Bản án số 18/2022/HNGĐ-ST ngày 27/01/2022 của TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 18/2022/HNGĐ-ST ngày 27/01/2022 của TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hải Hậu (TAND tỉnh Nam Định)
Số hiệu: 18/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/01/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: hôn nhân và gia đình
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 18/2022/HNGĐ-ST
Ngày 27-01-2022
V/v: Ly hôn, con chung giữa
chị L và anh Đ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên t: Bà Phạm Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;
Ông Nguyễn Văn Hóa.
- Thư phiên tòa: Đoàn Thị Xuyến - Thư Toà án nhân dân huyện
Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét
xử thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2022/TLST-HN ny 06 tháng 01
năm 2022 về việc Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
09/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987. H khẩu thường trú:
Xóm C, H, huyện Hải Hậu, Nam Định; nơi hiện nay: Xóm 6, Hải Lý,
huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1983. Hkhẩu thường trú: Xóm C,
H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nơi hiện nay: Công ty Đại Hưng Phúc,
thôn Trung Đào, xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
(chị L, anh Đ đều vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 03-8-2021 quá trình tham gia tố
tụng tại Toà án, nguyên đơn ch Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L anh Trần Văn Đ đăng kết
hôn ngày 10-11-2005 tại Ủy ban nhân dân H, huyện Hải Hậu, tinh Nam
Định trên sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng
chung sống cùng mẹ anh Đ tại xóm C, H. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh
phúc đến năm 2010 thì phát sinh u thuẫn. Nguyên nhân do anh Đ sống
không chung thủy, có quan h tình cảm với người phụ nữ khác và thường xuyên
đi làm xa rất ít khi về nhà, ba con đu do một mình chị L phải chăm lo, anh Đ
không quan tâm đến gia đình vợ con. Từ đó chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng
2
dần lạnh nhạt xa cách. Đến tháng 5-2021, chị L đã đưa 2 con nhỏ về quê
ngoại ở, vợ chồng chính thức sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chL nhận
thấy tình cảm của chị đối với anh Đ không còn nên làm đơn đề nghị Tòa án giải
quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng ba con chung Trần Thị K, sinh ngày 14-10-
2006; Trần Hữu T, sinh ngày 30-7-2008 và Trần Thị Khánh A, sinh ngày 23-10-
2014. Hiện nay cháu K đang cùng gia đình bên nội, cháu T cháu A đang
cùng chị L. Khi ly hôn chị L nguyện vọng tiếp tục nhận nuôi cháu T cháu
A, để anh Đ nhận nuôi cháu K, hai bên kng phải cấp dưỡng nuôi con cho
nhau.
Về tài sản và nghĩa vụ tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay
nợ ai và không cho ai vay nợ nên chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn anh Đ gửi cho Tòa án lời khai phù hợp với lời
khai của chị L về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, thời gian sống ly thân.
Theo anh Đ, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân là do anh Đ nhận thấy không còn tình cảm vi chị L nên anh đã đi
làm kinh tế xa nhà. Nay chị L làm đơn xin ly hôn, anh Đ nhất trí ly hôn vợ
chồng không còn tình cảm.
Về con chung: Anh Đ thống nhất với lời khai của chị L vợ chồng có ba con
chung như chị L trình bày. Khi ly hôn, anh Đ nguyện vọng nhận nuôi cháu
Trần Thị K, để chị L nuôi cháu Trần Hữu T Trần Thị Khánh A, hai bên
không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
Về tài sản nghĩa vụ tài sản: Anh Đ lời khai thống nhất với lời khai
của chị L nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do công việc bận nên anh Đ đề nghị Tòa án xin vắng mặt tại các buổi làm
việc và phiên tòa xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị L anh Trần Văn Đ đều đơn
đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét x
vắng mặt chị L, anh Đ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1
Điều 228 Bộ lut Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh
Trần Văn Đ quan hệ hôn nhân hợp pháp được xây dựng trên sở tự
nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký
kết hôn ngày 10-11-2005. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh nhiều
mâu thuẫn về mặt tình cảm, chị L cho rằng anh Đ đã người phụ nữ khác nên
lạnh nhạt tình cảm với chị, thường đi làm xa không giành thời gian cho gia đình,
vợ con. Anh Đ công nhận không còn tình cảm với chị L nên đã đi làm xa nhà.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ch L anh Đ trầm trọng, cuộc sống
3
chung không còn hòa hợp, hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5-2021
đến nay nhưng chị L, anh Đ không có biện pháp, hành động thiết thực nhằm hàn
gắn tình cảm mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Mặt
khác, anh Đ cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, không muốn tiếp tục
chung sống với chị L. vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, cho
chị L được ly hôn anh Đ là phù hp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân
và gia đình.
[3] Về con chung: Vợ chồng ba con chung Trần ThK, sinh ngày 14-
10-2006; Trần Hữu T, sinh ngày 30-7-2008 và Trần Thị Khánh A, sinh ngày 23-
10-2014. Khi ly hôn, chị L và anh Đ đều thống nhất ý kiến chị L nhận nuôi cháu
T, cháu A; anh Đ nhận nuôi cháu Kiều, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con
cho nhau. Xét điều kiện hoàn cảnh hiện nay, nguyện vọng của chị L, anh Đ
nguyện vọng của các con thì thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu K
vẫn đang ở cùng gia đình bên nội và anh Đ trực tiếp có trách nhiệm nuôi dưỡng;
chị L thì trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, cháu A. Nguyện vọng của cháu K muốn ở
cùng bố và bà nội, cháu T và cháu A muốn ở cùng mẹ. Như vậy, cả chị L và anh
Đ đều có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc đối với các con. Chị L đi làm công ty,
anh Đ làm xây dựng nhưng anh chị đều xác nhận có thu nhập. Về trách nhiệm
cấp dưỡng: Hai bên đều thống nhất không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau
nên về trách nhiệm cấp dưỡng Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Vì vậy,
cần giao cháu Trần Thị K cho anh Đ, giao cháu Trần Hữu T Trần Thị Khánh
A cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi
con cho nhau được quyền thăm con phù hợp với quy định tại các Điều 81,
Điều 82, Điều 83 Lut hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản nghĩa vụ tài sản: Chị L anh Đ xác nhận v chồng
không tài sn chung, không vay nợ ai không cho ai vay nợ nên Hội đồng
xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải nộp tiền án phí ly
hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia
đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L anh Trần
Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị K, sinh ngày 14-10-2006 cho anh
Trần n Đ; giao cháu Trần Hữu T, sinh ngày 30-7-2008 và Trần Thị Khánh A,
sinh ngày 23-10-2014 cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho
đến khi các con chung thành niên, có khả năng lao động hoặc tài sản để tự
nuôi mình. Chị L, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau được
quyền thăm con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc
thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con chung.
4
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm
a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ
(ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0006047 ngày 06-
01-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị L đã nộp đủ án phí
dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a Điều 9 Luật Thi
hành án dân sự. thời hiu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND tỉnh;
- VKSND huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- UBND xã H;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thúy Nga
Tải về
Bản án số 18/2022/HNGĐ-ST Bản án số 18/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất