Bản án số 214/2017/HS-ST ngày 07/11/2017 của TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 214/2017/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 214/2017/HS-ST ngày 07/11/2017 của TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Vũng Tàu (TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
Số hiệu: 214/2017/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/11/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Bản án số: 214/2017/HS-ST
Ngày: 07 11 2017
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Mai
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Dũng
Ông Đặng Ngọc Thương
- Thư phiên toà : Bùi Thị Ngát Thư Tòa án nhân dân thành phố
Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu,
tỉnh Rịa-Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ số
218/2017/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2017 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thị Phƣơng A, sinh năm 1979, tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu;
HKTT: 412/5 đường T, phường 8, TP V, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu; chỗ ở khi bị
bắt: phòng số 301 Nhà nghỉ M, số 300 đường N, phường 7, TP V; trình độ học vấn:
01/12; nghề nghiệp: không; cha: Nguyễn Hoàng M, đã chết; mẹ: Nguyễn Thị Thu
Ng, SN: 1957;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11 tháng 7 năm 2017, hiện đang tạm giam tại
Nhà tạm giữ Công an TP Vũng Tàu. (bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Qua các tài liệu trong hồ vụ án quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 17
h
15’ ngày 11/7/2017, con nghiện n Nguyễn H, đến phòng số
301 Nhà nghỉ M, số 300 đường N, phường 7, TP Vũng Tàu gặp Nguyễn Thị Phương
2
A, hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp (tên gọi khác hàng đá) với giá 200.000đ. A
đồng ý và bán 01 gói MTTH cho H với g200.000đ, thì bị lực lượng Cụm đặc
nhiệm phòng chống tội phạm ma túy s 3- Bộ lệnh Cảnh sát biển (LLCụm
ĐNPCTPMT số 3- BTL CSB) kết hợp với Công an phường 7, TP V bắt qutang.
quan chức năng thu giữ được tang, tài vật của A gồm: 200.000đ (là tiền vừa
nhận của con nghiện); 02 gói nylon, hàn n bên trong chứa chất tinh thể màu trắng
(A khai là MTTH); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, kèm sim số: 0933975450. Thu
trên tay của con nghiện tên Nguyễn Lê H: 01 gói nylon, hàn kín bên trong chứa chất
tinh thể màu trắng (cả hai cùng khai là MTTH, A vừa bán cho H).
Quá trình điều tra, A khai nhận: A sử dụng MTTH khoảng 3 tháng nay.
Nguồn ma túy, A mua của một thanh niên cũng tên A không lai lịch TP V
bán với giá: 1.200.000đ/1 gói đsử dụng. A quen biết sdụng chung ma túy
với con nghiện tên H nên H biết A ma túy. A đã 02 lần bán MTTH cho H đều tại
địa điểm phòng số 301 Nhà nghỉ M số 300 đường N, phường 7, TP V. Cụ thể: lần
thứ nhất vào ngày 10/7/2017, A bán 01 gói MTTH với giá 200.000đ; lần thứ hai
vào lúc 17
h
15’ ngày 11/7/2017, A bán 01 gói MTTH với giá 200.000đ thì bị bắt quả
tang. Cứ mỗi lần bán ma túy cho con nghiện, A lời 50.000đ.
Lời khai của Nguyễn Thị Phương A phù hợp chứng cứ thu thập được phù
hợp lời khai con nghiện Nguyễn H. H khai đã 02 lần mua MTTH do A bán với
số tiền, số lượng MTTH, thời gian và địa điểm mua bán như trên.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan
điểm truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Các vấn đề khác:
Bản kết luận giám định số: 165/GĐ-PC54 ngày 28 tháng 7 năm 2017 của
phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận:
1. Chất kết tinh không màu- trong suốt chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín,
được niêm phong trong một phong màu trắng (số thứ tự: 01), hình dấu của
Công an phường 7- CATP Vũng Tàu, tỉnh Rịa- Vũng u, cùng các chữ ghi
họ tên: Trung tá Trí Đức, Nguyễn H, Trần Quang Long, Nguyễn Thị Phương
A, Nguyễn Xuân Thành, gửi đến giám định trọng lượng 0,1816 gam, chất
ma túy, loại Methamphetamine.
2. Chất kết tinh không màu- trong suốt chứa trong 02 (hai) gói nylon hàn kín,
được niêm phong trong một phong màu trắng (số thứ tự: 02), hình dấu các
chữ ký ghi họ tên như trên mục 1, gửi đến giám định trọng lượng là 1,7087 gam,
là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định
82 ngày 19/7/2013 của Chính Phủ.
3
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về kết
luận giám định.
3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản cáo trạng số 224/CT-VKS ngày 19/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương A về tội Mua bán trái phép
chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu đề nghị
HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46; Điều 33
BLHS năm 1999, đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Đề
nghị không phạt tiền đối với bị o. Về xử vật chứng: đề nghị HĐXX tịch thu
tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám đnh; tịch thu sung ng 01 ĐThiệu Nokia
và 200.000đ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy
tố của Viện kiểm sát
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: “Bị cáo rất hồi hận về
hành vi phạm tội, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố
Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị
cáo những người tham gia tố tụng khác không ai ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó
các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với diễn biến của
vụ án đã xảy ra, tài liệu do quan điều tra thu thập được, lời khai của con nghiện
biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ trong vụ án, kết luận
giám định của quan chuyên môn, từ đó Hội đồng xét xđủ sở đkết luận:
Khoảng 17
h
15’ ngày 11/7/2017, tại phòng số 301 Nhà nghỉ M, số 300 đường N,
phường 7, TP V, Nguyễn Thị Phương A bán 01 gói MTTH cho con nghiện n
Nguyễn H, thì bị LLCụm ĐNPCTPMT số 3- BTL CSB kết hợp với Công an
phường 7, TP Vũng Tàu bắt quả tang. Tổng trọng lượng MTTH thu giữ của bị cáo
trọng lượng MTTH bị cáo bán cho con nghiện tên H 1,8903 gam chất ma
túy, loại Methamphetamine. Tính đến ngày bị bắt, bị cáo đã hai lần bán MTTH cho
con nghiện tên H, do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép
chất ma tuýtheo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
4
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị
cáo nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về
quản các chất ma túy, hành vi của bị cáo không những ảnh hưởng đến đời sống
kinh tế trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, làm mất A ninh trật tự tại địa phương mà
còn tạo điều kiện cho bọn mua bán ma y hoạt động, do đó cần mức án tương
xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng răn đe, phòng ngừa
chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải về hành vi phạm tội của mình; tự thừa nhận về hành vi phạm tội nhiều lần nên bị
cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm
o, p khoản 1 Điều 46 của BLHS năm 1999.
Mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà
đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở để chấp nhận
[5] Về hình phạt bổ sung: Bo con nghiện, không nghề nghiệp và thu
nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 41 BLHS năm 1999 và Điều
76 BLTTHS năm 2003
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia bị cáo sử
dụng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy; 200.000đ là tiền mua bán ma túy.
[7] Về án phí HSST: B cáo phải nộp án phí theo quy định tại Điều 23 của
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc
hội, quy định về án phí và lệ phí.
các l trên;
QUYÊ
́
T ĐỊNH:
1. Tuyên bố bcáo Nguyễn Thị Phƣơng A phạm tội Mua bán trái phép
chất ma túy”
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999; điểm o, p khoản 1
Điều 46; Điều 33 BLHS năm 1999
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phƣơng A 07 (bảy) năm . Thời hạn tù tính
từ ngày 11 tháng 7 năm 2017
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS và Điều 76 BLTTHS;
- Tịch thu tiêu hủy 02 gói niêm phong số 165/1 và 165/2GĐ PC 54 ngày 28
tháng 7 năm 2017
- Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia kèm sim
200.000đ (hai trăm ngàn đồng)
5
(Toàn bộ vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng u đang
quản theo Biên bản giao nhận vật chứng, i sản số 27/BB.THA ngày 25/10/2017
và Biên lai thu tiền số 0008387 ngày 27/10/2017)
5. Án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS năm 2003 Điều 23 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án (07/11/2017) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Rịa - Vũng Tàu xét xử
phúc thẩm.
TM. HỘI ĐÔ
̀
NG XE
́
T XỬ SƠ THÂ
̉
M
THÂ
̉
M PHA
́
N - CHỦ TỌA PHIÊN TO
̀
A
Nơi nhận:
- TAD tỉnh Bà Rịa – ng Tàu;
- VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
- Công A tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu( PV27);
- Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; ã ký)
- VKSND thành phố Vũng Tàu;
- Công A thành phố Vũng Tàu;
- Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; Trần Thị Mai
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Tải về
Bản án số 214/2017/HS-ST Bản án số 214/2017/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất