Bản án số 179/2021/HC-PT ngày 15/07/2021 của TAND cấp cao tại Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 179/2021/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 179/2021/HC-PT ngày 15/07/2021 của TAND cấp cao tại Hà Nội
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Hà Nội
Số hiệu: 179/2021/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/07/2021
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Thành C - CT UBND tỉnh NB
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 179/2021/HC-PT
Ngày: 15/7/2021
V/v: Khiếu kiện quyết định giải quyết
khiếu nại
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường;
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Vân Hương;
Ông Nguyễn Tất Nam.
Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Bích Ngọc Thẩm tra viên Toà án
nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội tham gia phiên
tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Mai, Kiểm sát viên.
Ngày15 tháng 7năm 2021, tại trụ s, Tòa án nhân dân cấp cao tại Nội
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ 98/2020/TLPT-HC ngày
17tháng 02 năm 2020 về “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại” do
kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính thẩm số
01/2019/HC-ST ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh
Bình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số5367/2021/QĐPT-HC
ngày 30 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn
Hội Tiến 2, xã QL, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Lương Văn C1;
địa chỉ: Số nhà 783, đường Nguyễn Công Trứ, phố Đông Hồ, phường Bích Đào,
thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt, đơn đề nghị xét xvắng
mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Bùi Khắc
T - Luật sư của Công ty Luật TNHH 4.1 cộng sự thuộc Đoàn luật thành
phố Hà Nội; có mặt.
* Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Địa chỉ: Số 03, đường Hồng Phong, phường Vân Giang, thành phố
Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Trần Song T1 Phó
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng
2
mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Chí V -
Luật của Văn phòng luật sư Hồng Phong thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình;
có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện NQ, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện theo y quyền: Ông Trần Việt H Phó chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện NQ; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân CP, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Văn X Chủ tịch Ủy ban nhân
dân xã CP, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
- Ủy ban nhân dân VP, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Văn T2 Chủ tịch UBND
VP, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
- Chị Phạm Thị L, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Hội Tiến 2, xã QL, huyện
NQ, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xvắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2019, đơn khởi kiện ngày 02
tháng 02 năm 2019; đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 14 tháng 02 năm
2019; đơn khởi kiện ngày 01 tháng 4 năm 2019; các tài liệu kèm theo đơn khởi
kiện trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Thành
C và ông C1 người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Ông Nguyễn Thành C yêu cầu hủy Điều 01 Điều 02 Quyết định số
476/QĐ-UBND ngày 24/9/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình (sau đây
gọi tắt Quyết định 476/QĐ-UBND) yêu cầu UBND CP, UBND huyện
NQ, UBND tỉnh Ninh Bình cùng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do quyết
định giải quyết khiếu nại gây ra: Số tiền 1.443.000.000 đồng. Ông Nguyễn
Thành C căn cứ vào thực tế căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho
Tòa án. Ngày 10/9/2015 ông gửi đơn khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND tỉnh
Ninh Bình đến ngày 24/9/2018 ông mới nhận được Quyết định 476/QĐ-UBND
của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình. Quyết định 476/QĐ-UBND đã làm phát
sinh, ảnh hưởng, quyền lợi ích hợp pháp của ông, không bảo vệ quyền lợi cho
ông, do quan Nhà nước thẩm quyền xâm hại UBND xã, UBND huyện
NQ buộc ông Nguyễn Thành C phải trình lên UBND tỉnh vẫn bao che cho
UBND xã, huyện vi phạm nghiêm trọng.
- Chủ tịch UBND tỉnh kéo dài thời gian nhận đơn không giải quyết đơn
của ông là 996 ngày, vi phạm Luật khiếu nại.
- Nội dung của Quyết định 476/QĐ-UBND cũng nêu việc UBND
CP hợp đồng số 02 ngày 15/8/2007 với ông Nguyễn Thành C để cho thuê đất
3
đối với diện tích đất không phải quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích
công ích xã tại vị trí trên núi và dưới chân núi Sụ Cú là trái thẩm quyền theo quy
định tại khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2003. Như vy theo kết luật nêu tại mục
V - Quyết định 476/QĐ-UBND thì ông Nguyễn Thành C không có sai phạm mà
UBND CP đã vi phạm theo quy định tại Điều 15 Luật Đất đai năm 2003
gia đình ông đĐiều kiện được bồi thường, hỗ trợ về đất các khoản hỗ trợ
khác khi Nhà nước thu hồi đất. chính quyền thực hiện sai pháp luật thì phải
bồi thường theo quy định của pháp luật. Nhưng Quyết định 476/QĐ-UBND chỉ
yêu cầu xã kiểm điểm rút kinh nghiệm.
- Việc UBND huyện NQ bồi thường cho ông số tiền 93.164.111 đồng
theo Quyết định 1229 ngày 05/9/2011 và ngày 17/8/2015 Chủ tịch UBND huyện
NQ đã ban hành Quyết định số 3503/QĐ-CT về việc giải quyết khiếu nại lần
đầu đối với ông, trong đó thu hồi nộp về ngân sách nhà nước số tiền trên với
do diện tích đất ông đang thuê, không thuộc diện thu hồi nên ông không
thuộc đối tượng được đền là không đảm bảo quyền lợi cho ông, gia đình
ông đang sử dụng đất, đang sản xuất thì phải chuyển cây trồng vật nuôi ra ngoài,
phá bỏ chuồng trại để Nhà ớc thực hiện dự án trong khi thời hạn hợp đồng
chưa hết (8/2012 mới hết hạn) trách nhiệm này thuộc vai. Hiện nay ông vẫn
chưa nộp lại số tiền trên cho UBND huyện NQ.
Theo quy định của pháp luật ông chưa được nhận chủ trương thu hồi đất,
thông báo thu hồi đất, phương án bồi thường. Như vậy là các cấp chính quyền đã
vi phạm quy định của pháp luật về đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng
trước khi Nhà nước thu hồi đất. Ông Nguyễn Thành C yêu cầu phải bồi thường
thiệt hại cho gia đình ông theo quy định của pháp luật.
- Về việc liệt những thiệt hại do việc ban hành quyết định giải quyết
khiếu nại gây ra với số tiền 1.443.000.000 đồng, ông đã văn bản gửi đến Tòa
án. Ông Nguyễn Thành C yêu cầu UBND VP, UBND CP, UBND huyện
NQ, UBND tỉnh Ninh Bình cùng trách nhiệm bồi thường cho gia đình ông
1.443.000.000 đồng.
Nếu UBND VP, UBND CP, UBND huyện NQ, UBND tỉnh Ninh
Bình bồi thường cho gia đình ông ½ số tiền trong tổng số tiền 1.443.000.000
đồng mà ông yêu cầu là 721.000.000 đồng thì ông sẽ rút đơn kiện.
Tại văn bản số 25/UBND-VP10 ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Chủ tịch
UBND tnh Ninh Bình và trong q trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy
quyền của ni bị kiện và người bảo v lợi ích hợp pháp của ni bị kin trình
bày:
Ngày 15 tháng 8 năm 2007, ông Nguyễn Thành C trú tại thôn Trại Rào,
VP, huyện NQ gửi UBND CP về việc xin thuê đất hoang. Đồng thời
cùng ngày, UBND xã CP và ông Nguyễn Thành C đã ký Hợp đồng giao thầu đất
số 02/HĐ-GT ngày 15/8/2007 (tên hợp đồng thể hiện hợp đồng giao thầu đất
4
nhưng nội dung thể hiện thuê đất), trong đó không Điều khoản về việc xây
dựng chuồng trại mà chỉ các Điều về vị trí, diện tích thuê đất, trách nhiệm,
thời hạn thuê cthể: Diện tích đất thuê 3,45 ha (thuộc núi Sụ chân núi
Sụ tại thôn Đồng Bót, CP. Thời gian thuê đất 05 năm từ ngày 16/8/2007
đến ngày 16/8/2012). Hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp: hết thời hạn
thuê đất không được gia hạn tiếp, n thuê đất bị phá sản hoặc giải thể, bên
thuê đất bị quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất theo Điều 38 Luật Đất
đai.
Qua kiểm tra, xác minh cho thấy: Vị trí đất thuê không thuộc quỹ đất
nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã. UBND CP cho ông
Nguyễn Thành C thuê không đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3
Điều 37 Luật Đất đai năm 2003 (thời điểm cho thuê thì Luật Đất đai năm 2003
đang còn hiệu lực pháp luật).
Quá trình sử dụng đất thuê (từ tháng 8 năm 2007 đến trước tháng 12 năm
2010) ông Nguyễn Thành C không xây dựng chuồng trại. Việc xây dựng chuồng
trại, trồng cây keo khu vực đất thuê của ông Nguyễn Thành C được thực hiện
sau khi có chủ trương giải phóng mặt bằng thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ
Thường Xung, huyện NQ, trong đó khu vực đất thuê thuộc phạm vi bị ảnh
hưởng của dự án, cụ thể: Ngày 08/9/2009, UBND huyện NQ ban hành văn bản
số 574/UBND-VP triển khai thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ Thường Xung.
Đến cuối năm 2010, ông C mới xây dựng chuồng trại, trồng cây keo trên khu
vực đất thuê, đến tháng 5/2014 sau khi kiểm tra mới xác định vị trí xây dựng
chuồng trại nằm ngoài vị tđất được thuê. Việc ông C xây dựng chuồng trại
trên khu vực đất thuê chưa được đồng ý của UBNDCP và đã được UBND xã
CP phát hiện lập biên bản vi phạm vào các ngày 22/12/2010, 28/12/2010 và yêu
cầu tháo dỡ, nhưng ông C không chấp hành mà vẫn xây dựng chuồng trại.
Thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ Thường Xung, huyện NQ, ngày
21/12/2010 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1118/QĐ-UBND về việc thu
hồi đất, giao đất thực hiện dự án, trong đó không có thu hồi diện tích đất UBND
CP cho ông C thuê.
Tuy nhiên, vào khoảng đầu năm 2011, Hội đồng đền bù, giải phóng mặt
bằng huyện NQ UBND VP đã kiểm đếm sai quy định đối với tài sản, vật
kiến trúc, cây cối hoa màu trên đất mà ông C thuê của UBND CP (vị trí đất
thuê thuộc thẩm quyền quản của UBND CP, nhưng UBND VP thực
hiện việc kiểm đến tài sản, trong khi Quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh
không thu hồi diện tích đất thuê này). Sau đó, UBND huyện NQ đã tiến hành
việc bồi thường, htrợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án tại VP, huyện
NQ và đã bồi thường tài sản cho ông Nguyễn Thành C tại Quyết định số
1129/QĐ-UBND ngày 09/5/2011 với số tiền 93.164.111 đồng. Ông C đã nhận
đủ số tiền trên tại phiếu chi ghi tháng 6/2011 của Hội đồng đền bù, giải phóng
mặt bằng huyện NQ, việc bồi thường tài sản cho ông C khi không có quyết định
5
thu hồi đất của UBND tỉnh về việc thu hồi diện tích đất ông C thuê, sai quy
định tại khoản 2 Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính
phủ.
Đến ngày 09/01/2013, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Quyết định số
14/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, giao đất thực hiện dự án, trong đó thu hồi
một phần diện tích đất UBND CP cho ông Nguyễn Thành C thuê, tại thời
điểm này, hợp đồng thuê đất của ông C với UBND xã CP đã hết hạn 04 tháng và
không được gia hạn tiếp. Hồ địa chính quyết định thu hồi đất của UBND
tỉnh thể hiện diện tích đất thu hồi là do UBND xã CP quản lý; không có tên, danh
sách của ông C bị thu hồi đất. Theo quy định của pháp Luật Đất đai thì ông
Nguyễn Thành C không thuộc trường hợp được bồi thường, hỗ trợ về đất tài
sản gắn liền với đất. Vì vậy, ông C không được hưởng chính sách bồi thường, h
trợ khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án.
Sau khi UBND tỉnh ban hành Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày
09/01/2013 về việc thu hồi đất, giao đất thực hiện dự án, sau hơn 02 năm kể từ
ngày nhận tiền đền bù, ông Nguyễn Thành C mới có đơn đề nghị hỗ trợ công cải
tạo đất nhiều đơn đề nghị về công tác bồi thường GPMB thực hiện dự án
giải quyết hợp đồng giao thầu đất. Các nội dung đề nghị của ông C đã được
UBND huyện NQ xem xét, trả lời.
Ngày 13/3/2014, UBND huyện NQ văn bản số 181/UBND-TTr chỉ
đạo UBND CP giải quyết các vướng mắc trong thực hiện hợp đồng với ông
C. Ngày 20/3/2014 UBND xã CP đã làm việc với ông Nguyễn Thành C để thanh
Hợp đồng giao thầu đất số 02/HĐ-GT nhưng không kết quả, ông C
không đồng ý thanh hợp đồng và yêu cầu UBND CP phải bồi thường thiệt
hại do chấm dứt hợp đồng trước hạn.
Ngày 03/6/2014, UBND huyện NQ đã thông báo số 82/TB-UBND gửi
ông C nêu rõ: việc thanh hợp đồng, nếu ông C UBND CP không thỏa
thuận được thì ông C quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết theo quy định.
Tuy nhiên, ông C không thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án để giải quyết các
vướng mắc trong thanh lý hợp đồng.
Ngày 03/5/2015, ông Nguyễn Thành C đơn gửi UBND huyện NQ
khiếu nại vviệc bồi thường, hỗ trợ GPMB thực hiện dự án, trong đó khiếu nại
nội dung:
- Đề nghị bồi thường hỗ trợ các khoản chi phí đầu vào đất còn lại;
đềnghị hỗ trợ công khai hoang cải tạo đất; bồi thường 46m
3
xây dựng đường
đào mương; giá trị gia súc, gia cầm vật nuôi chưa đến thời điểm thu hoạch như:
lợn 150 con, 15 con, 200 con; bồi thường di chuyển gia súc, gia cầm vật
nuôi và xây dựng khu chuồng trại mới để ổn định chăn nuôi.
- UBND huyện NQ thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo UBND CP
thanh lý hợp đồng với ông.
6
Ngày 17/8/2015, Chủ tịch UBND huyện NQ đã ban hành Quyết định số
3503/QĐ-CT giải quyết khiếu nại lần đầu đối với khiếu nại của ông Nguyễn
Thành C, theo đó đã bác nội dung đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành C về
việc bồi thường, hỗ trợ về đất và các khoản hỗ trợ khác khi Nhà nước thu hồi đất
thực hiện dự án đối với diện tích đất UBND CP cho thuê không đúng thẩm
quyền. Thu hồi nộp về ngân sách Nhà nước số tiền 93.164.111 đồng đã bồi
thường không đúng cho ông Nguyễn Thành C. Kiểm điểm, hình thức xử
nghiêm túc với tập thể nhân liên quan trong Hội đồng đền GPMB
huyện, UBND CP, UBND VP trong việc quản đất, thực hiện trình tự,
thủ tục cho thuê đất, kiểm đếm, lập phương án bồi thường, hỗ trợ về tài sản, cây
trồng đối với hộ ông Nguyễn Thành C không đúng quy định của pháp luật về đất
đai. Yêu cầu UBND CP giải quyết dứt điểm các tồn tại trong hợp đồng giao
thầu đất với ông C theo quy định ca pháp luật.
Sau đó ngày 10/9/2015, ông Nguyễn Thành C đơn gửi đến Chủ tịch
UBND tỉnh khiếu nại Quyết định số 3503/QĐ-CT ngày 17/8/2015 của Chủ tịch
UBND huyện NQ, trong đó nội dung: không nhất trí với việc UBND huyện
NQ thu hồi nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 93.164.111 đồng đã bồi
thường cho ông. Đề nghị được bồi thường, hỗ trợ về công khai hoang, cải tạo
đất, di chuyển gia súc, gia cầm, vật nuôi xây dựng khu chuồng trại mới để ổn
định chăn nuôi khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ
Thường Xung, huyện NQ đối với diện tích đất ông đã thuê của UBND CP b
thu hồi năm 2011.
Ngày 22/9/2015, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình đã có văn bản số
108/UBND-VP10 giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và
Môi trường, UBND huyện NQ xác minh đề xuất biện pháp giải quyết khiếu nại
lần hai. Đồng thời ngày 25/5/2018 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định
số 301 thành lập Tổ công tác liên ngành của tỉnh gồm: Thanh tra tỉnh, Văn
phòng UBND tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh ủy, Sở pháp tỉnh, Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh để kiểm tra, soát, xác minh, kết luận nội dung đơn khiếu nại
của ông Nguyễn Thành C.
Sau khi xem xét Báo cáo kết quả kiểm tra, xác minh của Thanh tra tỉnh và
Tổ công tác liên ngành của tỉnh, ngày 24/9/2018 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban
hành Quyết định 476/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần hai của ông
Nguyễn Thành C, trong đó đã kết luận:
Giữ ngun Quyết định số 3503/QĐ-CT ny 17/8/2015 của Chủ tịch
UBND huyện NQ, về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Tnh C.
Bác nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Thành C vviệc không nhất trí với
Quyết định số 3503/QĐ-CT ngày 17/8/2015 của Chủ tịch UBND huyện NQ về
việc thu hồi nộp về ngân ch Nhà nước số tiền 93.164.111 đồng đã bồi
thường cho ông đề nghđược hưởng một số chính ch bồi thường, hỗ trợ khi
7
Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ Tờng Xung.
Việc ông Nguyễn Thành C đề nghị được bồi thường, hỗ trợ về tài sản
các khoản hỗ trợ khác liên quan đến việc thực hiện hợp đồng thuê đất trước thời
hạn chưa thực hiện việc thanh hợp đồng giữa ông Nguyễn Thành C
UBND CP, nếu các bên thực hiện hợp đồng không tự thỏa thuận, giải quyết
được thì các bên có quyền khởi kiện đến Tòa án nhân dân để được xem xét, giải
quyết theo quy định của pháp luật. Nội dung đề nghị này không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh.
Từ nội dung, tình tiết, diễn biến vụ việc nêu trên cho thấy:
- Nội dung Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 24/9/2018 của Chủ tịch
UBND tỉnh về việc giải quyết khiếu nại lần hai của ông Nguyễn Thành C
đúng thẩm quyền, đúng quy định của luật pháp.
- Nội dung khởi kiện của ông Nguyễn Thành C, trú tại thôn Hội Tiến 2, xã
QL, huyện NQ về việc yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh xét xử, giải quyết hủy bỏ
Điều 01 và Điều 02 Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 24/9/2018 của Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Bình, bồi thường thiệt hại do quyết định giải quyết khiếu nại
gây ra số tiền 176.000.000 đồng không căn cứ pháp luật. Đồng thời, Chủ
tịch UBND tỉnh giữ nguyên Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 24/9/2018 về
việc giải quyết khiếu nại lần hai của ông Nguyễn Thành C.
Tại Văn bản số 776/UBND-TTr ngày 02 tháng 5 năm 2019 trong quá
trình giải quyết vụ án, Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân
dân huyện NQ trình bày:
Năm 2007, ông Nguyễn Thành C UBND CP hợp đồng số
02/HĐ-GT giao thầu diện tích 34.521m
2
tại thôn Đồng Bót, xã CP thuộc thửa số
139 và 170, tờ bản đồ số 45, Bản đồ địa chính xã CP lập năm 2002 (thửa số 139:
10.550 m
2
; thửa số 170: 23.971 m
2
), thời hạn sử dụng đến hết ngày 16/8/2012.
Đến năm 2011, thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ Thường Xung, Hội đồng
đền GPMB huyện NQ đã tiến hành kiểm đếm tài sản, hoa màu trên đất của
ông C thuê của UBND CP tham mưu cho UBND huyện NQ ban hành
Quyết định số 1229/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự toán bồi thường, hỗ trợ
giải phóng mặt bằng giai đoạn 2 dự án cải tạo, nâng cấp hồ Thường Xung tại
VP, huyện NQ, trong đó bồi thường tài sản được kiểm đếm cho ông Nguyễn
Thành C với số tiền 93.164.111 đồng.
Sau đó ông C khiếu nại đến UBND huyện NQ về việc UBND huyện
NQ còn bồi thường, hỗ trợ thiếu cho ông C khi giải phóng mặt bằng thực hiện
dự án cải tạo, nâng cấp hồ Thường Xung. Nội dung khiếu nại của ông C được
UBND huyện NQ thụ giải quyết tại Quyết định số 3503/QĐ-CT ngày
17/8/2015 của Chủ tịch UBND huyện NQ. Sau khi quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu, ông Nguyễn Thành C không nhất trí với nội dung giải quyết
khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện NQ đã tiếp tục khiếu nại lần hai đến Chủ
8
tịch UBND tỉnh Ninh Bình. UBND tỉnh Ninh Bình đã thụ lý và giải quyết khiếu
nại lần hai đối với ông C tại Quyết định s476/QĐ-UBND ngày 24/9/2018 của
Chủ tịch UBND tnh Ninh Bình.
Qua xem xét, UBND huyện NQ nhận thấy việc giải quyết khiếu nại của
Chủ tịch UBND huyn trước đây tại Quyết định số 3503 ngày 17/8/2015 và việc
giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh nh tại Quyết định
số 476/QĐ-UBND ngày 24/9/2018 đối với nội dung khiếu nại của ông Nguyễn
Thành C là đúng theo quy định ca pháp luật.
Tại Văn bản số 06 ngày 10 tháng 5 năm 2019 trong quá trình giải
quyết vụ án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân CP
trình bày:
Sau khi nhận được thông tin của nhân dân thôn Đồng t về việc ông
Nguyễn Thành C vi phạm xây dựng trái phép vật kiến trúc trên đất được
UBND CP giao thầu đất, ngày 22/12/2010 UBND CP đã đến hiện trường
lập biên bản u cầu ông Nguyễn Thành C không được xây dựng bất kỳ vật kiến
trúc nào trên đất mà ông đang thầu yêu cầu ông C phải tháo dỡ toàn bộ vật
kiến trúc mà ông đã xây dựng trên đất thầu của UBND xã.
Chiều ngày 22 tháng 12 năm 2010 vào lúc 14 giờ 30 phút, UBND CP
tiến hành làm việc với ông Nguyễn Thành C về nội dung ông Nguyễn Thành C
tự ý xây nhà, vật kiến trúc phạm trên diện tích đất thuê của địa phương. Ông C
ý kiến: “Sau khi xem biên bản tôi đề nghị chính quyền gia hạn cho tôi khi
nào chấm dứt hợp đồng tôi sẽ tự dỡ bỏ”.
Ngày 23 tháng 12 năm 2010, ông C đơn đề nghị UBND CP tạo
Điều kiện cho xây dựng chuồng trại tạm để bảo vệ vật nuôi, nhưng UBND
CP không đồng ý, vì trong hợp đồng không được xây dựng vật kiến trúc trên đất
mà ông đang thuê của UBND xã.
Ngày 28 tháng 12 năm 2010, UBND CP tiếp tục mời ông C lên làm
việc về nội dung tháo dỡ công trình xây dựng trái phép nhưng ông C không
tên vào biên bản làm việc.
Ngày 20/3/2014, UBND CP đã tổ chức hội nghị mời ông Nguyễn
Thành C đến trụ sở UBND CP để giải quyết thanh hợp đồng thuê đất
hoang số 02 giữa UBND xã CP và ông C.
Ngày 23/4/2014, UBND đã kiểm tra hiện trường lập biên bản làm
việc xác định vị trí tài sản trên đất và báoo UBND huyện về việc xác định vị trí
xây dựng vật kiến trúc trái phép của ông C trên đất của UBND đang quản
không thuộc phần đất thuê theo hợp đồng số 02 của hộ gia đình ông C với UBND
CP. Sau đó ông C đã có đơn khiếu nại đến UBND huyện NQ về việc UBND
huyện NQ còn bồi thường, htrợ thiếu cho ông C khi giải phóng mặt bằng thực
hiện dự án cải tạo, nâng cấp hThường Xung. Nội dung khiếu nại của ông C đã
được Chủ tịch UBND huyện NQ thụ lý và giải quyết tại Quyết định số 3503/QĐ-
9
CT ngày 17/8/2015.Sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, ông
Nguyễn Thành C không nhất trí với nội dung giải quyết khiếu nại của Chtịch
UBND huyện NQ đã tiếp tục khiếu nại lần hai đến Chtịch UBND tỉnh Ninh
Bình. Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình đã thụ lý và giải quyết khiếu nại lần hai đối
với ông C tại Quyết định số 476/-UBND ngày 24/9/2018 của Chủ tịch UBND
tỉnh Ninh Bình.
UBND CP nhận thấy việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND
huyện NQ trước đây tại Quyết định số 3503/-CT ngày 17/8/2015 và việc giải
quyết khiếu nại lần hai của Chtịch UBND tỉnh Ninh Bình tại Quyết định số
476/QĐ-UBND ngày 24/9/2018 đối với nội dung khiếu nại của ông C là đúng
theo quy định ca pháp luật.
Tại Văn bản số 06 ngày 17 tháng 5 năm 2019 trong quá trình giải
quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là UBND xã VP trình bày:
UBND VP kng có ý kiến gì đối với các yêu cầu ca ngưi khởi kiện.
Tại Văn bản ngày 16 tháng 9 năm 2019 trong quá trình giải quyết vụ
án; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị L (là vợ của ông C)
trình bày:
Gia đình bà là nông dân lao động sản xuất nông nghiệp, được sự quan tâm
của UBND CP cho gia đình thuê đất, hợp đồng đã được Chủ tịch UBND
thời hạm 05 năm, từ ngày 16/8/2007 đến ngày 16/8/2012. Năm 2011
UBND xã VP được huyện chỉ đạo thu hồi lại đất đã chấm dứt hợp đồng của bà
là 02 năm, đã vi phạm:
1.Không thanh lý hợp đồng.
2.Không đền hỗ trợ 02 năm còn lại, không thu hoạch được sản
phẩm như lợn, gà, dê, rau màu ngắn ngày, các công trình kiến trúc trên đất. Hậu
quả gia đình bà bị thua thiệt, buộc gia đình bà phải khiếu kiện, tố cáo tới cơ quan
thẩm quyền như UBND xã, huyện, tỉnh, kéo dài từ năm 2011 đến nay 08
năm, tốn công lao động, sức khỏe, tiền bưu chính, giấy tờ… với tổn thất trên
1.400.000.000 đồng. Bà L đề nghị Tòa án hủy Điều 01 và Điều 02 Quyết định số
476, 3503 của UBND huyện, UBND tỉnh. Buộc UBND xã, huyện phải bồi
thường cho bà về chấm dứt hợp đồng không thanh lý, đền bù cho gia đình bà chi
phí khiếu nại 08 năm nay. đồng ý nếu UBND đền htrợ cho số tiền
1.400.000.000 đồng, khi nào có thỏa thuận bà xin rút đơn coi như hòa giải thành.
Tại phiên đối thoại ngày 18/9/2019 và tại phiên tòa, L đề nghị Tòa án chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho vợ
chồng bà.
Trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, ng khai chứng cứ
đối thoại ông Nguyễn Thành C vẫn ginguyên yêu cầu khởi kiện, người đại
diện theo ủy quyền của người bị kiện vẫn giữ nguyên Quyết định số 476/QĐ-
UBND ngày 24/9/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình.
10
Tại Bản án hành chính thẩm số 01/2019/HCST ngày 29 tháng 10 năm
2019 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình, đã quyết định:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193,
Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 2, Điều 15, Điều 21, Điều 36,
Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40 Luật Khiếu nại; Điều 22 Luật tổ chức chính
quyền địa phương; khoản 1, khoản 6, khoản 7 Điều 32 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội;
Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C yêu cầu hủy Điều
01, Điều 02 Quyết định 476/QĐ-UBND ngày 24 tháng 9 năm 2018 của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn
Thành C (lần 2).
Bác yêu cầu của ông Nguyễn Thành C yêu cầu UBND VP, UBND
CP, UBND huyện NQ, UBND tỉnh Ninh Bình liên đới bồi thường cho ông số
tiền 1.443.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm bốn mươi ba ngàn đồng chẵn).
Về án phí: Ông Nguyễn Thành C phải chịu 300.000 đồng án phí hành
chính thẩm, được tr vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số
AA/2010/04482 ngày 11 tháng 4 năm 2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh
Bình. Ông Nguyễn Thành C phải chịu 52.290.000 đồng án phín sựthẩm.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn thông báo về quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 04/11/2019, người khởi kiện ông Nguyễn Thành C kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Thành C vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy các quyết định của UBND do
UBND ban hành quyết định không đúng quy trình, không đúng quy định của
pháp luật; yêu cầu bồi thường s tiền hơn 700 triệu đồng do UBND ban hành
quyết định sai ảnh hưởng đến quyền lợi của ông C; ông C đề ngh tiếp tục thuê
diện tích đất chưa b thu hi và xem xét lại phần án phí dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội có quan điểm về
việc giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử tuân thủ
đúng quy định của pháp luật tố tụng, các đương sự chấp hành đúng quy định
của pháp luật và đơn kháng cáo của ông C là hợp lệ.
Về nội dung: Đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thành C,
giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hvụ án đã được kiểm tra,
xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
11
[1] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện: Ông Nguyễn Thành C
khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Điều 01 Điều 02 của Quyết định số 476/QĐ-
UBND ngày 24/9/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình; yêu cầu UBND
VP, UBND CP, UBND huyện NQ, UBND tỉnh Ninh Bình cùng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình ông với số tiền 1.443.000.000 đồng. Căn
cứ khoản 1 Điều 3, Điều 7, Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật tố tụng hành chính,
Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền.
Ông Nguyễn Thành C đã thực hiện quyền khởi kiện, trong thời hiệu khởi
kiện được quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
[2] Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại: Ngày 10/9/2015 ông Nguyễn
Thành C gửi đơn đến Chủ tịch y ban nhân dân tỉnh Ninh Bình khiếu nại Quyết
định giải quyết khiếu nại số 3503/QĐ-CT ngày 17/8/2015 của Chủ tịch UBND
huyện NQ; ông Nguyễn Thành C thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại.
Theo quy định tại Điều 21 Luật khiếu nại thì đơn khiếu nại của ông Nguyễn
Thành C, thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND tỉnh Ninh Bình.
[3] Về hình thức của Quyết định: Quyết định số 1129/QĐ-UBND ngày
09/5/2011 của UBND huyện NQ, Quyết định số 3503/QĐ-CT ngày 17/8/2015
của Chủ tịch UBND huyện NQ Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày
24/9/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về việc giải quyết
khiếu nại của ông Nguyễn Thành C (lần hai) đã ban hành đúng mẫu số 16-KN
(Ban hành kèm theo Thông tư số 07/3013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh
tra Chính phủ).
[4] Về trình tự thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại:
- Thời hạn giải quyết đơn khiếu nại: Tính từ ngày ông Nguyễn Thành C
có đơn khiếu nại gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (ngày 10/9/2015)
cho đến khi ban hành Quyết định số 476/QĐ-UBND (ngày 24/9/2018) quá
hạn, vi phạm thời hạn thụ lý, giải quyết khiếu nại được quy định tại Điều 36,
Điều 37 Luật khiếu nại, nhưng bản chất việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch
UBND tỉnh là đúng quy định của pháp luật.
- Về trình tự thủ tục:
Ngày 17/8/2015, Chủ tịch UBND huyện NQ đã ban hành Quyết định số
3503/QĐ-CT giải quyết khiếu nại lần đầu đối với khiếu nại của ông Nguyễn
Thành C, trong đó đã bác nội dung đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành C về
việc bồi thường, hồ trợ về đất và các khoản hỗ trợ khác khi Nhà nước thu hồi đất
thực hiện dự án đối với diện tích đất UBND CP cho thuê không đúng thẩm
quyền. Giao Hội đồng đền - GPMB huyện trình UBND huyện NQ thu hồi,
nộp về ngân ch Nnước số tiền 93.164.111 đồng đã bồi thường không đúng
cho ông Nguyễn Thành C. Kiểm điểm, có hình thức xử lý nghiêm túc với tập thể
nhân liên quan trong Hội đồng đền , GPMB huyện, UBND CP,
UBND xã VP trong việc quản đất, thực hiện trình tự, thủ tục cho thuê đất,
12
kiểm đếm, lập phương án bồi thường, hỗ trợ về tài sản, cây trồng đối với hộ ông
Nguyễn Thành C không đúng quy định của pháp luật về đất đai. Yêu cầu UBND
CP giải quyết dứt điểm các tồn tại trong hợp đồng giao thầu đất với ông C
theo đúng quy định của pháp luật.
Không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại nêu trên, ngày 10/9/2015, ông
Nguyễn Thành C đơn gửi Chủ tịch UBND tỉnh khiếu nại Quyết định số
3503/QĐ-CT ngày 17/8/2015 của Chủ tịch UBND huyện NQ, trong đó nội
dung: không nhất trí với việc UBND huyện NQ thu hồi nộp vào ngân sách
nhà nước s tiền 93.164.111 đồng đã bồi thường cho ông. Đề nghị được bồi
thường, hỗ trợ về công khai hoang, cải tạo đất, di chuyển gia súc, gia cầm, vật
nuôi xây dựng khu chuồng trại mới để n định chăn nuôi khi Nhà nước thu
hồi đất để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ Thường Xung, huyện NQ.
Khiếu nại của ông Nguyễn Thành C không được Chủ tịch UBND tỉnh
Ninh Bình chấp nhận nên Quyết định số 3503/QĐ-CT ngày 17/8/2015 của Chủ
tịch UBND huyện NQ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành
C lần đầu căn cứ. vậy, tại Quyết định s 476/QĐ-UBND ngày
24/9/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình có nội dung:
Giữ ngun Quyết định số 3503/QĐ-CT ny 17/8/2015 của Chủ tịch
UBND huyện NQ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành C.
Bác nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Thành C vviệc không nhất trí với
Quyết định số 3503/QĐ-CT ngày 17/8/2015 của Chủ tịch UBND huyện NQ về
việc thu hồi nộp về ngân sách Nhà nước số tiền 93.164.111 đồng đã bồi
thường cho ông đề nghđược hưởng một số chính ch bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đt để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ Thường Xung.
Tại Công văn 384/UBND-VP ngày 23/3/2021, Ủy ban nhân dân huyện
NQ, tỉnh Ninh Bình xét Điều kiện, hoàn cảnh của người dân, Hội đồng đền
giải phóng mặt bằng huyện đã phối hợp với UBND CP, UBND VP tham
mưu UBND huyện không thu hồi số tiền 93.164.111 đồng nêu trên đối với
người dân”.
Như vậy, trình tự, thủ tục ban hành văn bản nêu trên đúng quy định của
pháp luật.
[5] Về nội dung:
[5.1] Về việc thuê đất và sử dụng đất:
- Ngày 15/8/2007, UBND CP ông Nguyễn Thành C đã Hợp
đồng giao thầu đất số 02/HĐ-GT (tên hợp đồng thể hiện hợp đồng giao thầu
đất nhưng nội dung thể hiện thđất), diện tích đất thuê 3,45 ha (thuộc núi
Sụ Cú và chân núi Sụ Cú tại thôn Đồng Bót, CP.
Thời gian thuê đất 05 năm tngày 16/8/2007 đến ngày 16/8/2012. Hợp
đồng chấm dứt trong các trường hợp: hết thời hạn thuê đất không được gia
hạn tiếp, bên thuê đất bị phá sản hoặc giải thể, bên thuê đất bị cơ quan Nhà nước
13
có thẩm quyền thu hồi đất theo Điều 38 Luật Đất đai.
Tuy nhiên, diện tích đất ông C thuê không thuộc quỹ đất nông nghiệp sử
dụng mục đích kinh doanh, sản xuất đất nông nghiệp sdụng vào mục
đích công ích của xã. Tại phiên tòa phúc thẩm ông C đại diện UBND CP
đều xác định việc hợp đồng vượt quá thẩm quyền (theo quy định khoản 3
Điều 37 Luật Đất đai năm 2003) thời điểm thu hồi đất hết thời hạn thuê theo
hợp đồng nêu trên.
- Sau khi thuê đất ông C thực hiện trồng cây, nhưng đến tháng 12/2010
khi chủ trương thu hồi đất khu vực ông C thuê để thực hiện dự án cải tạo,
nâng cấp hồ Thường Xung, ông Nguyễn Thành C đã xây dựng chuồng trại,
tường rào, sân thả lợn, nhà bán mái, trồng cây keo, khi chưa được UBND xã CP
đồng ý, mặc UBND CP đã lập biên bản vi phạm yêu cầu ông Nguyễn
Thành C tháo dỡ, nhưng ông C không chấp hành vẫn tiến hành xây dựng
chuồng trại, vật kiến trúc...Vi phạm Luật Đất đai vi phạm thỏa thuận Hợp
đồng giao thầu đất số 02/HĐ-GT nêu trên.
[5.2] Thực hiện dự áncải tạo,nâng cấp hồ Thường Xung, huyện NQ:
- Thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp hồ Thường Xung, huyện NQ, ngày
21/12/2010 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1118/QĐ-UBND về việc thu
hồi đất, giao đất thực hiện dự án, nhưng không thu hồi diện tích đất mà UBND
CP đã cho ông C thuê tại thửa 139, 170 bản đồ số 45, bản đồ địa chính xã CP
lập năm 2002. Tuy nhiên, vào khoảng đầu năm 2011, Hội đồng đền giải
phóng mặt bằng huyện NQ UBND VP đã kiểm đếm tài sản, vật kiến trúc,
cây cối hoa màu trên đất mà ông C thuê, (Biên bản không ghi ngày tháng năm
nào), phần tài sản, vật kiến trúc gồm: chuồng lợn, tường quây lợn, nhà bán mái,
móng tường rào, trụ cột tường rào, cây keo mới trồng, chữ ký xác nhận của
Hội đồng đền - GPMB huyện NQ, UBND VP và ông C. Như vậy UBND
VP Hội đồng đền - GPMB huyện NQ cùng xác nhận vào biên bản
kiểm đếm tài sản, vật kiến trúc của ông C không đúng, vì vị trí đất ông C thuê
thuộc quyền quản của UBND xã CP, UBNDCP đã cho ông C thuê từ ngày
16/8/2007. Hội đồng đền bù - GPMB huyện NQ UBND xã VP thực hiện việc
kiểm đếm tài sản, cây cối trong khi Quyết định s1118/QĐ-UBND của UBND
tỉnh không thu hồi diện tích đất ông C thuê là sai quy định. Chủ tịch UBND tỉnh
đã chỉ đạo Chủ tịch UBND huyện NQ kiểm điểm, làm rõ sai phạm của tập thể cá
nhân để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
- Tại Quyết định số 1229/QĐ-UBND ngày 09/5/2011 của UBND huyện
NQ “phê duyệt dự toán bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng nâng cấp hồ
Thường Xung …”, xác định tiền đền bù tài sản, cây cối cho ông Nguyễn Thành
C với số tiền 93.164.111 đồng (vật kiến trúc 78.164.111 đồng và cây cối hoa
mầu 15.000.000 đồng). Ông Nguyễn Thành C khiếu nại. Ngày 17/8/2015, Chủ
tịch UBND huyện NQ đã ban hành Quyết định số 3503/QĐ-CT về việc giải
14
quyết khiếu nại lần đầu của ông Nguyễn Thành C, trong đó giao cho Hội
đồng đền - GPMB huyện NQ trình UBND huyện NQ thu hồi nộp về ngân
sách Nhà nước số tiền 93.164.111 đồng đã bồi thường không đúng cho ông
Nguyễn Thành C, cho rằng, việc bồi thường 93.164.111 đồng nêu trên
không đúng quy định tại khoản 2 Điều 31 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày
13/8/2009 của Chính phủ.
[5.3] Theo hợp đồng ký kết thì thời hạn thuê đất của ông Nguyễn Thành C
kết thúc vào ngày 16/8/2012. Đến ngày 09/01/2013, UBND tỉnh mới ban hành
Quyết định số 14/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, giao đất thực hiện dự án, trong
đó có thu hồi một phần diện tích đất được UBND xã CP cho ông Nguyễn Thành
C thuê, tại thời điểm ban hành Quyết định số 14/QĐ-UBND thì hợp đồng thuê
đất của ông C với UBND xã CP đã hết hạn 04 tháng 24 ngày. Hồ sơ địa chính và
quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh thể hiện: diện tích đất thu hồi do
UBND CP quản lý; không tên, danh sách của ông C bị thu hồi đất. Theo
thỏa thuận giữa các bên tUBND không trách nhiệm bồi thường về tài sản,
cây cối khi hết hạn hợp đồng.
Mặt khác, tài sản, vật kiến trúc của ông C xây dựng trên đất đã bUBND
CP lập biên bản vi phạm yêu cầu ông C tháo dỡ ttháng 12/2010. Theo
quy định tại điểm a khoản 1, điểm b khoản 2, Điều 43 Luật Đất đai năm 2003,
khoản 3 Điều 7 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ,
Quyết định số 27/2009/QĐ-UBND ngày 16/10/2009 của UBND tỉnh Ninh Bình
thì ông Nguyễn Thành C không được hưởng chính sách bồi thường, hỗ trợ về
đất và tài sản khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án.
Tuy nhiên, tại Công văn 384/UBND-VP ngày 23/3/2021, Ủy ban nhân
dân huyện NQ, tỉnh Ninh Bình “xét Điều kiện, hoàn cảnh của người dân, Hội
đồng đền giải phóng mặt bằng huyện đã phối hợp với UBND CP, UBND
VP tham mưu UBND huyện không thu hồi số tiền 93.164.111 đồng nêu trên
đối với người dân”.
Như vậy, mặc dù ông C xây dựng trái phép nhưng ông C vẫn được UBND
huyện bồi thường toàn bộ tài sản trên đất. Do vậy, phần kháng cáo này của ông
C đã được chấp nhận.
[6] Ông Nguyễn Thành C cho rằng, đề nghị bồi thường hỗ trợ các khoản
chi phí đầu vào cải tạo diện tích đất khai hoang. Tại phiên tòa phúc thẩm ông
C xác định khoảng 8000m
2
, đề nghị hỗ trợ công khai hoang cải tạo đất; bồi
thường 46m
3
xây dựng đường đào mương; giá trị gia súc, gia cầm vật nuôi
chưa đến thời điểm thu hoạch như: lợn 150 con, 15 con, 200 con; bồi
thường di chuyển gia súc, gia cầm vật nuôi xây dựng khu chuồng trại mới để
ổn định chăn nuôi.
Hội đồng xét xphúc thẩm, thấy: ngoài khoản tiền 93.164.111 đồng thể
hiện trong Biên bản kiểm đếm của Hội đồng đền - GPMB huyện NQ
15
UBND VP thực hiện theo Quyết định số 1229/QĐ-UBND ngày 09/5/2011
của UBND huyện NQ nêu trên, ông C không xuất trình tài liệu chứng minh ông
C thiệt hại khác do việc giải quyết khiếu nại gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại
diện UBND xác định không về diện tích khai hoang của ông C. Do vậy,
không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của ông C.
Ngoài ra, ông C đề nghị tiếp tục thuê diện tích đất chưa bị thu hồi (trong
3,45 ha mới thu hồi 1,55ha). Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Việc thuê đất
thuộc thẩm quyền của UBND các cấp, không thuộc thẩm quyền của Tòa án nên
không xem xét.
[7] Về án phí:
[7.1] Xét kháng cáo ông C cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông C nộp
52.290.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không đúng:
Hội đồng t xử phúc thẩm, thấy: ông C khởi kiện yêu cầu bồi thường số
tiền 1.443.000.000 đng, do việc ban nh quyết định giải quyết khiếu nại y ra
đối với ông C. Mặt khác, ông C cho rằng, trường hợp UBND bồi thường cho gia
đình ông ½ số tiền trong tổng số tiền 1.443.000.000 đồng mà ông u cầu
721.000.000 đồng thì ông sẽ t đơn kiện. Khoản tiền ông C yêu cầu bồi thường
(bao gồm: 93.164.111 đồng thiệt hại kc do việc giải quyết khiếu nại y
ra).Tại ng văn 384/UBND-VP ngày 23/3/2021, Ủy ban nhân n huyện NQ,
không thu hồi số tiền 93.164.111 đồng u trên đối với ông C.
Theo khoản 6 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì “6. Người có yêu cầu bồi thường
thiệt hại về tài sản theo quy định của pháp luật thì phải chịu án phí nếu yêu cầu
của họ không được Tòa án chấp nhận.Tòa án cấp thẩm buộc ông C phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm là không có cơ sở.
Trường hợp, Tòa án cấp thẩm xác định yêu cầu bồi thường của ông C
do việc ban hành quyết định giải quyết khiếu nại gây ra yêu cầu bồi thường
thiệt hại về tài sảnnhưng quá trình giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng
điểm c khoản 3 Điều 19 Nghị quyết s01/2012/NQ-TP ngày 13/6/2012 của
Hội đồng Thẩm phán TANDTC để giải thích cho ông C về những khoản yêu cầu
bồi thường không phù hợp, nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại đó không được Tòa
án chấp nhận thì ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là ảnh hưởng đến quyền
lợi của ông C.
Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của ông C về việc không buộc ông C
nộp 52.290.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Từ nhận định nêu trên, xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của
ông C; sửa Bản án số 01/2019/HCST ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Tòa án
nhân dân tỉnh Ninh Bình về án phí.
16
[7.2] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Thành C được
chấp nhận nên ông Nguyễn Thành C không phải chịu án phí hành chính phúc
thẩm.
các lẽ trên;
Căn cứ khoản 2Điều 241 Luật T tụng Hành cnh; Ngh quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Thành C;
[2] Sửa quyết định của Bản án số 01/2019/HCST ngày 29 tháng 10 năm
2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, quyết định:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193,
Điều 348 Luật Tố tụng nh chính; khoản 1 Điều 2, Điều 15, Điều 21, Điều 36,
Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40 Luật Khiếu nại; Điều 22 Luật tchức cnh
quyền địa phương; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành C yêu cầu hủy Điều 01,
Điều 02 Quyết định 476/QĐ-UBND ngày 24 tháng 9 năm 2018 của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn
Thành C (lần 2).
- Bác yêu cầu của ông Nguyễn Thành C yêu cầu UBND xã VP, UBND xã
CP, UBND huyện NQ, UBND tỉnh Ninh Bình liên đới bồi thường cho ông số
tiền 1.443.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm bốn mươi ba ngàn đồng chẵn).
- Về án phí: Ông Nguyễn Thành C phải chịu 300.000 đồng án phí hành
chính thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số
AA/2010/04482 ngày 11 tháng 4 năm 2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh
Ninh Bình. Ông C không phải chịu 52.290.000 đồng án phí dân sự thẩm;
không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Ninh Bình;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Cục THADS tỉnh Ninh Bình;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu HS, HCTP.
T/M HI ĐNG XÉT X PHÚC THM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Văn Cường
Tải về
Bản án số 179/2021/HC-PT Bản án số 179/2021/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất