Bản án số 22/2020/HNGĐ-ST ngày 22/06/2020 của TAND TP. Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2020/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 22/2020/HNGĐ-ST ngày 22/06/2020 của TAND TP. Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Sầm Sơn (TAND tỉnh Thanh Hóa)
Số hiệu: 22/2020/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 22/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 6- 2020
V/v“Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Đc lập - T do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòà: Bà Bùi Thị Thuyên;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thơm;
Ông Chu Ngọc Trọng;
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn: Ông Quang
Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm
Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai
vụ án Hôn nhân gia đình thẩm thụ
số: 183/2019/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019, về việc: “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa ván ra xét xử số: 15/2020/
QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 Quyết định hoãn phiên tòa số:
14/2020/QĐHPT-HNGĐST ngày 16/6/2020. Giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị T – sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Khu phố Hoan Kính, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc H sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Khu phố Minh Cát, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/11/2019; bản tự khai ngày 13/01/2020
lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê
Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Khắc H kết hôn với nhau năm 2014 do hai bên
tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới và làm thủ tục đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Kể tsau khi
2
kết hôn tình cảm vợ chồng sống vui vhạnh phúc sinh được cháu Nguyễn Thị
V, sinh ngày 06/12/2014. Đến năm 2018 vchồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân do anh H quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên vợ chồng
thường xuyên cải vả, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh
phúc, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 3/2019 cho đến nay. Nay xét thấy
tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T đề
nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn đối với anh Nguyễn Khắc H.
Về vấn đề nuôi con chung: Anh H chT, sinh được một người con chung
cháu tên Nguyễn Thị V, sinh ngày 06/12/2014, nguyện vọng chị T, sau khi ly
hôn được nuôi cháu V yêu cầu anh H phải nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi
con chung mỗi tháng 3000,000đ (ba triệu đồng).
Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Khắc H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án
đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo đúng quy định
của pháp luật, nhưng anh H, đều vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Như vậy, anh H tự từ chối thực hiện quyền lợi nghĩa vụ của mình theo qui định
tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xác minh về nơi trú của anh H: Anh H đăng ký tại khu phố Minh Cát,
phường Q, thành phố S, hàng ngày anh H, đi làm ở phường Q, thành phố S, tối anh
H mới về nhà.
Xác minh về tình trạng hôn nhân tại chính quyền địa phương cho biết: Chị Lê
Thị T và anh Nguyễn Khắc H có đăng ký tạm trú tại khu phố Minh Cát, phường Q,
thành phố S. Quá trình chung sống đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do
bất đồng quan điểm sống. Nay chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn
với anh H. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án hòa giải mong muốn
vợ chồng quay về đoàn tụ để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy
con cái cho tốt. Nếu chị T kiên quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án xem xét giải
quyết theo qui định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết ván anh H đều vắng mặt không do. Do đó
việc tiến hành hòa giải giữa các đương sự không thể thực hiện được. vậy, vụ
án này thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo qui định tại khoản 1
Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, anh H vẫn vắng mặt không có lý do.
Trong phần tranh tụng tại phiên tòa: Chị T giữ nguyên nội dung đơn khởi
kiện.
3
Đại diện Viện kiểm phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân
theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư Tòa án của
những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo qui định của
Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật hôn
nhân gia đình năm 2014, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thị T, xử cho chị
Lê Thị T được ly hôn đối với anh Nguyễn Khắc H.
Về con chung: Căn cứ các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014. Đề nghị giao cháu Nguyễn Thị V, sinh ngày 06/12/2014 cho chị T
trực tiếp nuôi dưỡng yêu cầu anh H phải nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con
chung mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi.
Về án phí: Chị Trang anh Hoàng phải nộp tiền án phí Hôn nhân gia
đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm
tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đủ sở nhận
định:
[1] Vthủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình về
việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo qui định tại khoản 1 Điều 28;
điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố trụng dân sự. Vụ án này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa vụ án thuộc
trường hợp không tiến hành hòa giải được qui định tại khoản 1 Điều 207 của
BLTTDS. Việc quyết định đưa vụ án ra xét xử phù hợp và đảm bảo quyền lợi
cho các bên đương sự là phù hợp đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Chị Lê Th T và anh Nguyễn Khc H, tự nguyện tìm hiểu
đi đến n nhân và đưc hai n gia đình đng ý tổ chức lễ cưới theo phong tục
truyền thống địa phương, tại thời điểm kết hôn chị T anh H, đủ điều kiện kết
hôn theo qui định tại điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và được Ủy ban
nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận đăng
kết hôn ngày 07/01/2014 là phợp với qui định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia
đình năm 2014. Như vậy, thời kỳ hôn nhân chị T anh H, được pháp luật công
nhận là hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu đơn khởi kiện của chị Thị T: Nguyên nhân chị T làm đơn
xin ly hôn anh H, là do nghi anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, kể
từ đó vchồng thiếu tin tưởng lẫn nhau thường xuyên cải vả, bất đồng quan
4
điểm sống, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, kể ttháng 3/2019 vợ chồng
đã sống ly thân nhau cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án ng như tại
phiên tòa Hội đồng xét xử đã phân tích cho chị T biết: Ly n mặt trái của
hội khuyên chị T quay về đoàn tụ với anh H đcùng nhau xây dựng hạnh phúc
gia đình nuôi dạy con cái cho tốt. Chị T cho biết chị cũng đã suy nghĩ ly hôn
sẽ làm ảnh hưởng đến con cái, nhưng cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh H không
tiến triển tốt đẹp, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không
đạt được nên chị kiên quyết xin ly hôn anh H. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H
là cần thiết.
[4] Về quyền nuôi con chung: Chị T nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn
Thị V, sinh ngày 06/12/2014. Tại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ
án, chị T yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng
3000.000đ/tháng cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi, nhưng sau khi nhận quyết định
đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa, chị T xét thấy anh H hiện nay lao động tự
do thu nhập không ổn định nên chị chỉ yêu cầu anh H nghĩa vụ cấp dưỡng tiền
nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ. Xét thấy, nguyện vọng của chị T là phù hợp
với mức thu nhập lao động tự do của anh H nên cần được xem xét chấp nhận.
[5] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Thị T, phải chịu tiền án phí hôn nhân gia
đình thẩm; anh Nguyễn Khắc H, phải chịu tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo
qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 203; khoản 1 Điều
207; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 235; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82 Điều 83
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định
về án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thị Trang, chị Thị T
được ly hôn với anh Nguyễn Khắc H.
Về quyền nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị V, sinh ngày 06/12/2014
cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Khắc H, phải nghĩa vụ
5
cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn
đồng), cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Anh H, không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ
tôn trọng quyền của con được chung sống với chị Trang, anh Hoàng quyền,
nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Lê Thị T, phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí hôn nhân gia đình thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí chị T đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006089 ngày 9/12/2019 tại Chi
cục Thi hành án dân sthành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (chị Trang đã nộp đủ
tiền án phí); anh Nguyễn Khắc H, phải nộp 300.000đ tiến án phí cấp dưỡng nuôi
con.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn chị Lê Thị
T, vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Khắc H. ChThị T quyền kháng cáo bản án
này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; anh Nguyễn Khắc H có quyền
kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc kể từ khi
bản án được niêm yếu công khai tại UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh
Hóa.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự.
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận: TM/HI ĐNG XÉT X SƠ THM
- Các đương sự; Thẩm pn Ch tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
- VKSND tnh Thanha;
- VKSNDTP S;.
- Chi cục THADSTP S;
- UBND. P. Q;
- Lưu hồ vụ án.
i Thị Thuyên
Tải về
Bản án số 22/2020/HNGĐ-ST Bản án số 22/2020/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất