Bản án số 18/2023/DS-ST ngày 21/03/2023 của TAND huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2023/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2023/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2023/DS-ST ngày 21/03/2023 của TAND huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Kế Sách (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
| Số hiệu: | 18/2023/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/03/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà K về việc yêu cầu ông C, bà D trả số tiền hụi còn nợ. Buộc ông C, bà D phải cùng có nghĩa vụ trả cho ông H, bà K số tiền hụi còn nợ là 196.000.000đồng... |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tăng Thị Bạch Vân.
Ông Hứa Văn Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế
Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Bà Quách Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh
Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2022/TLST-DS ngày 05
tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 02 năm 2023 và Quyết định
hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm số: 38/2023/QĐST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2023,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông H và bà K. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc
Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông H: Bà K. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C,
tỉnh Sóc Trăng. (Là người đại diện theo ủy quyền - Văn bản ủy quyền ngày
05/9/2022, bà K vắng mặt, có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông C và bà D. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/9/2022 và các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, các nguyên đơn ông H, bà K trình bày: Ông C, bà D làm chủ hụi, ông
H, bà K là hụi viên có tham gia 04 dây hụi mùa. Tháng 6/2021, ông C, bà D không
khui hụi nữa và cũng không trả lại tiền cho hụi viên, số tiền ông C, bà D nợ ông H,
bà K cụ thể:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 18/2023/DS-ST
Ngày: 21 - 3 - 2023
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Dây 1: Hụi mùa 5.000.000đ, 04 tháng khui 01 lần, mở ngày 20/11/2016 AL,
có 18 phần, ông H, bà K tham gia 01 phần (danh sách hụi ghi tên 5 H), đóng hụi
sống được 14 lần = 70.000.000đ, hụi còn khui 03 lần nữa mới mãn.
Dây 2: Hụi mùa 5.000.000đ, 04 tháng khui 01 lần, mở ngày 09/11/2017 AL,
có 16 phần, ông H, bà K tham gia 01 phần (danh sách hụi ghi tên 5 H), đóng hụi
sống được 11 lần = 55.000.000đ, hụi còn khui 04 lần nữa mới mãn.
Dây 3: Hụi mùa 5.000.000đ, 04 tháng khui 01 lần, mở ngày 24/3/2018 AL,
có 17 phần, ông H, bà K tham gia 01 phần (danh sách hụi ghi tên 5 H), đóng hụi
sống được 10 lần = 50.000.000đ, hụi còn khui 06 lần nữa mới mãn.
Dây 4: Hụi mùa 2.000.000đ, 04 tháng khui 01 lần, mở ngày 22/3/2016 AL,
có 17 phần, ông H, bà K tham gia 01 phần (danh sách hụi ghi tên 5 H), đóng hụi
sống được 15 lần = 30.000.000đ, lần khui thứ 16 ông H, bà K hốt trừ đầu thảo, trừ
01 lần hụi chết chưa khui còn lại 27.000.000đ, ông C, bà D giao cho ông H, bà K
6.000.000đ, còn nợ lại 21.000.000đ.
Tổng cộng 04 dây hụi trên ông C, bà D còn nợ ông H, bà K là 196.000.000đ.
Ông H, bà K có yêu cầu địa phương hòa giải, ông C, bà D thừa nhận nợ nhưng
không hứa trả nên hòa giải không thành.
Nay ông H, bà K yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C, bà D trả cho ông H,
bà K số tiền hụi là 196.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.
Do bận nhiều công việc và không có thời gian đến tham dự phiên tòa, nên
ông H, bà K đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm và trong suốt quá
trình giải quyết vụ án. Mọi vấn đề có liên quan ông H, bà K vẫn giữ nguyên theo
đơn khởi kiện là yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C, bà D trả cho ông H, bà K
số tiền hụi là 196.000.000đ, không yêu cầu tính lãi, ngoài ra ông H, bà K không
yêu cầu giải quyết về vấn đề gì khác. Ông H, bà K cam kết không khiếu nại gì về
sau.
* Bị đơn ông C: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt,
thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông C nhưng ông C không có mặt tham
gia tố tụng theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có ý kiến hay yêu cầu
gì trong vụ án này.
* Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà D trình bày:
Bà D không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà K, vì từ năm 2016 bà D
đã không còn làm chủ hụi và bàn giao lại cho con dâu của bà D là bà O. Ông H, bà
K đóng hụi sống cho bà O, những người đã hốt hụi xong cũng đóng hụi chết cho
bà O chứ không có đóng cho bà D. Từ năm 2016, bà O khui hụi tại nhà bà O ở ấp
A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, do nhà bà O diện tích nhỏ nên khi có quá nhiều
hụi viên thì bà O có mượn nhà bà D để khui hụi, lần cuối cùng vào khoảng tháng
3/2021 bà O có khui hụi tại nhà bà D một lần và từ đó cho đến nay không còn khui
hụi tại nhà bà D nữa. Việc bà D bàn giao sổ sách hụi cho bà O thì bà D có công bố
cho các hụi viên biết nhưng chỉ bằng lời nói mà không có làm văn bản, sự việc này
có một số hụi viên biết, bà D sẽ cung cấp họ tên để yêu cầu Tòa án xác minh đối
với những người này.
3
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H, bà K vắng mặt nhưng trong văn bản đề nghị
Tòa án xét xử vắng mặt thì ông H, bà K vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi
kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội
dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng dân sự
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ
khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ
án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông H, bà K, giải quyết buộc ông C, bà D trả cho ông H, bà K số tiền hụi còn
nợ là 196.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
[1] Theo nội dung yêu cầu khởi kiện, ông H, bà K yêu cầu Tòa án giải quyết
buộc ông C, bà D trả cho ông H, bà K số tiền hụi còn nợ là 196.000.000đ, không
yêu cầu tính lãi; TAND huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án, xác định quan
hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng góp hụi là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều
26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Các bị đơn ông C, bà D có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh
Sóc Trăng; TAND huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng
thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H, bà K vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị
Tòa án xét xử vắng mặt; ông C, bà D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để
tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan; việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến
việc xét xử; Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 tiến hành xét xử vụ án.
[4] Về số tiền nợ hụi: Ông H, bà K cho rằng ông H, bà K có tham gia chơi
hụi do ông C, bà D làm chủ hụi, gồm: 1. Dây hụi mùa 5.000.000đ (04 tháng khui
01 lần), mở ngày 20/11/2016 AL, dự kiến mãn ngày 20/7/2022 AL, có 18 phần,
ông H, bà K tham gia 01 phần (trong danh sách hụi để tên “5 H”), đóng hụi sống
được 14 lần, từ lần khui thứ 15 đến 18 (tại các vụ tháng 7/2021, 11/2021, 3/2022,
7/2022 AL) ông C, bà D không khui hụi nữa và không trả số tiền hụi còn nợ là
70.000.000đ cho ông H, bà K; 2. Dây hụi mùa 5.000.000đ (04 tháng khui 01 lần),
mở ngày 09/11/2017 AL, dự kiến mãn ngày 09/11/2022 AL, có 16 phần, ông H, bà
K tham gia 01 phần (trong danh sách hụi để tên “5 H”), đóng hụi sống được 11 lần,
từ lần khui thứ 12 đến 16 (tại các vụ tháng 7/2021, 11/2021, 3/2022, 7/2022,
4
11/2022 AL) ông C, bà D không khui hụi nữa và không trả số tiền hụi còn nợ là
55.000.000đ cho ông H, bà K; 3. Dây hụi mùa 5.000.000đ (04 tháng khui 01 lần),
mở ngày 24/3/2018 AL, dự kiến mãn ngày 24/7/2023 AL, có 17 phần, ông H, bà K
tham gia 01 phần (trong danh sách hụi để tên “5 H”), đóng hụi sống được 10 lần,
từ lần khui thứ 11 đến 17 (tại các vụ tháng 7/2021, 11/2021, 3/2022, 7/2022,
11/2022, 3/2023, 7/2023 AL) ông C, bà D không khui hụi nữa và không trả số tiền
hụi còn nợ là 50.000.000đ cho ông H, bà K; 4. Dây hụi mùa 2.000.000đ (04 tháng
khui 01 lần), mở ngày 22/3/2016 AL, mãn ngày 22/7/2021 AL, có 17 phần, ông H,
bà K tham gia 01 phần (trong danh sách hụi để tên “5 H”), đóng hụi sống được 15
lần, đến lần khui thứ 16 (tại vụ tháng 3/2021 AL) ông H, bà K hốt trừ đầu thảo và
01 lần hụi chết chưa khui ở lần khui thứ 17 (tại vụ tháng 7/2021 AL) còn lại
27.000.000đ, ông C, bà D đã giao cho ông H, bà K 6.000.000đ, còn nợ lại
21.000.000đ; tổng cộng 04 dây hụi nêu trên ông C, bà D còn nợ ông H, bà K số
tiền hụi là 70.000.000đ + 55.000.000đ + 50.000.000đ + 21.000.000đ =
196.000.000đ, nay ông H, bà K yêu cầu ông C, bà D trả số tiền này.
[5] Xét thấy, lời trình bày của ông H, bà K là có căn cứ, phù hợp với các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng sự xác nhận của ông L là đại diện Ban
nhân dân ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và các ông, bà L1, L2, L3, L4, L5,
L6, L7 là các hụi viên có tham gia chơi 04 dây hụi nêu trên tại các Biên bản xác
minh ngày 13/02/2023 (BL 52-55). Theo đó, ông L xác nhận ông C, bà D hiện nay
có thiếu nợ nhiều người tại địa phương và một số người đã kiện ông C, bà D ra Tòa
án về việc tranh chấp nợ hụi; việc ông C, bà D làm chủ hụi, tổ chức chơi hụi công
khai tại địa phương, có nhiều người tham gia, khui hốt hụi ngay tại nhà ông C, bà
D. Còn các ông, bà L1, L2, L3, L4, L5, L6, L7 xác nhận các ông, bà có tham gia
chơi 04 dây hụi nêu trên do ông C, bà D làm chủ hụi; ông H, bà K có tham gia chơi
04 dây hụi nêu trên, trong danh sách hụi để tên “5 H”, hụi chưa mãn thì ông C, bà
D không khui hụi nữa, số tiền hụi sống mà ông H, bà K đã đóng thực tế cho ông C,
bà D là bao nhiêu thì không rõ; việc ông C, bà D cho rằng hụi do con dâu của ông
C, bà D làm chủ hụi không liên quan gì đến ông C, bà D là không đúng sự thật,
mục đích là nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hụi; ngoài việc nợ tiền hụi ông H, bà
K đối với 04 dây hụi nêu trên thì ông C, bà D còn nợ rất nhiều người khác ở địa
phương đối với các dây hụi khác, gồm có cả hụi tháng lẫn hụi mùa, nhưng hiện nay
đều trốn tránh không đồng ý trả nợ hụi; việc ông C, bà D làm chủ hụi, tổ chức chơi
hụi, khui hốt hụi… diễn ra công khai tại địa phương, có nhiều người tham gia, khui
hốt hụi ngay tại nhà ông C, bà D. Các ông, bà nêu trên không có mâu thuẫn, xích
mích với ông C, bà D nên lời xác nhận của họ là trung thực, đảm bảo tính khách
quan để làm chứng cứ trong vụ án này, là căn cứ xác định lời trình bày của ông H,
bà K là đúng sự thật.
[6] Về phía ông C, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt, thông
báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông C nhưng ông C không có văn bản trả lời
Thông báo về việc thụ lý vụ án và cũng không có mặt tham gia tố tụng theo các
giấy triệu tập của Tòa án, nên được coi là ông C đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng
minh của mình trong vụ án này. Riêng bà D cho rằng từ năm 2016 đã không còn
làm chủ hụi và bàn giao lại các dây hụi cho con dâu, nhưng đây chỉ là lời trình bày
5
một phía của bà D chứ không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh; ông H, bà
K cũng không thừa nhận lời trình bày của bà D; đồng thời, trong nhiều bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (BL 74-95) đều xác định chủ hụi là
ông C, bà D chứ không phải con dâu của ông C, bà D, đây là tình tiết, sự kiện
không phải chứng minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; do đó, lời trình bày của bà D là không có căn cứ để chấp nhận.
[7] Từ đó, có căn cứ xác định việc ông C, bà D làm chủ hụi, tổ chức việc
chơi hụi có sự tham gia của ông H, bà K nhưng ông C, bà D đã không duy trì được
đến ngày hụi mãn và không giao tiền hụi cho ông H, bà K hốt, là sự việc có thật.
Do ông C, bà D đã có lỗi trong việc vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận góp hụi khi
không duy trì được đến ngày hụi mãn, số tiền góp hụi của các hụi viên chưa được
tính toán để hoàn lại, chính sự vi phạm nghĩa vụ này đã trực tiếp gây thiệt thòi đến
quyền lợi của ông H, bà K, nên ông C, bà D phải có nghĩa vụ trả cho ông H, bà K
số tiền hụi còn nợ là 196.000.000đ theo quy định tại Điều 29 Nghị định số
144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 và các Điều 23, 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-
CP ngày 19/02/2019.
[8] Về vấn đề tiền lãi: Quá trình giải quyết vụ án, ông H, bà K không yêu
cầu Tòa án giải quyết về việc tính lãi đối với số tiền hụi còn nợ là 196.000.000đ,
nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về vấn đề tiền lãi.
[9] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông H, bà K, buộc ông C, bà D phải cùng có nghĩa vụ trả cho
ông H, bà K số tiền hụi còn nợ là 196.000.000đ.
[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc
Trăng tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí sơ thẩm: Ông C, bà D phải cùng chịu án phí sơ thẩm là
196.000.000đ x 5% = 9.800.000đ tương ứng trên số tiền hụi còn nợ bị Tòa án buộc
trả theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và điểm b khoản
1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, điểm b khoản 1 Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271,
khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 357, 468, 471, 688
Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ,
6
hụi, biêu, phường; các Điều 23, 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019
của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà K về việc yêu cầu ông C, bà
D trả số tiền hụi còn nợ.
Buộc ông C, bà D phải cùng có nghĩa vụ trả cho ông H, bà K số tiền hụi còn
nợ là 196.000.000đồng (Một trăm chín mươi sáu triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông H, bà K đối với số tiền phải
trả nêu trên cho đến khi thi hành xong, hàng tháng ông C, bà D còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí sơ thẩm: Ông H, bà K không phải chịu án phí sơ thẩm. Ông C,
bà D phải cùng chịu án phí sơ thẩm với số tiền là 9.800.000đồng (Chín triệu tám
trăm nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận
được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc
Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự (04);
- VKSND huyện Kế Sách (01);
- Chi cục THADS huyện Kế Sách (01);
- TAND tỉnh Sóc Trăng (01);
- Lưu HSVA, Văn phòng (02).
Nguyễn Quốc Việt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm