Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 16/12/2024 của TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 17/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 16/12/2024 của TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Buôn Đôn (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 17/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/12/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chị Nguyễn Thùy D và anh Phan Thế Th có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Đăk Lăk ngày 28/8/2019 trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên nhân là do hai vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia sẻ. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị Nguyễn Thùy D và anh Phan Thế Th sinh sống thì được biết anh Th và chị D thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau, sau đó hai vợ chồng đã sống ly thân. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BUÔN ĐÔN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024.
V/v:“Tranh chấp Ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vinh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Hảo, ông Nguyễn Đình Phượng.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Buôn Đôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên tòa: Ông Y
Rin Niê KDăm – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn mở
phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:
139/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi
con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 11 năm
2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐST-DS ngày 28/11/2024 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thùy D – Sinh năm 1996
Trú tại: Thôn 16, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Bị đơn: Anh Phan Thế Th - Sinh năm 1996
Trú tại: Thôn 16, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt lần thứ 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/9/2024, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay, nguyên
đơn chị Nguyễn Thùy D trình bày:
Chị và anh Phan Thế Th đăng ký kết hôn ngày 28/8/2019 tại Ủy ban nhân dân xã
T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện. Sau khi cưới nhau hai vợ chồng về sống
chung với gia đình bố, mẹ anh Th tại thôn 16, xã T, huyện B. Quá trình chung sống thời
gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 06 tháng, thì xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau.
Chị D về nhà mẹ để ở thôn 10, xã T, huyện B sinh sống và sinh con, còn anh Th thì vẫn ở
với bố mẹ tại thôn 16, xã T. Nguyên nhân là do anh Th không lo làm ăn, hai vợ chồng bất
đồng quan điểm về nhiều thứ, dẫn đến thường xuyên cãi nhau, không thể cứu vãn, đời
sống chung không thể duy trì.
2
Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể tiếp tục
chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm
nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phan Thế Th.
Về con chung: Chị và anh Th có 01 con chung là cháu Phan Thế Minh Qu, sinh
ngày 14/01/2020.
Sau khi ly hôn chị D đề nghị được nuôi dưỡng cháu Phan Thế Minh Qu đến tuổi
trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Phan Thế Th: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ
lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải, giấy triệu tập đương sự, nhưng anh Th vắng mặt không lý do, không có mặt tại
các buổi hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án tiến hành lập
biên bản không tiến hành hòa giải được để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Quá trình thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ kiện, Tòa án nhân dân
huyện Buôn Đôn đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thùy D và
anh Phan Thế Th tại Ban tự quản và Hội phụ nữ thôn 16, xã T, huyện B nơi chị D và anh
Th sinh sống. Qua xác minh tại địa phương thì được biết anh Th và chị D sau khi kết hôn
về sống chung với gia đình anh Th tại thôn 16, xã T, hai vợ chồng thường xuyên mâu
thuẫn cải nhau, nay chị D bỏ về sống với bố mẹ đẻ tại thôn 10, xã T và hai người đã sống
ly thân. Tòa án huyện Buôn Đôn đã tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải, phân tích
các quy định của pháp luật nhưng chị D vẫn nhất quyết xin được ly hôn với anh Phan Thế
Th, còn anh Th thì không đến Tòa án để làm việc, nên không tiến hành hoà giải được. Do
đó, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự, đưa vụ án
ra xét xử.
Tại phần tranh luận nguyên đơn chị Nguyễn Thùy D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
chị cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt
được, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Thế Th. Về
tài sản chung và nợ chung chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của các đương
sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Sau khi thụ lý vụ án hôn nhân gia đình.
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố
tụng, giao thông báo thụ lý vụ án, giao thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải, thu thập chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án. Ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt hợp lệ quyết định xét xử và tại phiên tòa hôm nay,
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình
tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng
các quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và 83
3
Luật hôn nhân & gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn
Thùy D. Xử cho chị Nguyễn Thùy D được ly hôn với anh Phan Thế Th.
Về nuôi con chung: Đề nghị giao cháu Phan Thế Minh Qu, sinh ngày 14/01/2020
cho chị D nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về tài sản chung, nợ chung chị Nguyễn Thùy D không yêu cầu nên không xem
xét; chị Nguyễn Thùy D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết
quả tranh tụng công khai trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu có trong
hồ sơ vụ kiện, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thùy D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phan
Thế Th thì đây là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị đơn anh Phan Thế Th vắng mặt lần thứ hai không có lý
do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử
vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Tòa án nhận thấy chị Nguyễn Thùy D và anh Phan Thế
Th có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Đăk Lăk ngày 28/8/2019 trên cơ sở
tự nguyện. Quá trình chung sống thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên nhân là do
hai vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia
sẻ. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị Nguyễn Thùy D và anh Phan Thế
Th sinh sống thì được biết anh Th và chị D thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau, sau đó hai
vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết tại Tòa án chị D nhất quyết đề nghị ly hôn
với anh Th. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa hai vợ chồng đã mâu thuẫn trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng
xét xử căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của chị D, xử cho chị Nguyễn Thùy D được ly hôn với anh Phan Thế Th là phù hợp.
[3] Về con chung: Xét thấy chị Nguyễn Thùy D và anh Phan Thế Th có 01 con
chung là cháu Phan Thế Minh Qu, sinh ngày 14/01/2020 hiện đang sống với mẹ. Quá
trình giải quyết chị D đề nghị được nuôi dưỡng cháu Phan Thế Minh Qu đến tuổi trưởng
thành (đủ 18 tuổi). Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân &
Gia đình, cần giao cháu Phan Thế Minh Qu cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp nên cần
chấp nhận.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy chị Nguyễn Thùy D không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên không xem xét;
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không
xem xét.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.

4
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 203; điểm b khoản 2
Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân & Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thùy D.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy D được ly hôn với anh Phan Thế Th.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Thế Minh Qu, sinh ngày 14/01/2020 cho chị
Nguyễn Thùy D nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh
hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp
nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy chị Nguyễn Thùy D không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên không xem xét;
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thùy D không yêu cầu nên không đề
cập.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thùy D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu số
0004918 ngày 30/9/2024.
- Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thùy D có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong
hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn anh Phan Thế Th vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn
luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của
pháp luật.
Nơi nhận: TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huỵên Buôn Đôn; (Đã ký)
- THADS huyện B;
- UBND xã T;
- Các đương sự; Nguyễn Vinh Tuấn
- Lưu hồ sơ.
5
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm