Bản án số 205/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 205/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 205/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 205/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Lan P xin ly hôn anh Phùng Danh Giảng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 205/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2024
v/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà và ông Hoàng Sĩ Quang
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn
Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 203/2024/TLST-HNGĐ
ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly n”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24
tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2024/QĐST-HNGĐ
ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu V, thị
trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phùng Danh G, sinh năm 1993; Địa chỉ trước khi xuất
cảnh: Thôn N, P, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nơi hiện nay: Đài Loan. Vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai trong quá trình giải quyết, nguyên
đơn chị Nguyễn Thị Lan P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Phùng Danh G kết hôn tự nguyện,
đăng kết hôn tại UBND P, huyện G, tỉnh Hải Dương vào ngày
28/02/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống cùng nhau tại nhà bố mẹ
chồng đến năm 2019 thì chuyển ra riêng. Từ thời điểm này, chị anh G
thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Nguyên nhân do tính cách quan
2
điểm sống của vợ chồng không hợp nhau. Tháng 11/2022, anh G đi lao động tại
Đài Loan. Trong thời gian này, chị nghi ngờ anh G quan hệ tình cảm với
người khác nên mâu thuẫn vchồng ngày càng căng thẳng. Tháng 6/2023, chị
đã đưa 02 con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng sống ly thân, không ai quan
tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án
giải quyết cho chị được ly hôn anh G.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Phùng Danh T, sinh ngày
27/11/2011 Phùng Danh T1, sinh ngày 07/5/2015. Hiện nay cả hai con đang
cùng chị. Khi ly hôn, chị xin được nuôi cả 02 con chung. Vcấp dưỡng nuôi
con, chị và anh G tự thỏa thuận nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị không tài sản chung, nợ
chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do chị P không cung cấp được địa chỉ của anh Phùng Danh G ở Đài Loan
nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh G. Bà Hoàng Thị V (là mẹ đẻ
của anh G) trình bày: không biết địa chỉ cthể của anh G nước ngoài nên
không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh G vẫn thường xuyên liên lạc
với qua điện thoại. đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án đã
thông báo cho anh G biết. Quan điểm của anh G xác định vợ chồng đã xảy ra
mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống cũng như bất đồng trong việc làm ăn
phát triển kinh tế gia đình nên chị P đơn xin ly hôn, anh G đồng ý. Về con
chung: Anh G nhất trí để chị P được nuôi cả 02 con chung. Anh G tự trách
nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị P, không đề nghị Tòa án giải quyết. Về
tài sản chung, nợ chung: Anh G xác định không có, không đề nghị Tòa án giải
quyết.
Tại phiên tòa, chP vắng mặt, quan điểm xin vắng mặt. Anh G vắng
mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về
việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử các đương s
bản chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết
vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn
nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn
Thị Lan P ly hôn anh Phùng Danh G. Về con chung: Giao 02 con chung
Phùng Danh T, sinh ngày 27/11/2011 Phùng Danh T1, sinh ngày 07/5/2015
cho chị P nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự tự thỏa thuận nên
3
không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly
hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn anh Phùng Danh G hiện đang sinh sống làm việc tại Đài
Loan, nơi trú trước khi xuất cảnh tại P, huyện G, tỉnh Hải Dương. Căn cứ
theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị P không cung cấp được địa chỉ cụ thể
của anh G ở nước ngoài. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu nhưng gia đình anh G đều
trình bày không biết địa chcụ thể của anh G Đài Loan. Tòa án đã tiến hành
giao các văn bản tố tụng cho Hoàng Thị V mẹ đẻ của anh G để bà V thông
tin lại cho anh G biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị P và anh
G đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp
luật.
[1.3] Tại phiên tòa, chị P vắng mặt, có quan điểm xin xét xử vắng mặt. B
đơn anh G đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết
các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các
đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lan P anh Phùng Danh G
kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện G, tỉnh Hải Dương
vào ngày 28/02/2012 nên hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị P
anh G đều xác định vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ
chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống bất đồng về kinh tế. Từ tháng
11/2022, anh G đi lao động tại Đài Loan. Từ tháng 6/2023, chị đã đưa 02 con về
nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị P
anh G đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị P xin ly hôn, anh G đồng
ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị P anh G đã trầm trọng, anh chị không còn
yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn
4
nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho chị P được ly hôn anh G phù
hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Lan P và anh Phùng Danh G
02 con chung là Phùng Danh T, sinh ngày 27/11/2011 Phùng Danh T1,
sinh ngày 07/5/2015. Hiện nay cả 02 con chung đang cùng chị P. Sau khi ly
hôn, chị P anh G đều quan điểm giao cả 02 con chung cho chị P nuôi
dưỡng, cháu T cháu T1 nguyện vọng ở cùng chị P. Xét thấy, hiện nay anh
G không có mặt tại Việt Nam, cháu T1 bị bệnh về não, thuộc trường hợp khuyết
tật nặng, sống phụ thuộc vào gia đình, nên để đảm bảo quyền lợi của các cháu
cần tiếp tục giao cháu T và cháu T1 cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp
với thực tế đúng quy định của pháp luật. Trường hợp con Phùng Danh T1,
sinh ngày 07/5/2015 đến khi thành niên vẫn không khả năng lao động
không tài sản để tự phục vụ bản thân thì chị P anh G sẽ tiếp tục trách
nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P và
anh T1 tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải
quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Lan P phải chịu án phí hôn nhân gia đình
sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân
gia đình; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227,
Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí
lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chNguyễn Thị Lan P về các vấn đề
sau:
1.1. V quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Lan P ly hôn anh
Phùng Danh G.
1.2. Về quan hệ con chung: X giao cho chị Nguyễn Thị Lan P được
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Phùng Danh T, sinh ngày
27/11/2011 và Phùng Danh T1, sinh ngày 07/5/2015 kể từ tháng 7/2024 cho đến
khi các con chung tròn 18 tuổi. Trường hợp con Phùng Danh T1, sinh ngày
07/5/2015 đến khi thành niên vẫn không khả năng lao động không tài
sản để tự phục vụ bản thân thì chị P và anh G sẽ tiếp tục trách nhiệm trông
5
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không
yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm
nom con chung mà không ai được cản trở.
2. Về án phí: Ch Nguyễn Thị Lan P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng
án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo Biên lai thu tiền số 0000630
ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị P đã
nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng ktừ
ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp
luật.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- UBND xã Phạm Trấn, huyện Gia Lộc, tỉnh
Hải Dương;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Chất
Tải về
Bản án số 205/2024/HNGĐ-ST Bản án số 205/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 205/2024/HNGĐ-ST Bản án số 205/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất