Bản án số 20/2018/HNGĐ-ST ngày 14/08/2018 của TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 20/2018/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 20/2018/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 20/2018/HNGĐ-ST ngày 14/08/2018 của TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Đồ Sơn (TAND TP. Hải Phòng) |
| Số hiệu: | 20/2018/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/08/2018 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Anh Nguyễn Văn T tranh chấp ly hôn, nuôi con chung với chị Hoàng Thị K |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 20/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14-8-2018
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị Viện
Ông Nguyễn Đức Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ
Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 14-8-2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Đồ Sơn xét xử sơ thẩm
công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2018/TLST-HNGĐ ngày 29-3-2018 về việc ly
hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
16/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19-7-2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ dân phố
Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ,
phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 22-3-2018, bản tự khai và trong quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh và chị Hoàng Thị K
kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận Đ,
thành phố Hải Phòng ngày 05-11-2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa
thuận, hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng trong phát triển kinh tế gia
đình, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Chị K thường xuyên chửi bới, có lần
tát anh, không có sự tôn trọng đối với anh. Mặc dù vợ chồng nhiều lần cố gắng
khắc phục, hai bên gia đình khuyên giải nhưng không thành. Mâu thuẫn tình cảm
2
vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ lâu và không
còn quan tâm gì đến nhau. Hiện nay mỗi người đều có cuộc sống riêng, ai làm
người đó ăn, độc lập với nhau về kinh tế, không quan hệ tình cảm. Nay, xét thấy
tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị được ly hôn với chị K.
Về con chung: Anh và chị K có 03 con chung là Nguyễn Việt B, sinh ngày
25-11-1993 và Nguyễn Thị Th, sinh ngày 25-7-2000 đã đủ 18 tuổi nên không yêu
cầu giải quyết; Nguyễn Thị M, sinh ngày 11-7-2008. Ly hôn, anh đề nghị giao con
chung M cho anh trực tiếp nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa
thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh và chị K tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải
quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 03-4-2018 và trong quá trình giải quyết vụ án,
bị đơn chị Hoàng Thị K trình bày: Chị thống nhất ý kiến như anh T về thời gian kết
hôn. Sau khi kết hôn anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng tháng 01- 2017
thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn trầm trọng nhất là từ giữa tháng 02-2018 đến nay,
có lần chị và anh T có đánh chửi nhau. Việc mâu thuẫn giữa chị và anh T gia đình hai
bên đều biết, khuyên giải nhưng không thành. Nguyên nhân là do anh T sống không
chung thủy, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác rồi về ruồng rẫy vợ con nên
xảy ra cãi vã, xô xát, có lần trong lúc nóng giận chị đã tát anh T. Sau khi vợ chồng
xảy ra cãi vã, anh T rất ít khi về nhà, hiện nay vợ chồng sống ly thân. Nguyện vọng
của chị là mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng quay về đoàn tụ cùng nhau nuôi
dạy con chung. Trường hợp anh T kiên quyết ly hôn, chị đề nghị giải quyết theo
quy định pháp luật.
Về con chung: Chị và anh T có 03 con chung là Nguyễn Việt B, sinh ngày
25-11-1993 và Nguyễn Thị Th, sinh ngày 25-7-2000 đã đủ 18 tuổi nên không yêu
cầu giải quyết; Nguyễn Thị M, sinh ngày 11-7-2008. Trường hợp anh T kiên quyết
ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi con chung M. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải
quyết.
Tòa án đã thu thập chứng cứ đối với gia đình, chính quyền địa phương về
quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị K, thể hiện: Do anh T, chị K có mâu thuẫn nên
từ năm 2016 đến nay, anh chị đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không còn quan
hệ gì về tình cảm và kinh tế. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả.
Nguyên nhân do anh T là lái xe taxi thường xuyên vắng nhà, chị K là lao động tự do,
vợ chồng kinh tế độc lập, ai làm người đấy tiêu, không ai quan tâm đến ai dẫn đến
tình cảm dần xa cách nên thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, có lần chị K đánh,
tát anh T. Gia đình và chính quyền địa phương đều xác nhận vợ chồng anh chị có
ba con chung.
Tại phiên tòa, anh T khai phù hợp như nội dung nêu trên và giữ nguyên quan
điểm đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị K vì tình cảm anh
3
dành cho chị đã hết, sống chung chỉ làm khổ nhau; hai con chung là Nguyễn Việt
B và Nguyễn Thị Th đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết; anh đề nghị Tòa
án giao con Nguyễn Thị M cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu giải
quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung. Chị K thừa nhận vợ chồng mâu
thuẫn kéo dài, hiện sống ly thân nhưng chị vẫn muốn anh chị đoàn tụ cùng nhau
nuôi dạy con chung, trường hợp anh kiên quyết ly hôn chị tôn trọng quyết định của
anh T và đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Thị M cho chị trực tiếp nuôi dưỡng,
không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ vụ của mình theo đúng quy định
pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định
đúng quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.
Về hôn nhân, mâu thuẫn giữa anh T và chị K rất trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử
căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82,
Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ khoản 4 Điều 147của Bộ luật Tố
tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T được ly hôn chi K;
về con chung: Hai con chung là Nguyễn Việt B và Nguyễn Thị Th đã đủ 18 tuổi
nên không đặt vấn đề giải quyết; giao con chung Nguyễn Thị M cho chị K trực tiếp
nuôi dưỡng; không giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, tuyên quyền
kháng cáo và anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ pháp luậttranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn
Văn T nộp đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với chị
Hoàng Thị K tại Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn. Bị đơn là chị K có nơi cư trú tại tổ
dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1
Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
thì quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về viêc ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn,
thành phố Hải Phòng.
4
- Về hôn nhân:
[2] Anh Nguyễn Văn T và chị Hoàng Thị K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và
đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng ngày 05-11-
2003 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật
Hôn nhân và gia đình.
[3] Lời khai của anh T, chị K tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ
Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã làm rõ: Do vợ chồng bất đồng quan
điểm sống, bất đồng trong phát triển kinh tế gia đình, thường xuyên xảy ra cãi vã,
xô xát, nên từ năm 2017 đến nay, anh chị đã sống ly thân, không còn quan hệ gì về
tình cảm và kinh tế. Nguyên nhân mâu thuẫn, anh T trình bày do chị K thường
xuyên chửi bới, đánh đập, không có sự tôn trọng đối với anh; chị K trình bày do
anh T sống không chung thủy, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác rồi về
ruồng rẫy vợ con nên xảy ra cãi vã, xô xát, có lần trong lúc nóng giận chị có đánh, tát
anh T. Chị K cũng thừa nhận quan hệ hôn nhân trên thực tế đã không còn tồn tại;
hai bên đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng; không còn thương yêu,
chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ và giúp đỡ nhau.
[4] Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh T, chị K vẫn không thể
hàn gắn được tình cảm vợ chồng; những bất đồng vẫn không được thu hẹp; anh T
vẫn kiên quyết ly hôn chị K với lý do vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo
dài, ly thân đã lâu; chị K mong muốn vợ chồng đoàn tụ vì anh chị đã nhiều tuổi và
có 3 con chung, trường hợp anh T kiên quyết ly hôn chị đề nghị giải quyết theo
quy định pháp luật.
[5] Anh T và chị K đã không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ
lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; không chung
sống với nhau; không tôn trọng và giữ gìn danh dự cho nhau; vi phạm nghiêm
trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của
Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, mâu thuẫn giữa anh T và chị K đã đến mức
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt
được. Vì vậy, cần căn cứ theo khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và
gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T.
[6] Về con chung: Anh T và chị K có 03 con chung là Nguyễn Việt B, sinh
ngày 25-11-1993 và Nguyễn Thị Th, sinh ngày 25-7-2000 đã đủ 18 tuổi; Nguyễn
Thị M, sinh ngày 11-7-2008. Anh chị thống nhất đề nghị giao con chung M cho chị
K trực tiếp nuôi và không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy,
việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai
bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau, để đảm bảo sự ổn
định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt của con, nguyện vọng của con cũng
như thỏa thuận về việc nuôi con khi ly hôn giữa anh chị nên cần áp dụng khoản 2
Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung M cho chị K trực tiếp nuôi cho
đến khi con đủ 18 tuổi; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hai bên đương sự tự thỏa
thuận, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
5
[7] Về tài sản chung: Anh T và chị K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo điểm a khoản 5
Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Anh T và chị K có quyền kháng cáo bản án theo
Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81;
Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị K.
2. Về con chung:
2.1. Hai con chung là Nguyễn Việt B, sinh ngày 25-11-1993 và Nguyễn Thị
Th, sinh ngày 25-7-2000 đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải
quyết.
2.2. Giao con chung Nguyễn Thị M, sinh ngày 11-7-2008 cho chị K trực tiếp
nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh T và
chị K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không
xem xét. Hoặc cho đến khi anh T và chị K có sự thay đổi khác về người trực tiếp
nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm
nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là
300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0006798 ngày 29-
3-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; anh T
đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Anh T, chị K có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
6
Nơi nhận:
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Đồ Sơn;
- Chi cục THA dân sự quận Đồ Sơn;
- Đương sự;
- UBND phường B, quận Đồ Sơn;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Tùng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm