Bản án số 205/2025/HNGĐ-ST ngày 07/05/2025 của TAND tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 205/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 205/2025/HNGĐ-ST ngày 07/05/2025 của TAND tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Nghệ An
Số hiệu: 205/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/05/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 205/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07/5/2025
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và
Gia đình.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa và bà Nguyễn Thị Quế Anh.
- Thư phiên tòa: Trần Thị Diệu Linh, Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Trần Thị Tâm Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét
xử công khai vụ án thụ số 86/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 2 năm 2024
về Tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
222/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 Quyết định hoãn
phiên tòa số 111/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993. Địa chỉ: xóm 5, xã Đông
n, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Chổ hiện nay: 10,86-1,sai daiji nakano;
higashiku, thành phố Okayama, tỉnh Okayama; Nhật Bản Vắng mặt, đơn
xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986. Địa chỉ: xóm 5, Đông
Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản. Vắng mặt.
Người quyền lợi nghĩa vliên quan: Ông Nguyễn Văn Bưởi, sinh
năm 1965 Trần Thị Vinh, sinh năm 1969. Địa chỉ: Xóm 3, Đông Sơn,
huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện các tài liệu trong hồ vụ án, chị Nguyễn Thị H
trình bày:
2
Chị Nguyễn Thị H anh Nguyn Văn Q kết hôn với nhau ngày
21/01/2013 trên cơ sở tự nguyện và tìm hiểu và có đăng kết hôn tại UBND
Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Sau khi ới tình cảm vợ chồng
bình thường. Đến đầu năm 2018 vợ chồng đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản thì
bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay xét thấy tình cảm vợ
chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chH đề nghị Tòa án
nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được lyn với anh Nguyn Văn Q.
Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyn Bảo Long, sinh
ngày 28/9/2013 cháu Nguyễn Bảo An, sinh ngày 27/6/2015. Hiện cháu Bảo
Long đang nội Thị Hiền tại m 5, Đông Sơn, huyn Đô ơng,
tỉnh Nghệ An. Cháu Bảo An với ông ngoại ông Nguyễn Văn ởi
Trần Thị Vinh tại xóm 3, Đông n, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Nay ly
hôn ch có nguyện vọng nuôi cả hai con chung không yêu cầu anh Nguyễn Văn
Q cấp dưỡng. Hiện nay chị H đi làm ăn xa nên nhông Nguyễn n Bưởi
Trần Thị Vinh chăm sóc các con cho đến khi chị về nước.
Vềi sản chung và nợ chung: Không u cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên chị H đề nghTòa án giải quyết, xét xử vắng mặt
chị .
Về phía anh Nguyễn Văn Q: Sau khi thụ vụ án Toà án đã gửi các văn
bản tố tụng; thông báo thụ vụ án; yêu cầu anh Q quan điểm của mình v
việc giải quyết vụ án; gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Q theo thủ tục
niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật nhưng hiện ti
anh Nguyễn Văn Q vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Toà án
đã tiến nh gửi văn bản yêu cầu Thị Hiền (mcủa anh Q) cung cấp địa
chỉ của anh Q tại nước ngoài. Theo trình bày của mẹ anh Q thì hiện tại anh Q
đang sinh sống tại Nhật Bản, điện thoại về cho gia đình nhưng anh Q không
cung cấp địa chỉ cho bà Hiền biết; đã thông báo cho anh Q đã biết việc chị H
làm đơn ly hôn chị tại Tòa án. Anh Nguyễn Văn Q đồng ý ly hôn chị Nguyễn
Thị H.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Bưởi
Trần Thị Vinh trình bày: Ông Nguyễn Văn Bưởi và bà Trần Thị Vinh là bố mẹ đẻ
của chị Nguyễn Thị H. Nay chị H và anh Q ly hôn, ông bà đồng ý chăm sóc, nuôi
dưỡng 02 cháu tên Nguyễn Bảo Long, sinh ngày 28/9/2013 cháu Nguyễn
Bảo An, sinh ngày 27/6/2015. Ông bà không yêu cầu chị H và anh Q trả tiền công
sức chăm sóc, nuôi dưỡng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:
3
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký
phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên
đơn: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ của họ được quy định
tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS 2015. Bị đơn chưa thực hiện quyền nghĩa vụ
quy định tại Điều 70,72 BLTTDS 2015.
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, Chị Nguyễn Thị H anh Nguyễn Văn
Q kết hôn với nhau trên sở tnguyện đăng kết hôn tại Ủy ban nhân
dân Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An nên đây hôn nhân hợp
pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến
cuối năm 2018, vợ chị H và anh Q đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản thì bắt đầu
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn bất đồng quan điểm. Nay chị H
thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị
H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được lyn với anh Q.
Xét thấy tình cảm vchồng phải xuất phát từ hai phía, chị H anh Q
không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị áp
dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn
của chị H, cho chị H và anh Q được lyn.
- Về con chung: Vợ chồng chị Nguyễn Thị H anh Nguyễn Văn Q có 02
con chung là cháu Nguyễn Bảo Long, sinh ngày 28/9/2013 và cháu Nguyễn Bảo
An, sinh ngày 27/6/2015. Hiện nay, cháu Bảo Long cháu Bảo An với ông
ngoại ông Nguyễn Văn Bưởi Trần Thị Vinh địa chỉ: Xóm 5, xã
Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh NghAn. Ly hôn chị H nguyện vọng nuôi
dưỡng, chămc con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng
Xét thấy, hiện nay chị H hiện đang sinh sống làm việc tại Nhật Bản,
địa chỉ trú ràng n anh Q hiện không địa chỉ cụ thể đâu. vậy, đ
đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung đề nghị áp dụng Điều 81, 82, 83, 84
Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao con chung cho chị H trực tiếp chăm
sóc nuôi dưỡng. Tuy nhiên, hiện nay chH đang sinh sống làm việc nước
ngoài nên tạm giao cháu Nguyễn Bảo Long và Nguyễn Bảo An cho ông Nguyễn
Văn Bưởi bà Trần Thị Vinh (bố mẹ của chị Nguyễn Thị H) chăm sóc, nuôi
ỡng trong thời gian chị H nước ngoài. Anh Q quyền thăm nom con
chung, không ai có quyền ngăn cấm, về cấp dưỡng nguyên đơn chưa yêu cầu nên
miễn xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do nguyên đơn không yêu cầu nên không
giải quyết. Đối với bị đơn quá trình giải quyết vụ án Tòa án không nhận được
bất kỳ ý kiến nào của bị đơn về việc giải quyết vụ án nên cần dành quyền khởi
kiện cho bị đơn khi có yêu cầu.
4
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147
BLTTDS.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự quyền kháng cáo theo quy định tại
Điều 479 BLTTDS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: n cứ kết quả trả lời của Phòng quản xuất nhập
cảnh - Công an tỉnh Nghệ An cung cấp thì anh Nguyễn Văn Q, sinh ngày
17/4/1986 đã xuất cảnh ngày 25/5/2022 qua cửa khẩu SBQT Nội Bài, hiện chưa
có thông tin nhập cảnh.
Do anh Q trước khi xuất cảnh địa chỉ cuối cùng tại tỉnh Nghệ An
hiện nay đang nước ngoài nên ván thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, theo trình bày của
Thị Hiền thì anh Q hiện đang lao động Hàn Quốc, có điện thoại về cho gia
đình nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể; anh Q đã biết việc chị H làm đơn ly hôn
anh tại Tòa án, anh Q đồng ý ly hôn. Đến ngày xét xử vụ án anh Q không có văn
bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Như vậy, anh Q đã biết được chị H yêu cầu
ly n nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ vắng mặt tại phiên tòa thuộc
trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. vậy, căn cứ Điều 207; Điều
228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đơn
đề nghị xét xử vắng mặt giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu xin ly hôn
với anh Nguyễn Văn Q. Xét thấy, chị Nguyễn Thị H anh Nguyễn Văn Q kết
hôn với nhau ngày 21/01/2013 trên cơ sở tự nguyện và có tìm hiểu và có đăng
kết hôn tại UBND Đông n, huyện Đô ơng, tỉnh Nghệ An. Sau khi cưới
tình cảm vợ chồng bình thường. Đến đầu năm 2018 vợ chồng đi xuất khẩu lao
động tại Nhật Bản thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm.
vậy, giải quyết cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Q phù
hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Vợ chồng 02 con chung tên Nguyễn Bảo Long,
sinh ngày 28/9/2013 và cu Nguyễn Bảo An, sinh ngày 27/6/2015, ly hôn chị H
nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh Q
cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay, anh Q đang
nước ngoài không biết địa chỉ cụ thể không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng con chung chưa ý kiến. Chị H đang nước ngoài nhưng địa chỉ
cụ thểcó nguyện vọng được nuôi con chung. Vì vậy, giao 02 con chung n
5
Nguyễn Bảo Long, sinh ngày 28/9/2013 cháu Nguyễn Bảo An, sinh ngày
27/6/2015 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay chị H đi làm ăn xa
nên ông Nguyễn Văn Bưởi Trần Thị Vinh chăm sóc c cháu cho đến khi
chị về nước. phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con, phù hợp nguyện
vọng của con đúng quy định tại c Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân
gia đình. nh quyền khởi kiện đòi lại quyền nuôi con sau khi ly hôn cho anh Q.
[4] Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem
xét. Dành quyền khởi kiện cho các dương sự khi có yêu cầu.
[5] Tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu nên Tòa
án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân
gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479
của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H đưc ly n với anh Nguyễn n Q.
2. Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung
tên Nguyễn Bảo Long, sinh ngày 28/9/2013 cháu Nguyễn Bảo An, sinh
ngày 27/6/2015 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay
chị H đi làm ăn xa nên ông Nguyễn Văn Bưởi và bà Trần ThVinh chăm sóc các
cháu cho đến khi chị vềớc. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền
nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn Q cấp dưỡng nuôi con
nên Tòa án không xem xét. quyền lợi của con, khi do chính đáng hoặc
căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì
Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng
nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự
khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí ly hôn thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
6
phí Tòa án số 000002886541 ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Cục thi hành án
dân sự tỉnh Nghệ An.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn Bưởi,
Trần Thị Vinh vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm
yết hợp lệ. Anh Nguyễn Văn Q vắng mặt quyền kháng cáo bản án lên Tòa án
nhân dân cấp cao tại Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được
tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp
luật./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- UBNDĐông Sơn;
- Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
Nguyễn Đức Anh
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
7
HỘI THẨM NHÂN DÂN
Bùi Thị Hoa Nguyễn Thị Quế Anh
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA
PHIÊN TOÀ
Nguyễn Đức Anh
Tải về
Bản án số 205/2025/HNGĐ-ST Bản án số 205/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 205/2025/HNGĐ-ST Bản án số 205/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất