Bản án số 177/2021/HNGĐ-ST ngày 02/12/2021 của TAND tỉnh Hải Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 177/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 177/2021/HNGĐ-ST ngày 02/12/2021 của TAND tỉnh Hải Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 177/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/12/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Thùy D khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Văn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
_____________
Bản án số: 177/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 02/12/2021
V/v ly hôn, tranh chấp v ni
con khi ly n
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
__________________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định
Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Th Huyn - Thư ký Tòa án nhân dân tnh Hi Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
xét xử thẩm ng khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số 148/2021/TLST-
HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2021, về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi
ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2021/QĐXXST-HNGĐ
ngày 01 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2021/QĐST-
HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021 giữa:
1.Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D Sinh năm 1995
HKTT: Thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương
Địa chỉ: Đội 11, thôn X, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng
mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T Sinh năm 1993
HKTT Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn K, C, huyện T, tỉnh Hải
Dương. Hiện đang cư trú tại Nhật Bản. Vắng mặt.
3.Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị Th Sinh năm 1963. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án,
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D trình y: Chị anh Nguyễn Văn T kết
2
hôn trên sở tnguyện, đăng kết hôn tại Uban nhân dân T, huyện
T, tỉnh Hải Dương (nay C) ngày 09/7/2018. Sau khi kết hôn, vchồng
thời gian ngắn chung sống với nhau tại gia đình anh T nhưng không hạnh
phúc, do vợ chồng không hòa hợp. Hai tháng sau khi cưới thì anh T đi lao động
nước ngoài không quan tâm tới chị, ngay cả khi sinh con anh T cũng không
quan tâm. Đồng thời trong thời gian này nhiều người đến đòi nợ do anh vay
nợ trước đó khi nước ngoài, mặc dù chị đã trả nợ hộ anh nhưng số nợ
quá lớn không trang trải hết. Trong khi đó anh T không quan tâm, không gửi tiền
cho chị nuôi con. Do vậy chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chxác định
tình cảm vchồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn
anh T.
Về con chung: Vợ chồng 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày
15/02/2019 hiện đang với chị D. Nay vợ chồng ly hôn chị đề nghị được
nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Kng yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại lời khai của Nguyễn Thị Th (mẹ đanh T) thể hiện: Anh T hiện
đang sinh sống tại Nhật Bản, gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh T
nước ngoài. Nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị D anh
T do vợ chồng không hòa hợp, thường cãi nhau về kinh tế, không thống nhất
được về chi tiêu tiền nong của vợ chồng, vợ chồng nhiều lời lẽ khó nghe qua
điện thoại sau đó chặn liên lạc của nhau. Nay chD đơn ly hôn anh T, gia
đình đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Gia đình Thỏa cũng
thường xuyên liên lạc với anh T qua điện thoại đã thông báo cho anh biết
việc chị D khởi kiện ly hôn. Anh T quan điểm xác định tình cảm vchồng
không còn nên nhất trí ly hôn. Về con chung, anh T nhất trí để chị D nuôi
dưỡng, trong trường hợp chị D kết hôn với người khác hoặc không đủ điều kiện
nuôi con thì anh sẽ yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp
luật. Về tài sản chung không cón nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Do dịch
bệnh và công việc bận nên anh T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tòa án xác minh tại địa phương nơi chị D, anh T đăng ký kết hôn và sinh
sống thể hiện: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau khoảng hai tháng
thì anh T đi nước ngoài lao động. Trong thời gian sinh sống với nhau do vợ
chồng không hòa hợp nên xảy ra mâu thuẫn chị D đã về nhà bố mẹ đẻ
Hưng Yên sinh sống. Nay chD đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, chị D vắng mặt, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị D
đề nghị giữ nguyên đối với yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương phát biểu
quan điểm: Thm phán, Tký, Hội đồng xét xử (HĐXX) thực hin đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý
vụ án đến thời điểm xét xử, nguyên đơn, chấp hành đúng các quy định tại Điều
71, 72 BLTTDS. Bị đơn giấu địa chỉ, không mặt theo giấy triệu tập của Tòa
án. Về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét x áp dụng Điều 56, 82, 83
3
Luật HN&GĐ năm 2014, Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 quy định về mức
thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn
nhân: Xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy D được ly hôn anh Nguyễn n
T; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh Q, sinh ny 15/2/2019 cho ch
Dương chăm sóc, nuôi ng. Chp nhn sự tự nguyện của chị ơng không yêu
cầu anh Tú đóng góp tiền cpng nuôi con; Vềi sản chung: Không đặt ra gii
quyết; Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn
(Chị D đã nộp).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy D sinh sống Việt
Nam, bị đơn anh Nguyễn Văn T nơi trú cuối cùng trước khi xuất cảnh
thôn K, C, huyện T, tỉnh Hải Dương, hiện đang lao động tại Nhật Bản, không
địa chỉ cụ thể. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết
đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị D gia đình anh T
không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T nước ngoài. Tòa án cũng đã tiến
hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Mặt khác, gia
đình Th vẫn thường xuyên liên lạc với anh T nên Tòa án đã tống đạt các văn
bản tố tụng cho gia đình để thông o cho anh T biết việc chị D đề nghị giải
quyết ly hôn và các thủ tục tố tụng khác. Gia đình đã nhận các văn bản tố tụng
đã thông báo cho anh biết. Tại phiên tòa, anh vắng mặt lần thứ hai và
đề nghị giải quyết vắng mặt, chị D đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy
căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp
luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thùy D và anh Nguyễn Văn T
kết hôn trên sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dânT (nay
Chí Minh), huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 09/7/2018, hôn nhân hợp
pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau được khoảng 2 tháng thì phát
sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không sự hòa hợp trong cuộc
sống cũng như trong việc quản tiền, kinh tế gia đình. Vợ chồng cũng không
sự quan tâm, chia sẽ lẫn nhau. Sau đó chD về quê tại thành phố Hưng Yên
sinh sống. Thông qua gia đình, anh thông tin xác định tình cảm vchồng
không còn nên nhất trí ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D,
anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh
qua lời khai của các đương sự, đại diện gia đình chính quyền địa phương nơi
các đương sự sinh sống. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị D ly
hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về quan hệ nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thùy D anh Nguyễn Văn T
một con chung Nguyễn Minh Q, sinh ngày 15/02/2019. Hiện đang với
chị D. HĐXX xét thấy hiện con chung còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), anh T cũng
4
nhất tđể chị D trực tiếp nuôi con. Do vậy, HĐXX chấp nhận giao con chung
cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng phợp với các Điều 81, 82 83 Luật Hôn
nhân gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh T phải
cấp dưỡng cho con. Nếu có căn cứ cho rằng chị D không đủ điều kiện chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì anh T quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa
án thẩm quyền giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy
định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị D, anh T không yêu cầu nên Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Các đương sự quyền khởi kiện yêu
cầu giải quyết chia tài sản sau khi ly hôn (nếu có) theo quy định của pháp luật và
được giải quyết trong vụ án khác.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu án phí dân sự thẩm
(về Hôn nhân gia đình) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự,
điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82 Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình;
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thùy D ly hôn anh
Nguyễn Văn T.
2. Về quan hệ nuôi con: Xử giao cho chị Nguyễn Thị Thùy D trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Minh Q, sinh ngày
15/02/2019 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự
nguyện của chị Dương không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con.
Không ai được cản trở anh Nguyễn Văn T thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự thẩm (về Hôn nhân gia đình) được đối trừ số
tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006386 ngày 01 tháng 7 năm 2021
tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thùy D được quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết theo quy định của pháp luật.
5
Anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp
luật./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- UBND C, huyện T, tỉnh Hải
Dương(để ghi sổ hộ tịch);
- UBND phường L, TP H, tỉnh Hưng
Yên.
- Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Nguyễn Minh Tân
ơ
Tải về
Bản án số 177/2021/HNGĐ-ST Bản án số 177/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất