Bản án số 20/2020/DS-ST ngày 21/08/2020 của TAND huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 20/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 20/2020/DS-ST ngày 21/08/2020 của TAND huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hồng Dân (TAND tỉnh Bạc Liêu)
Số hiệu: 20/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn Hiệu - Trần Văn Tính
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 20/2020/DS-ST
Ngày: 21 - 8 - 2020
V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN NHÂN HUYỆN HỒNG DÂN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Chí Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Danh On
2. Ông Lại Thiện Phong
Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Quy Thư a án nhân dân huyện
Hồng Dân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa:
Lê Huyền Mao Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân
mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ số 34/2019/TLST-DS ngày
11 tháng 02 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-DS ngày 09
tháng 3 năm 2020 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960
Địa chỉ: Ấp X, xã N, huyện H, tỉnh B.
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1969
HKTT: Ấp X, N, huyện H, tỉnh B. Chỗ hiện nay: Ấp V, Q, thị
N, tỉnh S.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Trương Thị M, sinh năm 1971
Địa chỉ: Ấp V, xã Q, thị xã N, tỉnh S.
2/ Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1984
3/ Nguyễn Chí L, sinh năm 1987
4/ Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991
2
5/ Nguyễn Mai Đ, sinh năm 1992
6/ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969
7/ Ông Đinh Hoàng H, sinh năm 1973
8/ Ông Nguyễn Văn D (Nguyễn Văn V), sinh năm 1959
9/ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã N, huyện H, tỉnh B.
10/ Nguyễn Thị D, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp Đ, xã N, huyện H, tỉnh B.
(Nguyên đơn, bị đơn có mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
mặt bà Trương Thị M những người còn lại vắng mặt nhưng có đơn đề nghị vắng
mặt.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/12/2018 lời khai của nguyên đơn ông
Nguyễn Văn H nhƣ sau:
Năm 2000, tôi nhận cầm cố 02 công tầm cấy đất ruộng, tọa lạc tại Ấp X,
N, huyện H, tỉnh B của ông Trần Văn T với giá 10 chỉ vàng 24K, thời hạn cố
03 năm. Đến năm 2002 ông T thỏa thuận sang nhượng cho tôi toàn bộ diện
tích đất này với giá 20 chỉ vàng 24K, trừ đi 10 chỉ vàng 24K cố đất tôi chỉ đưa
thêm cho ông T 10 chỉ vàng 24K nhưng tôi không vàng nên quy vàng thành
tiền. Lúc đó vàng 24K giá 480.000 đồng/chỉ, 10 chỉ vàng 24K bằng
4.800.000 đồng nhưng do tôi với ông T anh em nên tôi đưa cho ông T
5.000.000 đồng chẵn. Việc cầm cố cũng như chuyển nhượng đất giữa tôi với
ông T chỉ thỏa thuận miệng không lập văn bản, tại nhà tôi, chỉ vợ tôi với
vợ ông T giao dịch với nhau không ai khác, không người chứng kiến. Tôi
canh tác, sử dụng đất từ năm 2000 đến năm 2017 thì ông T cho rằng đất này ông
cầm cố cho tôi nên đề nghị chuộc lại đất với giá 10 chỉ ng 24K 5.000.000
đồng, tôi không đồng ý nhưng ông T vẫn chiếm đất canh tác đến nay.
Nay tôi yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất
nói trên giữa tôi với ông T. Yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển
nhượng vô hiệu.
Ngày 20/02/2020 ông H nộp đơn khởi kiện bsung đề ngày 18/02/2020
với nội dung yêu cầu bổ sung như sau: Tôi yêu cầu ông T nghĩa vụ trả tiền
hoa lợi trên đất tranh chấp k từ ngày ông T lấy đất lại canh tác ngày
20/10/2017 âm lịch đến ngày 20/10/2019 âm lịch 02 năm, mỗi năm bằng
2.500.000 đồng/công tầm cấy x 02 công x 02 năm bằng 10.000.000 đồng và tiếp
3
tục tính đến ngày xét xử.
Ngoài ra, tôi không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn ông Trần Văn T có lời khai nhƣ sau:
Vào năm 2000 vợ chồng tôi cầm cố cho vợ chồng anh Nguyễn Văn H 02
công tầm cấy đất trồng lúa với giá 01 cây (10 chỉ) vàng 24K, đến năm 2002
chúng tôi có vay tiền của vợ chồng ông H 4.000.000 đồng và tiền lãi là
1.000.000 đồng lúc này chúng tôi thỏa thuận là dùng số tiền vay 5.000.000 đồng
(bao gồm gốc lãi) trừ vào tiền cố đất để không phát sinh lãi (xem như tôi cố
02 công đất cho ông H với giá 01 cây vàng 24K 5.000.000 đồng), không
thời hạn chuộc, khi nào tôi tiền, vàng thì chuộc lại đất. Tất cả những lần giao
dịch, thỏa thuận đều do vợ tôi với vợ ông H thực hiện, tại nhà ông H, không
ai trực tiếp chứng kiến, không lập thành văn bản. Đến khoảng tháng 9 năm 2017
vợ chồng tôi yêu cầu ông H chuộc lại đất nhưng ông H không đồng ý nên không
nhận tiền, vàng nhưng tôi lấy lại đất canh tác từ đó đến nay.
Nay ông H khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giải
quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng bị hủy không đúng sự thật, tôi
không đồng ý. Về yêu cầu tôi trả tiền hoa lợi trên đất từ khi tôi lấy đất lại canh
tác đến nay tôi không đồng ý.
Đối với phần đất tranh chấp được cơ quan chuyên môn xác định đã cấp
quyền sử dụng cho ông Nguyễn Văn D (V) Nguyễn Thị L. Về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp cho Ông D và Lành
tôi sẽ tự thỏa thuận với Ông D và bà Lành để giải quyết, không yêu cầu hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của Ông D và bà Lành tại phần đất tranh chấp.
Ngoài ra, tôi không có yêu cầu gì.
Lời khai của ngƣời quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá
trình giải quyết vụ án:
Bà Trƣơng Thị M trình bày:
Trương Thị M vông Trần Văn T. Mảnh cùng lời khai với
ông Trần Văn T. Bà Mảnh không có yêu cầu gì.
Anh Nguyễn Chí L, Nguyễn Mai Đ, Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị
Cẩm T, Nguyễn Thị D trình bày:
Anh Nguyễn Chí L, Nguyễn Mai Đ, Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị Cẩm
T, Nguyễn Thị D con của ông Nguyễn Văn H. Các anh, chị này cùng lời
khai như sau: Phần đất tranh chấp là của cha, mẹ tôi nhận chuyển nhượng của v
chồng ông Trần n T. Tôi cùng lời khai và ý kiến với cha tôi. Tôi không
4
tranh chấp chia thừa kế với cha tôi. Tòa án xét xử nếu cha tôi được nhận đất hay
tiền thì cha tôi tự hưởng, tôi không hưởng. Tôi không có yêu cầu gì.
Nguyễn Thị L ông Đinh Hoàng H trình bày:
Nguyễn Thị L ông Đinh Hoàng H vợ chồng. Lành và ông
Hôn cùng lời khai nsau: Phần đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn H với
ông Trần Văn T cơ quan chuyên môn xác định có 1.400m
2
nằm tại thửa 0669, tờ
bản đồ số 14 do tôi (Nguyễn Thị L) đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (theo bản đồ địa chính năm 1993) nhưng thực tế tôi không có diện tích
đất này. Cơ quan chuyên môn xác định như vậy lẽ nhầm lẫn hoặc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất bị nhầm lẫn. Đối với diện tích đất này i không
tranh chấp với ông H hay ông T nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề
liên quan đến phần đất này. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi tại
thửa đất này, tôi đã thế chấp cho ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam chi nhánh huyện Hồng Dân để vay vốn.
Ông Nguyễn Văn D (V), bà Nguyễn Thị C trình bày:
Ông Nguyễn Văn D (V), bà Nguyễn Thị C là vợ chồng. Ông D Ca
cùng lời khai như sau: Phần đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn H với ông
Trần Văn T một phần diện tích 1.479.7m
2
tại thửa 0381, tờ bản đồ số 14 tôi
(Nguyễn Văn D) đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo bản đồ
địa chính năm 1993) nhưng thực tế tôi không diện tích đất này. quan
chuyên môn xác định như vậy lẽ nhầm lẫn hoặc cấp giấy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nhầm lẫn. Đối với diện tích đất này tôi không tranh chấp
với ông H hay ông T nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề liên quan
đến phần đất này. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi tại thửa đất này,
tôi đã thế chấp cho ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam
chi nhánh huyện Hồng Dân để vay vốn.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong
quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật. Thẩm phán gửi hồ sơ cho Viện kiểm
sát trễ.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án: Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng của
mình theo quy định pháp luật.
5
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
ông Nguyễn Văn H.
Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn
Văn H và ông Trần Văn T giao dịch hiệu.
Buộc ông Trần Văn T Trương Thị M nghĩa vụ liên đới trả cho
ông Nguyễn Văn H 01 cây vàng 24k, số tiền 5.000.000 đồng tiền chênh lệch
là 54.324.652đ.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H đòi ông Trần
Văn T, Trương Thị M phải trả hoa lợi mỗi năm bằng 2.500.000 đồng/công
tầm cấy.
Về án phí: Buộc ông Trần Văn T Trương Thị M nghĩa vliên
đới nộp án phí dân sự thẩm không giá ngạch số tiền 300.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 2.716.232 đồng.
Ông Nguyễn Văn H chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch đối với yêu
cầu không được chấp nhận nhưng ông H người cao tuổi, đơn xin miễn
thuộc trường hợp được miễn tiền án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
[I] Xét về thủ tục tố tụng:
[1] Vmối quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nên đây là vụ án tranh chấp vđất đai theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ
luật tố tụng dân s. Phần đất tranh chấp tọa lạc tại Ấp X, N, huyện H, tỉnh B
n thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Tòa án nhân dân huyện Hồng
Dân, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Vsự mặt của đương sự: Những người quyền lợi nghĩa v
liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó,
áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những người
này.
[II] Xét về nội dung vụ án:
[1] Xét về vị trí, diện tích và hiện trạng đất tranh chấp: Vào ngày
29/3/2019 Hội đồng thẩm định tiến hành khảo sát, đo đạc, đất tranh chấp qua đó
các đương sự thống nhất vị trí, kích thước phần đất tranh chấp như sau:
Hướng Đông giáp đất ông Trần Văn Mun có cạnh dài 39,55m;
6
Hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Văn H (phần đất không tranh chấp)
cạnh dài 39,5m;
Hướng Nam giáp đất Trịnh Thị Thiền (nay ông Trần Văn Ai) có
cạnh dài 72,2m;
Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị Sáu có cạnh dài 72,4m.
Diện tích 2.879,7m
2
.
Theo hồ địa chính xã Ninh Quới thành lập năm 1993 nằm trong thửa
0669, tờ bản đồ số 14 diện tích 1.400m
2
Nguyễn Thị L giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; nằm trong thửa số 0381, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.479,7m
2
ông Nguyễn Văn D giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo hồ địa chính Ninh Quới thành lập năm 2009 phần đất tranh
chấp nằm trong thửa 181, tờ bản đồ số 6 chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho đối tượng nào.
Hiện trạng: Tại thởi điểm thẩm định phần đất tranh chấp không hoa
màu, cây cối hay vật kiến trúc vì đây là đất trồng lúa nhưng đã thu hoạch xong.
Hội đồng định giá xác định giá trị quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp
theo giá thị trường chuyển nhượng tại địa phương vào thời điểm định giá giá
75.000.000 đồng/01 công tầm cấy (1296m
2
).
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn hai yêu cầu
như sau: Thứ nhất , yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
phần đất tranh chấpgiải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu.
Thứ hai là, yêu cầu ông T trả tiền hoa lợi trên đất tranh chấp kể tngày
ông T lấy đất lại canh tác ngày 20/10/2017 âm lịch đến ngày 20/10/2019 âm
lịch là 02 năm, mỗi năm bằng 2.500.000 đồng/công tầm cấy x 02 công x 02 năm
bằng 10.000.000 đồng và tiếp tục tính đến ngày xét xử.
Xét yêu cầu khởi kiện thứ nhất của nguyên đơn:
Nguyên đơn ông H cho rằng vào năm 2000 ông nhận cầm cố của bị đơn
ông T 02 công tầm cấy đất ruộng giá 10 chỉ Vàng 24K đến năm 2002 thì nhận
chuyển nhượng luôn diện tích đất này giá 20 chỉ Vàng 24K ông H đưa thêm
cho ông T 10 chỉ vàng 24K đủ nhưng đưa cho ông T 5.000.000 đồng quy ra
vàng bằng 10 chỉ vàng 24K. Bị đơn ông T cho rằng năm 2000 ông cố cho ông H
02 công tầm cấy đất ruộng giá 10 chỉ Vàng 24K đến năm 2002 thì trừ số tiền
vay 5.000.000 đồng vào tiền cố đất xem như giá đất cầm cố 10 chỉ Vàng 24K
5.000.000 đồng. Cả nguyên đơn bị đơn đều không đưa ra được chứng cứ
7
chứng minh cho lời trình bày của mình thật. Cho nên không đủ sở xác
định giao dịch giữa nguyên đơn với bị đơn giao dịch cầm cố hay chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Mặt vậy, nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất
chuyển giao cho nhau 02 công tầm cấy đất ruộng; 10 chỉ Vàng 24K
5.000.000 đồng.
Qua xác minh các nhân chứng gồm: Ông Nguyễn Tấn Lực. Ông Lực xác
định: Ông là người lân cận với ông H ông T nên biết được phần đất tranh
chấp là chuyển nhượng chứ không phải cầm cố do ông T và ông H nói lại.
Ông Trần Thanh Hoàng, Trần Văn Cảnh, Thanh Tiến (anh em chú bác
với ông T), Trần Thanh Tuấn, Trần Thị Thùy (em ruột ông T) các nhân chứng
này đều xác định phần đất tranh chấp là chuyển nhượng chứ không phải cầm cố.
Họ biết được là do có quan hệ họ hàng với ông T và ông H.
Đồng thời, theo như tập quán tại địa phương thì giá cầm cố quyền sử dụng
đất luôn thấp hơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Qua kết quả xác minh
tại địa phương t năm 2002 giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo th
trường tại địa phương nơi đất tranh chấp giá từ khoảng 07 chỉ đến 10 chỉ
Vàng 24K/ng tầm cấy. Còn các bên đương sự thực hiện giao dịch với giá 10
chỉ Vàng 24K và 5.000.000 đồng/02 công tầm cấy (5.000.000 đồng tương
đương 10 chỉ Vàng 24K) tức là bằng 10 chỉ Vàng 24K/công tầm cấy.
Nvậy, căn cứ vào lời khai các nhân chứng cũng như giá giao dịch
ông H với ông T giao kết thì sở xác định đây là giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
Xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Mặt
dù, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông T xảy ra
nhưng trên thực tế các bên mới chỉ giao nhận vàng, tiền đất cho nhau chứ
chưa thực hiện hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy đinh
pháp luật. Cho nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa đảm bảo
về mặt hình thức theo quy định tại Điều 124, Điều 689, Điều 697, và Điều 698
Bộ luật dân snăm 2005. Ngoài ra, bị đơn không thừa nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nên không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng và nguyên đơn
cũng yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông T là vô hiệu. Vì vậy, yêu
cầu của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
căn cứ chấp nhận. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
H với ông T hiệu nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vcủa các bên.
8
Theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 khi giao dịch dân sự
hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã
nhận. Ông H nghĩa vụ trả đất cho ông T. Ông T nghĩa vụ trả vàng tiền
lại cho ông H. Do ông T đã lấy lại đất đang quản sử dụng nên ông T được
quyền tiếp tục quản lý sử dụng, ông H không Phải giao lại đất cho ông T. Ngoài
ra, bên lỗi còn phải bồi thường thiệt hại. Tại mục C phần II Nghị quyết 02
ngày 10/8/2004 của HĐTP-TANDTC “Hướng dẫn pháp luật trong việc giải
quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình” thì khi giải quyết hậu quả của
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu thì phải xác định lỗi của
mỗi bên đương sự để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Xét về lỗi làm cho hợp đồng hiệu: Xét thấy các bên giao dịch chuyển
nhượng quyền sdụng đất nhưng không lập thành văn bản, không tuân thủ quy
định pháp luật về giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nên cả ông H
và ông T đều có lỗi ngang nhau.
Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu 10 chỉ ng 24K
5.000.000 đồng.
Giá trị 01 chỉ Vàng 24K theo thị trường hiện nay 5.300.000 đồng. Vậy,
tổng giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu là 58.000.000 đồng.
Giá thị trường phần đất tranh chấp là: 75.000.000đồng/1.296m
2
tức
57.870 đồng/m
2
x 2.879,7m
2
= 166.649.305 đồng.
Phần chênh lệch giá: 166.649.305 đồng 58.000.000 đồng =
108.649.305 đồng.
Do lỗi làm cho hợp đồng hiệu ngang nhau nên mỗi bên phải chịu
50% trách nhiệm (108.649.305 đồng : 2 = 54.324.652 đồng). Vì ông T, bà Mảnh
bên nhận đất nên cần buộc ông T, Mảnh trách nhiệm liên đới trả cho
ông H 01 cây vàng 24K 5.000.000 đồng tiền giá trị chuyển nhượng quyền sử
dụng đất 54.324.652 đồng tiền trên lệch giá.
Xét yêu cầu khởi kiện thứ hai của nguyên đơn:
Ông H yêu cầu ông T có nghĩa vụ trả tiền hoa lợi trên đất tranh chấp kể từ
ngày ông T lấy đất lại canh tác là ngày 20/10/2017 âm lịch đến ngày 20/10/2019
âm lịch 02 năm, mỗi năm bằng 2.500.000 đồng/công tầm cấy x 02 công x 02
năm bằng 10.000.000 đồng và tiếp tục tính đến ngày xét xử.
Xét thấy, do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với
ông T hiệu nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên ngay từ
9
khi xác lập giao dịch. Khi tuyên giao dịch vô hiệu đã có xem xét đến phần chênh
lệch đã đảm bảo quyền lợi của các bên. Do đó, yêu cầu này của ông H không
có căn cứ pháp luật để chấp nhận.
[3] Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất tranh
chấp Ủy ban nhân dân huyện Hồng Dân xác định việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho Ông D Lành tại phần đất tranh chấp là đúng trình
tthủ tục nhưng thực tế không đúng đối tượng. Bởi , Ông D, Lành xác
định mình không đất tại vị trí đó. Nhưng Ông D, Lành không tranh
chấp với ông H và ông T về diện tích đất này và ông T, ông H không yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ông D, Lành tại thửa đất tranh
chấp nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Nếu sau này các đương syêu
cầu thì khởi kiện thành vụ kiện khác.
[4] Đối với ý kiến của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam không yêu cầu ông Nguyễn Văn D (V), Nguyễn Thị L trả nợ
cho ngân hàng nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[5] Đối với các con ông ông H: Do vợ của ông H Hồ Thị Tiên
chết, nhưng các con ông H đều thống nhất xác định không yêu cầu chia thừa kế
nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về chi phí ttụng: Toàn bộ chi phí tố tụng 1.545.000 đồng. Áp
dụng khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự buộc ông
Nguyễn Văn H với ông Trần Văn T và bà Trương Thị M mỗi bên đương sự phải
chịu 50% chi phí tố tụng do yêu cầu khởi kiện của ông H chỉ được chấp nhận
một phần và phần yêu cầu của ông H được chấp nhận vẫn có lỗi của ông H.
Buộc ông Nguyễn Văn H chịu 772.500 đồng tiền chi phí tố tụng. Ông H
đã dự nộp chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng và đã chi hết 1.545.000 đồng còn lại
455.000 đồng hoàn trả cho ông H tại Tòa án.
Buộc ông Trần Văn T Trương Thị M nghĩa vụ liên đới trả cho
ông Nguyễn Văn H 772.500 đồng tiền chi phí tố tụng.
[7] Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Án phí dân sự không có giá ngạch: Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của ông H được chấp nhận nên ông H không phải chịu án phí
đối với yêu cầu này mà ông T và bà Mảnh là người phải chịu.
10
Buộc ông Trần Văn T Trương Thị M nghĩa vụ liên đới nộp
300.000 đồng tiền án phí dân sự không có giá ngạch.
Án phí dân sự giá ngạch: Ông Trần Văn T Trương Thị M phải
chịu trên giá trị phần trách nhiệm bồi thường chênh lệch. Ông Nguyễn Văn H
phải chịu trên giá trị phần trách nhiệm bồi thường chênh lệch yêu cầu không
được chấp nhận.
Buộc ông Trần Văn T Trương Thị M nghĩa vụ liên đới nộp
2.716.233 đồng án phí dân sự có giá ngạch.
Buộc ông Nguyễn Văn H nghĩa vụ nộp 3.216.233 đồng án phí dân sự
giá ngạch. Ông H người cao tuổi đơn xin miễn nộp tiền án phí nên
được chấp nhận. Ông H đã dnộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên
lai số 0006039 ngày 28/01/2019 và 300.000 đồng theo biên lai số 0002952 ngày
20/02/2020 được hoàn trả cho ông H.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử xét
thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ nêu trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm c khoản 1
Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 228,
Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 124, 137, 689, 697, 698 Bộ luật dân sự năm 2005;
- Áp dụng vào các Điều 2; 6; 7, 7a; 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H. Giao
dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H với ông Trần
Văn T là giao dịch vô hiệu.
Buộc ông Trần Văn T Trương Thị M nghĩa vụ liên đới trả cho
ông Nguyễn Văn H 01 cây vàng 24K 5.000.000 đồng và 54.324.652 đồng
tiền chênh lệch giá.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm
11
số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất với số tiền chậm thi
hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Điều 468 Bộ luật dân sự năm
2015.
Ông Trần Văn T được quyền tiếp tục quản lý, sdụng phần đất vị trí,
diện tích như sau: Hướng Đông giáp đất ông Trần Văn Mun có cạnh dài 39,55m;
Hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Văn H (phần đất không tranh chấp)
cạnh dài 39,5m;
Hướng Nam giáp đất Trịnh Thị Thiền (nay ông Trần Văn Ai)
cạnh dài 72,2m;
Hướng Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị Sáu có cạnh dài 72,4m.
Diện tích 2.879,7m
2
. Tọa lạc tại Ấp X, xã N, huyện H, tỉnh B.
Theo hồ địa chính xã Ninh Quới thành lập năm 1993 nằm trong thửa
0669, tờ bản đồ số 14 diện tích 1.400m
2
Nguyễn Thị L giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất; nằm trong thửa số 0381, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.479,7m
2
ông Nguyễn Văn D giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo hồ địa chính xã Ninh Quới thành lập năm 2009 phần đất tranh
chấp nằm trong thửa 181, tờ bản đồ số 6 chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho đối tượng nào.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H vviệc yêu cầu ông
Trần Văn T trả tiền hoa lợi trên đất tranh chấp mỗi năm 2.500.000 đồng/công
tầm cấy.
3. Đối với việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn
D (V) Nguyễn Thị L. Các bên đương sự không ai yêu cầu giải quyết
trong vụ án này nên không xem xét giải quyết.
4. Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam không
yêu cầu ông Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị L trả nợ nên không xem xét, giải
quyết.
5. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Văn T và bà Trương Thị M có nghĩa
vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Văn H 772.500 đồng tiền chi phí tố tụng.
Buộc ông Nguyễn Văn H chịu 772.500 đồng tiền chi phí tố tụng. Ông H
đã dự nộp chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng và đã chi hết 1.545.000 đồng còn lại
455.000 đồng hoàn trả cho ông H tại Tòa án.
6. Về án phí: Án phí dân sự không có giá ngạch: Buộc ông Trần Văn T
Trương Thị M có nghĩa vụ liên đới nộp 300.000 đồng.
12
Án phí dân sgiá ngạch: Buộc ông Trần Văn T Trương Thị M
có nghĩa vụ liên đới nộp 2.716.233 đồng.
Ông Nguyễn Văn H được miễn 3.216.233 đồng án phí dân sự giá
ngạch. Ông H đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số
0006039 ngày 28/01/2019 và 300.000 đồng theo biên lai số 0002952 ngày
20/02/2020 được hoàn trả cho ông H tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng
Dân.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xthẩm công khai. Đương sự mặt tại phiên tòa quyền làm
đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự
vắng mặt tại phiên tòa hoặc không mặt khi tuyên án do chính đáng
thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống
đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh (1b);
- VKSND huyện (2b);
- CC.THADS huyện (1b);
- Các đương sự (7b);
- Lưu hồ sơ vụ án, lưu Tòa án (2b).
Tải về
Bản án số 20/2020/DS-ST Bản án số 20/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất