Bản án số 164/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TAND tỉnh Bình Phước về tranh chấp về chia tài sản chung

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 164/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 164/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TAND tỉnh Bình Phước về tranh chấp về chia tài sản chung
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Phước
Số hiệu: 164/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/08/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: MInh kiện mẹ yêu cầu chia tài sản chung do mẹ tạo dựng nhưng đứng tên hộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 164/2024/DS-PT
Ngày: 29-8-2024
V/v: tranh chấp chia tài sản chung.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Quý Chi
Ông Bùi Văn Bình
Ông Phạm Tiến Hiệp
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Phước.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Huyền Kim - Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước.
Trong các ngày 23/8/2024 29/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 41/2024/TLPT-
DS ngày 18/3/2024 về “Tranh chấp chia tài sản chung”. Do Bản án dân s
thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Toà án nhân dân thị CT, tỉnh
Bình Phước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 82/2024/QĐXXPT-
DS ngày 03 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1969; địa chỉ cư trú: Khu
phố TL, phường HL, thị xã CT, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
Người đại theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm
1982; địa chỉ trú: Số 80 đường , phường TP, thành phố ĐX, tỉnh Bình
Phước. Có mặt
- Bị đơn:
+ Bà Trần Thị B, sinh năm 1937; địa chỉ cư trú: Khu phố TL, phường HL,
thị xã CT, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1974; địa chỉ trú: Khu ph TL,
phường HL, thị xã CT, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
2
Người đại diện theo ủy quyền của B, ông D: Ông Vũ Văn T, sinh năm
1993; địa chỉ cư trú: Khu phố ĐL, thị trấn ĐP, huyện , tỉnh Bình Phước. Có
mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thị CT Người đại diện theo pháp luật: Ông
Duy Đ – Chủ tịch. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Anh Trần Quang Ng, sinh năm 1988 (chết năm 2019).
Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của anh Ng: Nguyễn
Thị Bích V (mẹ anh Ng; không xác định được cha anh Ng), sinh năm 1970, trú
tại: Khu phố TL, phường HL, thị trấn CT, tỉnh Bình Phước và chị Nguyễn Thị
Kim H, trú tại: tổ 7, phường HL, thị trấn CT, tỉnh Bình Phước (bà V, chị H xin
vắng mặt)
3. Anh Nguyễn Tấn Đ1, sinh năm 1997, trú tại: ấp 54, LA, LN, Bình
Phước (có mặt)
4. Nguyễn Thị T1; sinh năm: 1968; trú tại: Khu ph5, phường ,
thị xã CT, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
NI DUNG V ÁN:
1. Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh M tại đơn khởi kiện, trong quá trình
giải quyết vụ án và tại phiên tòa - người đại diện theo ủy quyền – ông Huỳnh
Văn L trình bày:
Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 43, diện tích 430,7m
2
tọa lạc tại khu phố
TL, phường HL, thị CT, tỉnh Bình Phước nguồn gốc do B người
trực tiếp khai phá. Đến năm 2008 thì bà B đại diện hộ gia đình gồm B các
con ông D, ông M đăng ký kê khai để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất này. Đến năm 2009 được cấp Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất với diện tích là 1058,6m
2
cho hộ bà Trần Thị B gồm bà B, ông D, ông
M. Quá trình sử dụng đất vào khoảng m 2010, hộ gia đình B làm thủ tục
tặng cho ông M một phần diện tích đất 182,4m
2
trong thửa đấy y ông
M đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó ông M cũng đã
chuyển nhượng thửa đất này cho người khác. Vào khoảng m 2017, hộ gia
đình B làm thủ tục tặng cho ông Nguyễn Thanh H2 một phần diện tích đất
216,8m
2
trong thửa đấy này ông H2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Vào khoảng năm 2021, hộ gia đình B làm thủ tục chuyển
nhượng cho ông Huỳnh Văn L3 một phần diện tích đất 228,7m
2
trong thửa
đất này hiện nay diện tích đất còn lại là: 430,7m
2
. Nay, ông M yêu cầu chia
tài sản chung đối với phần diện tích còn lại 430,7m
2
, ông M xác định tài
sản chung của ông M, bà B ông D nên ông M yêu cầu chia làm 3 phần bằng
3
nhau ông M yêu cầu chia bằng giá trị không yêu cầu chia bằng đất, không
yêu cầu chia các tài sản trên đất.
Đối với phần diện tích trước đó đã chuyển quyền cho ông M, ông H2 thì
ông M không yêu cầu không tranh chấp gì. Đối với hợp đồng chuyển
nhượng và số tiền nhận chuyển nhượng từ ông Huỳnh Văn L3 mà bà B đã nhận
thì ông M không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
2. Bị đơn Trần Thị B trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên
tòa người đại diện theo ủy quyền của Trần Thị B - anh Vũ Văn T trình
bày:
Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 43, 430,7m
2
tọa lạc tại Khu phố TL,
phường HL, thị CT, tỉnh Bình Phước nguồn gốc của B nhận chuyển
nhượng của cha ông Trần Văn L (ông L đã chết năm 1995) toàn quyền sử
dụng vào năm 1987, tuy nhiên đã giao cho bà B canh tác từ năm 1975, lúc này
B từ ngoài miền Trung đưa các con vào sinh sống, ban đầu thửa đấtdiện
tích là khoảng 1 sào 5, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do một mình B trực tiếp cải tạo, canh tác lúc này các con của B còn
nhỏ, không phụ giúp được gì. Sau đó, B đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên hộ Trần Thị B, việc này do B không am
hiểu quy định của pháp luật nên B cũng không ý kiến gì. Quá trình sử
dụng đất vào khoảng năm 2010, bà B đã làm thủ tục tặng cho ông M một phần
diện tích đất 182,4m
2
trong thửa đất này ông M đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, sau đó thì ông M cũng đã chuyển nhượng thửa đất này
cho người khác. Vào khoảng năm 2017 thì B làm thủ tục tặng cho ông
Nguyễn Thanh H2 một phần diện tích đất 216,8m
2
trong thửa đấy y đến
năm 2017, B làm thủ tục cho con gái Nguyễn Thị V1 nhưng V1 cho
con tên Huỳnh Văn L3 đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng một phần din
tích đất là 228,7m
2
trong thửa đấy này. Khi B tiến hành cho đất thì bà B
cũng gyếu mọi thủ tục do người được nhận cho trực tiếp đi làm B chỉ
ký tên vào giấy tờ cho đúng thủ tục.
Nay bà B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh M
vì bà B xác định phần diện tích đất tranh chấp là tài sản riêng của cá nhânB
không phải là tài sản chung với các con là ông M, ông D.
3. Bị đơn ông Nguyễn Thanh D trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa người đại diện theo ủy quyền là anh Vũ Văn T trình bày:
Ông D thống nhất như trình bày của B, không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của ông M, ông D xác định phần diện tích đất tranh chấp nguồn gốc
của nhân B nên đây tài sản riêng của B chkhông phải tài sản
4
chung của hộ gia đình như ông M trình bày và ông D không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của ông M.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- UBND thị xã CT tại văn bản ngày 30/10/2023 trình bày:
Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất
số 15, tờ bản đồ s43 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H- 03775
do UBND huyện CT (nay thị CT) cấp ngày 15/01/2009, tọa lạc tại: Khu
phố TL, phường HL, thị CT, tỉnh Bình Phước mang tên hộ Trần Thị B là
đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 135 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 của Chính Phủ về thi hành Luật đất đai.
- Tại phiên tòa phúc thẩm Anh Nguyễn Tấn Đ1 trình bày:
Tôi (Đ1) và Ng sống cùng bà ngoại (bà B), ông M, ông D từ năm 1999 (từ
khi mới sinh ra). Đến năm 2009, B được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên hộ. Đến năm 2021, anh lập gia đình, tách khẩu, sống riêng.
Bản thân anh không công sức đóng góp đối với việc khai hoang, tôn tạo
đối với thửa đất. Đối với tranh chấp của các bên anh không có yêu cầu gì và đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại Bản tự khai đề ngày 29 tháng 7 năm 2024 người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang
Ng là bà Nguyễn Thị Bích V trình bày:
Tôi (V) con ruột của bà Trần Thị B, em gái ca ông Nguyễn Thanh M,
chị gái của ông Nguyễn Thanh D, mẹ ruột của Trần Quang Ng. Nguồn gốc đất
đang tranh chấp là do ông ngoại (Trần Văn L) khai phá, sau này bà B và ông L
khai phá thêm. Khoảng năm 1987 ông L sang nhượng cho B được toàn
quyền sử dụng. Từ đó, bà B tiếp tục trồng trọt, canh tác, sinh sống trên thửa đất
đến nay. Diện tích sthay đổi do mẹ tôi đã bán cho hàng xóm một ít, làm
đường cho một sanh chị em trong nhà. Thửa đất tài sản riêng của B
nên không ý kiến đối với thửa đất đề nghị Hội đồng xét xử giải
quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại Bản tự khai đề ngày 30 tháng 7 năm 2024 người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang
Ng là chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Tôi (H) vợ của anh Trần Quang Ng (đã chết theo giấy khai tử số
112/TLKT-BS ngày 11/02/2019 do Ủy ban nhân nhân dân thị trấn CT, huyện
CT cấp; là cháu dâu của Trần Thị B, ông Nguyễn Thanh M, ông Nguyễn
Thanh D. Tôi về làm dâu từ năm 2018. Khi về làm dâu thì nghe các cô, cậu
5
kể nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp do ngoại (bà B) nhận chuyển
nhượng của ông cố (ông L). Chồng tôi sống với bà ngoại cho đến khi lấy tôi thì
ra riêng. Khi về làm dâu thì tôi thấy cậu M sống cùng với vợ địa chỉ khác,
không sống cùng với B. Thửa đất đang tranh chấp tài sản riêng của B
nên i không yêu cầu đối với thửa đất này đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định ca pháp luật.
Tại Bản án dân sự thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm
2024 của Toà án nhân dân thịCT, tỉnh Bình Phước quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh M đối với bị đơn Trần Thị B ông Nguyễn Thanh D về việc yêu
cầu chia quyền sử dụng đất của hộ gia đình đối với phần diện tích đất diện tích
430,7m
2
thửa đất số 5, tờ bản đồ số 43 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số A0 573529 (số vào sổ H-03775) do UBND huyện CT (nay thị CT)
cấp ngày 15/01/2009 mang tên hộ bà Trần Thị B.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phn án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền
kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 01/2/2024, nguyên đơn kháng cáo Bản án số 01/2024/DS-ST ngày
22/01/2024 của Tòa án nhân dân thị CT, tỉnh Bình Phước với nội dung đề
nghị Hội đồng t xử phúc thẩm xem xét sửa bản án thẩm theo hướng chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vn gi nguyên nội dung khởi kiện và kháng cáo.
- B đơn đề ngh Hi đồng xét x xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư kýHội đồng xét xử:
Kể từ ngày thụ vụ án tại phiên a Thẩm phán, Thư Hội đồng xét
xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản
2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS tuyên chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo
của nguyên đơn, sửa Bản án n sự thẩm số 01/2024/DS-ST ngày
22/01/2024 của TAND thị xã CT theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
6
* Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh M làm trong thời hạn luật
định,hình thức và nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật tố tụng dân s
năm 2015 nên đủ điều kiện xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về việc xác định thiếu tư cách người tham gia tố tụng của đương sự:
đương stranh chấp tài sản quyền sử dụng đất cho rằng đất tài sản
chung của hộ gia đình. Hội đồng xét xử thấy rằng, hộ khẩu gia đình do bị đơn
Trần Thị B đứng tên chủ hộ vào thời điểm cấp quyền sử dụng đất 05
thành viên, gồm Trần Thị B, ông Nguyễn Thanh M, ông Nguyễn Thanh D,
anh Trần Quang Ng và anh Nguyễn Tấn Đ1. Nhưng, Tòa án cấp sơ thẩm không
đưa anh Ng anh Đ1 vào tham gia tố tụng với tư cách người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan thiếu sót. Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã khắc
phục thiếu sót này của Tòa án án cấp thẩm, theo đó Hội đồng xét xử xác
định được anh Ng chết từ năm 2019 nên đã đưa anh Đ1 những người kế
thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của anh Ng bà Nguyễn Thị Bích V (mẹ anh
Ng), chị Nguyễn Thị Kim H (vợ anh Ng) vào tham gia tố tụng. Do đó, Tòa án
cấp phúc thẩm không lấy thiếu sót này làm căn cứ để hủy án sơ thẩm, song Tòa
án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
* Về nội dung tranh chp:
[3] Về nguồn gốc đất tranh chấp: năm 1975 Trần Thị B được cha
ông Trần Văn L chuyển nhượng cho một diện tích đất “01 sào 5” (BL 187).
Ngày 15/01/2009, hộ Trần Thị B được UBND huyện CT (nay thị CT)
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 573529 với diện tích 1.058,6m
2
.
Năm 2010, các thành viên trong gia đình đã làm thủ tục tặng cho ông Nguyễn
Thanh M một phần với diện tích 182,4m
2
, ông M được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BC 530012 ngày 06/9/2010. Ngày 28/12/2016, các thành
viên gia đình lập hợp đồng tặng cho một phần diện tích đất là 216,8m
2
cho ông
Nguyễn Thanh H2, ông Hùng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CG 053341 ngày 20/3/2017. Ngày 03/12/2021, các thành viên trong hộ gia
đình thống nhất tặng cho bà Nguyễn Thị V1 một phần với diện tích 228,7m
2
nhưng
bà V1 cho con trai là Huỳnh Văn L3 đứng tên nên các bên lập Hợp đồng
chuyển nhượng cho ông Huỳnh n L3, diện tích đất còn lại theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số A0 573529 (số vào sổ H-03775) do UBND huyện
CT (nay thị CT) cấp ngày 15/01/2009 mang tên hộ Trần Thị B
430,7m
2
. Ông M cho rằng diện tích đất 430,7m
2
là của hộ gia đình, ông cũng
thành viên của hộ. Do đó, ông khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án chia tài sản
chung đối với diện tích trên.
7
[4] Xét kháng cáo của ông M: quá trình tố tụng cả phía nguyên đơn và bị
đơn đều thừa nhận toàn bộ diện tích đất tranh chấp 430,7m
2
là do bà B tạo dựng
từ năm 1975, khi đó chồng bà B đã chết, bà 09 người con, gồm: Nguyễn
Long B, Nguyễn Thanh M, Nguyễn Thị ch V, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị
V1, Nguyễn Thanh D, Nguyễn Thanh H2, Nguyễn Thanh D, Nguyễn Thị Bích
L; trong đó ông M là con thứ tư trong gia đình.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn cho rằng: ông M công
sức đóng góp trong việc tạo dựng khối tài sản trên, thể hiện bằng việc năm
1975 ông M phải nhà trông ông D để B yên tâm đi canh tác đất, sau này
lớn ông cũng sinh sống trên thửa đất này; năm 2009 đất được cấp cho hộ gia
đình, thời điểm này chỉ 03 thành viên trong hộ khẩu B, ông M, ông D
còn những người con khác của bà B đã lần lượt lập gia đình ra ở riêng nên diện
tích đất 430,7m
2
tài sản chung của 03 mẹ con. vậy, ông M yêu cầu được
nhận 1/3 tài sản tính trị giá bằng tiền.
[6] Còn quá trình tố tụng bị đơn bà B, ông D những người con khác
của B các ông B, V, V1 đều cho rằng các con không ai công sức
đóng góp gì trong việc tạo dựng thửa đất cũng như tài sản trên đất (đất do bà B
nhận chuyển nhượng từ cha, ndo B trúng số lấy tiền để xây). Hội đồng
xét xử xét thấy, năm 1975 ông M các anh chị em của ông đều còn nhỏ, thời
điểm này ông M chưa đủ 07 tuổi. Như vậy, tại thời điểm năm 2009 thì diện tích
đất 1.058,6m
2
thuộc thửa số 15, tờ bản đồ 43, được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mặc được cấp cho hộ Trần Thị B, nhưng tài sản này
không phải tài sản do tất cả các thành viên (được thể hiện trong hộ khẩu)
cùng nhau đóng góp, cùng nhau tạo lập hoặc được tặng cho chung, được thừa
kế chung. Bên cạnh đó quá trình giải quyết cấp thẩm phía nguyên đơn
cũng thừa nhận, ông M không công sức đóng p trong việc tạo lập diện
tích đất trên (BL 162, BL 167). Thực tế, ông M lập gia đình năm 1988-1989,
thời điểm B làm thủ tục cấp GCNQSDĐ ông M không sống cùng B, ông
D nhưng vẫn nằm chung trong hộ khẩu gia đình. Ông M cũng không chứng
cứ vững chắc để chứng M ông người công sức trong việc tạo lập, duy trì
phát triển làm tăng giá trị tài sản. Bên cạnh đó, B 09 người con, ông
M một trong 03 người con từng được B tặng cho một phần đất trong tổng
diện tích bà B nhận sang nhượng từ cha năm 1975. Nếu cho rằng vào thời điểm
đất được cấp cho hộ gia đình gồm 03 thành viên đxác định đất tài sản
chung chỉ của 03 thành viên này không phợp. Do đó, việc Tòa án cấp
thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông M căn cứ
nên kháng cáo của ông M không được chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án
thẩm.
8
[7] Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đ1 những
người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của anh Ng chị H, V: những
người này xác định anh Đ1, anh Ng chỉ đứng chung trong hộ khẩu gia đình của
B, đất tranh chấp của B nên không yêu yêu cầu cũng không tranh
chấp gì. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông M không được
chấp nhận nên ông phải chịu 300.000 đồng.
[9] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của B luật T tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bđơn ông Nguyễn Thanh M;
giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của
Toà án nhân dân thịCT, tỉnh Bình Phước;
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều
39; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 100 và Điều 166 của
Luật Đất đai; Điều 147, Điều 156 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh M đối với bị đơn Trần Thị B ông Nguyễn Thanh D về việc yêu
cầu chia quyền sử dụng đất của hộ gia đình đối với phần diện tích đất diện tích
430,7m
2
thửa đất số 5, tờ bản đồ số 43 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số A0 573529 (số vào sổ H-03775) do UBND huyện CT (nay thị CT)
cấp ngày 15/01/2009 mang tên hộ bà Trần Thị B.
2. Kiến nghị Ủy ban nhân dân thị CT, tỉnh Bình Phước điều chỉnh
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 573529 (số vào sổ H-03775) do
UBND huyện CT (nay là thị CT) cấp ngày 15/01/2009 mang tên hộ bà Trần
Thị B cho đúng chủ thể sử dụng đất là bà Trần Thị B.
3. Về chi phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 156 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
buộc ông M phải chịu số tiền đo đạc 3.382.000 đồng, định giá tài sản là:
2.000.000đồng, tổng cộng là: 5.382.000 đồng, số tiền này ông M đã thi hành
xong.
9
4. Về án phí dân sự thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông M phải chịu án 300.000 đồng được trừ vào
số tiền tạm ứng đã nộp 21.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí
số 0012253 ngày 05/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị CT, tỉnh Bình
Phước. Ông M được trả lại số tiền 20.700.000 đồng.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Thanh M phải chịu 300.000
đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án
dân sự thị xã CT, tỉnh Bình Phước theo biên lai số 0004050 ngày 21/02/2024.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tnh Bình Phước;
- Chi cục THADS TX CT;
- TAND, VKS TX CT;
- c đương s;
- u: HSVA, Tổ HCTP, a DS.
Tải về
Bản án số 164/2024/DS-PT Bản án số 164/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 164/2024/DS-PT Bản án số 164/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất