chồng. Xét thấy, đây tình tiết chứng cứ không
phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên
đơn và bị đơn đều đống ý chia đôi tài sản chung và yêu cầu được nhận bằng hiện
vật. Tuy nhiên, phần đất các đương sự yêu cầu được chia không đảm bảo diện
tích tối thiểu tách thửa theo quy định pháp luật. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm giao
cho 1 bên quản lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4]. Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị Sen vviệc yêu cầu được
nhận phần đất diện tích 67,3m
2
tài sản gắn liền với đất. Hội đồng xét xử
nhận thấy: Trong quá trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án tại cấp thẩm bị
đơn Nguyễn Thị Sen đều xác định hiện nay đang quản lý, sdụng 01 căn
nhà kết cấu 1 trệt, 1 lầu gắn liền phần đất diện tích khoảng 70m
2
, nhà
đất tọa lạc tại tổ 24, khu phố Đông Tác, phường Tân Đông Hiệp, thành phố
An, tỉnh Bình Dương tài sản chung của vợ chồng chưa chia. Như vậy, Sen
đã chỗ ổn định. Về phía Nguyễn Thế Anh người trực tiếp quản sử
dụng phần đất tranh chấp, ngoài ra ông Anh không nơi nào khác các
đương sự đều trực tiếp là người đang nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Tòa án cấp
thẩm quyết định giao cho ông Nguyễn Thế Anh sử dụng tài sản và buộc ông
Anh phải bồi hoàn cho Sen ½ giá trị tài sản có căn cứ, phù hợp với quy
định tại Điều 2, Điều 33, khoản 5 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình nên không
có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về phần này.
[5] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Sen về số tiền nợ Ngân hàng
637.856.000 đồng. Với do mặc dù khoản nợ chung nhưng ông Anh chỉ
sử dụng một phần vào việc thanh toán tiền mua đất phần còn lại ông Anh sử
dụng để kinh doanh quán café nên Sen chỉ đồng ý thanh toán 200.000.000
đồng. Hội đồng t xử nhận thấy: Các đương sự đều xác định khoản nợ Ngân
hàng được vay trong thời kỳ hôn nhân và dùng khoản nợ để thanh toán tiền mua
thửa đất số 8090. Do vậy căn cứ xác định đây khoản nợ chung của vợ
chồng ông Anh Sen. Vphía bị đơn xác định chỉ sử dụng 1 phần khoản
vay vào mục đích chung mua đất, phần còn lại ông Nguyễn Thế Anh sử dụng
vào mục đích kinh doanh quán phê. Xét thấy, quá trình tố tụng bị đơn
Nguyễn Thị Sen không có yêu cầu phản tố chia phần tài sản ông Anh đã sử dụng
nguồn tiền vay chung của vợ chồng vào mục đích đầu tư quán cafe trong vụ án
này, đồng thời Sen cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc
ông Anh đã sử dụng stiền vay nNgân hàng để sdụng vào việc riêng
nhân của ông Anh nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn
về phần này. Trong trường hợp này bị đơn quyền khởi kiện trong một vụ án
khác để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy không có n cứ
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về nội dung kháng cáo này.
Từ những phân tích nêu trên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của bị đơn Nguyễn Thị Sen.
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu kháng cáo
của bị đơn không có căn cứ chấp nhận.
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là có căn cứ.
8
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp.
Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được
chấp nhận nên người kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Điều
313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Sen.
2. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 65/2021/HNGĐ-
ST, ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình
Dương.
3. Án phôn nhân gia đình phúc thẩm: Nguyễn Thị Sen phải nộp
300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền bà Sen nộp tạm ứng theo Biên lai thu số
AA/2016/0049671 ngày 04/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ
An, tỉnh Bình Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
- TAND thành phố Dĩ An;
- Các đương sự;
- Tổ Hành chính Tư pháp;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa GĐ&NCTN.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Văn Chum
9
CÁC THẨM PHÁN
Đoàn Hoài Trí
Lƣu Thị Mỹ Hƣơng
Đặng Văn Chum
10
11
12
13
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bình Dương, ngày 05 tháng 3 năm 2019
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 11 giờ 30 phút, ngày 05 tháng 3 năm 2019.
Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Với hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Lưu Thị M Hương
Ông Nguyễn Văn Trường
Ông Đoàn Hoài Trí
Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số 105/2018/TLPT-
HNGĐ, ngày 27 tháng 9 năm 2018 về việc tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi
congiữa các đương sự:
14
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Cảnh Hào, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 35
đường số 52, Khu phố 2, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương.
2. Bị đơn: Trần Thị Mỹ, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Số 35
đường số 52, Khu phố 2, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương; chỗ ở hiện nay: Xóm 9, Hưng Phúc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ
An.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Xuân Tín, sinh năm 1960;
3.2. Bà Dương Thị Thanh, sinh năm 1966;
Cùng địa chỉ: Xóm 9, xã Hưng Phúc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU
Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến 3/3 như sau:
- Căn cứ khoản 1 Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 Điều 313 Bộ
luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mỹ.
2. Sửa Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 105/2018/HNGĐ-ST,
ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh
Bình Dương như sau:
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Cảnh Hào đối với bị đơn Trần Thị Mỹ về việc “tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
Về con chung: Trần Thị Mỹ vẫn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu
Nguyễn Ngọc Trang My, sinh ngày 12/9/2013.
Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể
thay đổi người trực tiếp nuôi con mức cấp dưỡng nuôi con sau này nếu cần
thiết. Không ai được quyền cản trở ông Nguyễn Cảnh Hào trong việc thăm nom,
chăm sóc con chung.
2.2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Cảnh Hào phải
chịu số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba
trăm ngàn) đồng ông Hào đã nộp tạm ứng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số AA/2016/0021919 ngày 24/4/2018 của Chi cục Thi nh án dân
sự thành phố Th Dầu Một.
15
3. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Trần Thị Mỹ không phải
nộp. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một hoàn trả bà Mỹ số tiền
300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số
0022798 ngày 08/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu
Một, tỉnh Bình Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Biên bản nghị án kết thúc vào lúc 11 giờ 40 phút. Biên được các thành
viên Hội đồng xét xử thông qua và thống nhất ký tên.
C THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Trƣờng
Đoàn Hoài Trí
Lƣu Thị Mỹ Hƣơng
Tải về
Bản án số 22/2021/HNGĐ-PT Bản án số 22/2021/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất