Bản án số 208/2022/DS-PT ngày 27/09/2022 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 208/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 208/2022/DS-PT ngày 27/09/2022 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 208/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/09/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 11/10/2019 tôi có cho vợ chồng ông Q, bà A vay số tiền 780.000.000đ (Bảy trăm tám mươi triệu đồng), mục đích để mua đất rẫy cà phê, hẹn 30 ngày sau sẽ trả, sau khi vay ông ông Q, bà A trả cho tôi được 530.000.000đ (năm trăm ba mươi triệu đồng). Số còn lại 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng) vợ chồng ông Q, bà A chưa trả được. Nay tôi yêu cầu vợ chồng ông Q, bà A phải trả cho tôi tổng số tiền 275.000.000đ, trong đó nợ gốc 250.000.000đ, lãi suất 25.000.000đ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 208/2022/DS-PT
Ngày: 27-9-2022
V/v: Tranh chp hp đồng vay tài sn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Tuyết
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Tú
Ông Nguyễn Ngọc Sâm
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Phúc - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Chí Hiếu
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án n sự thụ số: 178/2022/TLPT-DS ngày 18
tháng 8 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sn”.
Do bản án dân sự thẩm số: 26/2022/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2022
của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 184/2022/QĐ-PT
ngày 22 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệu H
Địa chỉ: Thôn 6, D, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
* B đơn: - Ông Võ Hng Q, vắng mặt.
- Bà ĐThA, có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã B, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Anh T
Địa chỉ: I10 Trần Khánh D , Tp. B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Hồng Q, bà Đỗ Thị A.
2
NI DUNG VÁN:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Diệu A trình bày:
Vào ngày 11/10/2019 tôi cho vợ chồng ông Q, bà A vay số tiền
780.000.000đ (Bảy trăm tám mươi triệu đồng), mục đích để mua đất rẫy cà phê,
hẹn 30 ngày sau sẽ trả, sau khi vay ông ông Q, A trả cho tôi được
530.000.000đ (năm trăm ba mươi triệu đồng). Số còn lại 250.000.000đ (hai trăm
năm mươi triệu đồng) vợ chồng ông Q, bà A chưa trả được.
Nay i yêu cầu vợ chồng ông Q, A phải trả cho tôi tổng số tiền
275.000.000đ, trong đó ngốc 250.000.000đ, lãi suất 25.000.000đ (tiền lãi tính
từ 11/10/2019 đến ngày 04/8/2021 với lãi suất 0,8%/tháng, nhưng tôi chỉ tính
25.000.000đồng.
- B đơn Đỗ Thị A, ông Hồng Q ông Đặng Anh T đại diện
theo ủy quyền của ông Q, bà A trình bày:
Vào ngày 11/10/2019 vợ chồng bà Acó vay của H vay số tiền
780.000.000đ (Bảy trăm tám mươi triệu đồng), mục đích để đáo hạn ngân hàng.
Sau khi đáo hạn xong, ngân hàng giải ngân thì vợ chồng A đã trả cho H
400.000.000 đồng tiền mặt có sự chứng kiến của của anh Mai Ngọc H1 tại Ngân
hàng TMCP S - Phòng Giao dịch Btrả cho H 300.000.000 đồng vào tài
khoản của ông Khắc L . Nvậy vchồng A đã thanh toán 700.000.000
đồng tiền gốc, chỉ còn nợ lại 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
Vchồng ông Q, A cung cấp cho Tòa án một file ghi âm cuộc
hội thoại giữa ông Q1 (là anh trai của ông Q ), A với H thể hiện việc
hiện nay vợ chồng ông Quyền, còn nợ bà Hương số nợ gốc 80.000.000đ
(tám mươi triệu đồng) và lãi suất. Vợ chồng A thừa nhận chữ trong giấy
vay tiền do H cung cấp đúng chữ của vợ chồng A, còn chữ viết
không phải.
Nay H yêu cầu vợ chồng A phải trả số tiền 275.000.000đ, trong đó
nợ gốc 250.000.000 đồng, lãi suất 25.000.000 đồng thì vchồng A không
đồng ý. Không đồng ý với lời trình bày của H về mục đích vay thời hạn
thanh toán. Vợ chồng Achỉ đồng ý trả 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng)
lãi suất theo quy định pháp luật.
-Tại bản tự khai người làm chứng ông Mai Ngọc H1 trình bày: Tôi
nhân viên Ngân hàng Sacombank, tôi có thời gian làm hồ sơ vay vốn cho ông Q,
A nên tôi có biết ông Q, bà A. Trong vụ việc vay mượn tiền giữa ông Q, bà A
với bà H như thế nào thì tôi không biết thông tin về việc vay mượn ông Q, bà
A với bà H.
3
-Người làm chứng ông Hồng Q1trình bày: Tôi anh của vợ chồng
ông Q, A. Vào ngày 21/4/2022 tôi cùng em dâu A đến nhà H để
xin cho em tôi số nợ lãi, trong cuộc hội thoại H thừa nhận còn nợ lại
80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) gốc và lãi suất nhân ra cho đến nay là thành
số tiền bà H đang khởi kiện. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
H .
Ti Bn án s 26/2022/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2022 ca Toà án nhân
dân thxã B, tnh Đk Lk đã quyết định:
Căn cứ Điều 463; khoản 1 Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Diệu H , buộc vợ chồng ông Võ Hồng
Q, Đỗ Thị A phải trả cho bà H số tiền 275.000.000đ, trong đó nợ gốc
250.000.000đ, lãi suất 25.000.000đ (Tiền lãi tính từ 11/10/2019 đến ngày
04/8/2021 với lãi suất 0,8%/tháng
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định
của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.
Ngoài ra, a án cấp sơ thm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền
kháng cáo cho các đương s theo quy định ca pháp lut.
Ngày 06/7/2022 ông Hồng Q , Đỗ Thị Akháng cáo toàn b bản án
thm s 26/2022/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2022 ca T án nn dân th xã Bn
H, tnh Đk Lk vi nội dung: Bản án sơ thẩm chp nhận tn b yêu cầu khi kiện
ca nguyên đơn là chưa xemt đầy đ các chng c b đơn xut trình. Đề ngh cp
phúc thẩm xét xử lại v án.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện. Bị đơn
và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Ti phiên a, đại din Viện kiểm sát nhân n tnh Đắk Lắk cho rng:
V tố tụng: Trong quá trình th gii quyết vụ án Thẩm phán, Hội đng xét
x, T , các đương s đã chp hành đúng quy định ca Blut t tng n sự.
4
V nội dung: Cấp thẩm đưa thiếu ngưi tham gia tố tụng, thu thp chứng
c chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ chưa toàn din khách quan m ảnh ởng đến
quyn và li ích cac đương sự. Đ ngh HĐXX căn c khon 3 Điu 308, Điều
310 Blut tố tụng dân schp nhận kháng cáo ca ông Võ Hồng Q , bà Đỗ Thị H
- hủy bản án số 26/2022/DS-ST ny 30 tng 6 năm 2022 của Toà án nhânn th
xã Buôn H, tnh Đk Lk.
NHN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Căn c vào các tài liệu có trong h sơ vụ án đã đưc thẩm tra tại phiên tòa,
căn c vào kết qu tranh lun ti phiên tòa trên cơ s xem t đầy đ c i liu
chng c, li trình bày cac đương sự, ý kiến ca Kiểmt viên, Hội đng xét x
nhn đnh:
[1] V th tc t tụng: Đơn kháng cáo ca ông Hồng Q, Đỗ Thị A
trong hạn luật định, đã np tm ng án phí Dân s phúc thẩm là hợp lệ n đưc
xem xét theo trình t phúc thẩm.
[2] Xét ni dung kháng cáo ca ôngHồng Q, bà Đỗ Thị A, Hội đng xét
xử thy rng:
Ông Hồng Q, Đỗ Thị A thừa nhận vay tiền của H
vào giấy vay ngày 11/10/2019 với nội dung vay của Trần Thị Diệu H số tiền
780.000.000đ (Bảy trăm tám ơi triệu đồng), mục đích để mua đất, hẹn 30
ngày sau sẽ trả, lãi suất do các đương sự thỏa thuận. Ông Q, A cho rằng mục
đích ông bà vay tiền của H là để đáo hạn ngân hàng chứ không phải dùng để
mua đất nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Giấy vay tiền ngày
11/10/2019 thể hiện mục đích vay tiền để mua đất Do đó, lời trình bày của bị
đơn không có căn cứ.
Bị đơn cho rằng sau khi đáo hạn xong, ngân hàng giải ngân thì vợ chồng
A đã trả cho H 400.000.000 đồng tiền mặt sự chứng kiến của anh Mai
Ngọc H1. Tuy nhiên, anh H1 trình bày không biết thông tin gì về việc vay mượn
giữa vchồng A với H. Tại cấp phúc thẩm Ông Q, A không cung cấp
được tài liệu chứng cứ để chứng minh cho việc đã trả cho bà Hương
400.000.000 đồng tiền mặt nên không có căn cứ để chấp nhận.
Ông Q, bà A trình bày đã chuyển trả tại Ngân hàng TMCP S - Phòng Giao
dịch B cho bà H số tiền 300.000.000 đồng vào tài khoản của ông Vũ Khắc L , tại
cấp thẩm H không thừa nhận nhưng cấp thẩm không đưa ông L vào
tham gia tố tụng đtiến hành đối chất làm là thiếu sót. Tuy nhiên, tại cấp
phúc thẩm, H thừa nhận đã nhận số tiền 300.000.000đồng do Ông Q, A
5
chuyển khoản cho ông L và ông L đã rút tiền mặt trả cho . Do đó, việc hủy
bản án sơ thẩm để đưa ông L tham gia tố tụng là không cần thiết.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà H xác nhận Ông Q, bà A đã trả tiền cho bà hai
lần tổng cộng số tiền 530.000.000đồng. Lần 1 ngày 11/10/2019 trả 230.000.000
đồng tiền mặt, lần 2 chuyển khoản vào tài khoản của ông L số tiền 300.000.000
đồng vào ngày 14/10/2019 nhưng khi trả các bên không làm biên bản giao nhận.
H thừa nhận ghi chữ “Ngày 11/10/2019 đã trả 530.000.000 đồng” phía
bên dưới giấy vay tiền ngày 11/10/2019 mục đích để ghi nhớ số tiền vợ chồng
ông Q đã trả cho bà H, chứ không phải ngày 11/10/2019 Ông Q, bà A trả cho bà
01 lần 530.000.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án tại các phiên toà bị đơn
xác nhận chỉ còn nợ lại 80.000.000đồng tiền gốc chưa trả nhưng không căn
cứ chứng minh số tiền mặt bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền 400.000.000
đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, H thừa nhận vợ chồng A đã thanh toán
cho số tiền 530.000.000 đồng bao gồm 230.000.000 đồng tiền mặt
300.000.000 đồng tiền chuyển khoản. Vợ chồng Achỉ cung cấp được chứng
cứ đã chuyển khoản qua ông Vũ Khắc L để trả nợ cho bà H 300.000.000 đồng,
ngoài ra không có chứng cứ nào khác. Do đó, để có lợi cho phía bị đơn cần chấp
nhận số tiền vợ chồng A đã trả cho H số tiền gốc 530.000.000đồng
còn nợ lại 250.000.000 đồng tiền gốc chưa thanh toán.
Đối với file ghi âm có cuộc hội thoại giữa ông Q1 (là anh trai của ông Q ),
A với H thể hiện cuộc hội thoại qua lại giữa các bên nhưng không thể
hiện và không xác nhận cụ thể việc Ông Q, A đã trả 700.000.000 đồng
còn nợ lại của bà Hương số tiền 80.000.000 đồng tiền gốc.
Về lãi suất tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 0,8%/tháng
chỉ yêu cầu bđơn thanh toán 25.000.000 đồng tiền lãi sự tự nguyện của
nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Bản án sơ thẩm chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H buộc vợ chồng ông Võ Hồng Q, bà Đỗ
Thị A phải trả cho bà H số tiền 275.000.000 đồng, trong đó nợ gốc 250.000.000
đồng, tiền lãi 25.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không
căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của ông Hồng Q, Đỗ Thị A giữ
nguyên bản án dân sự thm s 26/2022/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2022 của
Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do đơn kháng cáo không được chấp
nhận nên ông Võ Hồng Q , bà Đỗ Thị A phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
6
Các quyết định khác của bản án không bkháng cáo, kháng nghị hiệu
lực pháp luật kể từ ngày kết thời hạn kháng cáo kháng nghị
Vì các lẽ trên;
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồng Q , Đỗ Thị A giữ
nguyên bản án dân sự thm s 26/2022/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2022 của
Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ Điều 463; khoản 1 Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi của bà Trần Thị Diệu H, buộc vợ chồng ông
Hồng Q, Đỗ Thị A phải trả cho H số tiền 275.000.000 đồng (hai trăm
bảy mươi lăm triệu đồng), trong đó tiền gốc 250.000.000 đồng, tiền lãi
25.000.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định
của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.
[2]. Về chi phí giám định: Ông Q, A phải chịu 6.000.000 đồng tiền chi
phí giám định. Hoàn trả lại cho Trần Thị Diệu H số tiền 6.000.000 đồng sau
khi thu được từ Ông Q, bà A.
[3].Về án phí:
[3.1].Về án phí dân sự thẩm: Ông Hồng Q, Đỗ Thị A phải chịu
13.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Trần Thị Diệu H số tiền tạm ứng án p đã nộp
6.875.000 đồng theo biên lai thu số 60AA/2021/0008308 ngày 05/11/2021 tại
Chi cục thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
[3.2].Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồng Q, Đỗ ThịA phải
chịu 600.000 đồng, khấu trừ số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã
nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án psố AA/2021/0018131, ngày 18/7/2022,
tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
7
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND Thị xã B;
- Chi cục THADS Thị xã B; (đã ký)
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Đinh Thị Tuyết
Tải về
Bản án số 208/2022/DS-PT Bản án số 208/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất