Bản án số 16/2021/HS-ST ngày 28/05/2021 của TAND TX. Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 16/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 16/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 16/2021/HS-ST ngày 28/05/2021 của TAND TX. Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Đức Phổ (TAND tỉnh Quảng Ngãi) |
| Số hiệu: | 16/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/05/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 16 /2021/HS-ST
Ngày 28/5/2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN NHÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Ngọc Thời
+ Bà Bùi Thị Cẩm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã
Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quá và ông Nguyễn Trung Hiếu – Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ,
tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2021/TLST-
HS ngày 30/3/2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HS
ngày 11/5/2021 đối với bị cáo: Đỗ Chiếm D; sinh ngày 20 tháng 7 năm 1992 tại
tỉnh Quảng Ngãi; nơi cƣ trú: Tổ dân phố A, phƣờng P, thị xã X, tỉnh Quảng Ngãi;
Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Đỗ Chiếm
S, con bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chƣa có; nhân thân: Chƣa bị xử lý hành chình và
hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/12/2020 đến ngày 08/01/2021 đƣợc thay
đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên
tòa.
- Bị hại:
+ Bà Trƣơng Thị Lệ T – sinh năm 1970
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố T, phƣờng P, thị xã X, tỉnh Quảng Ngãi, (có mặt).
+ Bà Trần Thị Thu T – sinh năm 1990
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố T, phƣờng P, thị xã X, tỉnh Quảng Ngãi, (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Nguyễn Thoát H – sinh năm 1980
2
Nơi cƣ trú: Đội V, Phạm Xuân H, thôn M, xã C, thị xã X, tỉnh Quảng Ngãi,
(vắng mặt).
+ Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1971
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố B, phƣờng M, thị xã X, tỉnh Quảng Ngãi, (vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Trần Văn M – sinh năm 1966
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố T, phƣờng P, thị xã X, tỉnh Quảng Ngãi, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
đƣợc tóm tắc nhƣ sau:
Vào khoảng 08 giờ 50 phút ngày 09/12/2020, Đỗ Chiếm D mang theo một
kìm bấm và điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh - đen, biển số: 76H1-
186.67 đi từ nhà của mình ở tổ dân phố A, phƣờng P, thị xã X đến nhà bà Trƣơng
Thị Lệ T ở tổ dân phố T, phƣờng P, thị xã X, với mục đích trộm cắp tài sản. Khi
đến nhà bà T D quan sát thấy không có ai ở nhà, cổng vào nhà đóng chốt nhƣng
không khóa nên D dựng xe ở ngoài đƣờng rồi mở cổng đi vào. D đi đến cửa nhà
dƣới thấy cửa đóng và khóa bằng ổ khóa nên D dùng kìm bấm mang theo bấm đứt
khoen cửa, sau đó mở cửa vào trong nhà. D đến phòng ngủ đầu tiên lục tìm tài sản
nhƣng không có tài sản gì có giá trị nên D đi ra. D tiếp tục đi sang phòng ngủ thứ
hai, mở cửa tủ quần áo trong phòng thì thấy có một túi xách nữ màu đen, bên trong
túi xách có số tiền 12.000.000 đồng (mƣời hai triệu đồng), D lấy số tiền này rồi bỏ
vào túi áo khoác. Sau đó D tiếp tục lục tìm tài sản thì thấy có một tủ nhựa, bên
trong có: 01 (một) lách vàng tây 18K 02 chỉ và 01 (một) đôi bông tai vàng tây 18K
01 chỉ, D lấy số nữ trang này bỏ vào túi áo khoác. D tiếp tục đi xuống nhà dƣới
thấy có một tủ nhựa đựng quần áo, D dùng tay giật mạnh làm bung khóa mở ngăn
tủ, tìm kiếm dƣới các lớp quần áo D thấy có 01 bao ni lông màu trắng, bên trong có
hai hộp nhựa màu đỏ (loại hộp đựng đồ trang sức). D lấy kiểm tra một hộp nhựa thì
thấy bên trong có 01 chiếc lách vàng 9999 03 chỉ và 01 (một) nhẫn vàng 9999 01
chỉ nên D đóng hộp lại và lắc hộp nhựa còn lại thì nghe kêu tiếng “rục rục”, D nghĩ
hộp nhựa này cũng có trang sức bên trong nên không mở ra kiểm tra rồi bỏ cả hai
hộp nhựa này vào túi quần. Sau đó D theo lối đột nhập ban đầu đi ra ngoài và điều
khiển xe mô tô 76H1- 186.67 tẩu thoát.
Đỗ Chiếm D điều khiển xe mô tô chạy trên Quốc lộ 1A theo hƣớng Bắc, đến
phía Nam cầu An Khê thuộc thôn D, xã K, D dừng lại vứt cái kìm bấm bên lề
3
đƣờng và tiếp tục đi đến khu vực bãi đất trống dƣới chân Núi Sắn thuộc thôn D, xã
K, D dừng xe lại bên lề đƣờng đi vào bên trong để kiểm tra tài sản vừa trộm cắp thì
phát hiện số tiền 12.000.000 đồng (mƣời hai triệu đồng), 01 (một) chiếc lách và 01
(một) đôi bông tai bỏ trong túi áo khoác đã bị rơi mất lúc nào không xác định đƣợc.
D lấy 02 hộp nhựa đựng trang sức trong túi quần ra kiểm tra thì thấy: 01 hộp có 01
(một) chiếc lách vàng 9999 03 chỉ (loại mắc xích hình chữ nhật); 01 (một) chiếc
nhẫn vàng 9999 01 chỉ, có đính viên đá màu xanh, D lấy cất vào trong túi quần và
vứt hộp nhựa xuống đất; hộp còn lại kiểm tra có: 01 đôi bông tai bằng vàng tây có
cái móc hình cái chuông và 03 trang sức khác là hợp kim màu vàng, nhƣng đều
không có kim loại vàng (trong đó gồm: 01 đôi bông tai có gắn cái nơ, 01 đôi bông
tai có mặt hình bƣơm bƣớm, 01 nhẫn có đính các viên đá màu vàng, trắng), D thấy
đôi bông tai có mặt hình bƣơm bƣớm có kiểu dáng đẹp nên lấy cất vào trong túi
quần, số trang sức còn lại vì thấy mỏng và không có ký hiệu gì nên D nghĩ là kim
loại không có giá trị nên D đã vứt bỏ lại xuống đất gần đó. Sau đó, D tiếp tục điều
khiển xe mô tô chạy về hƣớng Bắc, đến hiệu vàng Kim H ở thôn M, xã C (do ông
Nguyễn Thoát H, SN: 1980 làm chủ kinh doanh), D vào bán 01 chiếc nhẫn vàng
9999 vừa trộm cắp đƣợc cho ông H với số tiền 4.400.000 đồng, sau khi bán nhẫn
xong D điều khiển xe đi về nhà, trên đƣờng về đến nhà ông Nguyễn T (ở TDP T,
phƣờng P, gần nhà D), D lấy 01 (một) đôi bông tai có mặt hình bƣớm bƣớm cất
giấu trên mái tôn sau nhà ông Nguyễn T. Số tiền bán nhẫn vàng có đƣợc D đã tiêu
xài cá nhân hết. Sau đó vài ngày D đem 01 chiếc lách vàng 9999 03 chỉ đã trộm cắp
đƣợc đến hiệu vàng Kim Ngọc Q (do bà Nguyễn Thị L, chủ hiệu vàng) ở tổ dân
phố B, phƣờng M, thị xã X bán đƣợc số tiền 15.100.000 đồng, D sử dụng số tiền
bán vàng tiêu xài hết.
Bản Kết luận giám định số: 35/C09C-Đ2 ngày 15/01/2021 của Phân viện
Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 01 (một) đôi bông tai kim loại
màu vàng, mỗi bông hoa tai đều có gắn hình cái chuông bằng kim loại màu vàng,
đều có kim loại vàng (Au); hàm lƣợng kim loại vàng trung bình là 60,9%, tổng
khối lƣợng mẫu là 1,62gam; 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, mỗi
bông hoa tai gồm nhiều hình tròn nối với nhau và nối với 02 (hai) hình con bƣớm
bằng kim loại màu vàng đều là hợp kim đồng (Cu), kẽm (Zn), niken (Ni), không có
kim loại vàng, tổng khối lƣợng mẫu là 2,63gam; 01 (một) đôi bông tai bằng kim
loại màu vàng, mỗi bông hoa tai đều có gắn 01 (một) vật bằng kim loại màu vàng
hình cái nơ có đính viên đá màu trắng đều là hợp kim đồng (Cu), kẽm (Zn), niken
(Ni), không có kim loại vàng, tổng khối lƣợng mẫu là 2,53gam; 01 (một) chiếc
4
nhẫn kim loại màu vàng, trên mặt nhẫn có đính 01 (một) viên đá màu vàng và 02
(hai) viên đá màu trắng đều là hợp kim đồng (Cu), kẽm (Zn), niken (Ni), không có
kim loại vàng, tổng khối lƣợng mẫu là 7,22gam.
Ngày 23/02/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đức
Phổ kết luận định giá tài sản: 01 (một) đôi bông tai bằng vàng, mỗi bông hoa tai
đều có gắn hình cái chuông bằng vàng, tổng khối lƣợng là 1,62gam, hàm lƣợng kim
loại vàng trung bình là 60,9%; 01 (một) chiếc lách bằng vàng, gồm nhiều mắc hình
chữ nhật nối với nhau, tổng khối lƣợng 03 chỉ, loại vàng 95%; 01 (một) chiếc nhẫn
bằng vàng, có đính viên đá hình bầu dục màu xanh, tổng khối lƣợng là 01 chỉ, loại
vàng 97%; 01 (một) lách bằng vàng, gồm nhiều mắc hình bông hoa nối với nhau,
tổng khối lƣợng là 02 chỉ, loại vàng 18K; 01 (một) đôi bông tai bằng vàng, có dạng
hình tròn xoắn, tổng khối lƣợng là 01 chỉ, loại vàng 18K; 01 (một) đôi bông tai
màu vàng là hợp kim đồng (Cu), kẽm (Zn), niken (Ni), không có kim loại vàng,
mỗi bông hoa tai gồm nhiều hình tròn nối với nhau và nối với 02 (hai) hình con
bƣớm; 01 (một) đôi bông tai màu vàng là hợp kim đồng (Cu), kẽm (Zn), niken (Ni),
không có kim loại vàng, mỗi bông hoa tai đều có gắn 01 (một) vật hình cái nơ có
đính viên đá màu trắng; 01 (một) chiếc nhẫn màu vàng là hợp kim đồng (Cu), kẽm
(Zn), niken (Ni), không có kim loại vàng, trên mặt nhẫn có đính 01 (một) viên đá
màu vàng và 02 (hai) viên đá màu trắng có tổng giá trị là 30.776.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra xác định vào ngày 05/12/2020 Đỗ Chiếm D còn
thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 1.000.000 đồng của bà Trần Thị Thu T để trong
cốp xe mô tô dựng tại trƣờng tiểu học số 01 Phổ Thạnh.
Tại bản cáo trạng số 12/CT - VKS ngày 29/3/2021 của Viện kiểm sát nhân
dân thị xã Đức Phổ truy tố Đỗ Chiếm D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1
Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ giữ nguyên
quyết định truy tố nhƣ bản cáo trạng và đề nghị áp dụng các điểm b, i, s khoản 1;
khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173; các Điều 38, 47 Bộ luật hình sự năm 2015
đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Đỗ Chiếm D từ 15 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã trả
lại tài sản cho bà Trƣơng Thị Lệ T nên đề nghị không xét.
Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh – đen, BKS 76H1 –
186.67 của bị cáo đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
Đối với 01 đầu lọc thuốc lá, màu vàng không còn giá trị nên đề nghị tịch thu
tiêu hủy
5
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về
dân sự nên đề nghị không xét.
Đối với bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thoát H khi mua tài sản của bị cáo
không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc
thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đức
Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã đƣợc thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố
tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan
tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Đỗ Chiếm D đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình nhƣ cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức
Phổ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo
trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại và các tài liệu, chứng
cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Vào khoảng 08 giờ 50 phút ngày
09/12/2020, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76H1 – 186.67 mang theo
kiềm bấm tới nhà của bà Trƣơng Thị Lệ T đột nhập vào nhà lấy 12.000.000đồng,
01 (một) lách vàng tây 18K 02 chỉ, 01 (một) đôi bông tai vàng tây 18K 01 chỉ, 01
chiếc lách vàng 9999 03 chỉ, 01 nhẫn vàng 9999 01 chỉ, 01 đôi bông tai bằng vàng
tây có cái móc hình cái chuông, 01 đôi bông tai có gắn cái nơ, 01 đôi bông tai có
mặt hình bƣơm bƣớm, 01 nhẫn có đính các viên đá màu vàng, trắng. Tổng giá tài
sản bị cáo trộm cắp tại nhà bà Thu là 42.776.000đồng. Ngoài ra vào ngày
05/12/2020 bị cáo còn thực hiện hành vi trộm cắp 1.000.000đồng của bà Trần Thị
Thu T. Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo có đủ yếu tố
cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo Đỗ Chiếm D là ngƣời có đầy đủ
năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức điều khiển đƣợc hành vi của mình, biết
trộm cắp tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật nhƣng để có tiền tiêu xài cho
cá nhân, lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu bị cáo trộm cắp tài sản. Tổng giá
6
trị tài sản bị cáo trộm cắp của bà Trƣơng Thị Lệ T là 42.776.000đồng, của bà Trần
Thị Thu T là 1.000.000đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh
hƣởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu
tài sản của ngƣời khác, là khách thể đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều
173 Bộ luật hình sự là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử cần
xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra và cần
phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành
ngƣời công dân có ích cho xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thƣờng cho ngƣời bị
hại, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; tại
phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đƣợc áp dụng tình tiết giảm
nhẹ theo các điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc
sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về nhân thân: Bị cáo chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị Tòa án
cấp nào xét xử về hành vi phạm tội nào.
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã
trả lại tài sản cho bà Trƣơng Thị Lệ T nên không xét.
- Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh – đen, BKS 76H1 –
186.67 bị cáo sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách
nhà nƣớc.
- Đối với 01 đầu lọc thuốc lá, màu vàng không còn giá trị nên tịch thu tiêu
hủy.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại bà Trƣơng Thị Lệ T, Trần Thị Thu T
đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xét.
[9] Đối với bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thoát H khi mua tài sản (vàng)
của bị cáo không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý là
phù hợp.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với bị cáo; về trách
nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
đƣợc chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo Đỗ Chiếm D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết
7
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều
38 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tuyên bố bị cáo Đỗ Chiếm D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Chiếm D 18 (mƣời tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án; đƣợc trừ thời gian tạm giữ từ
ngày 31/12/2020 đến ngày 08/01/2021 vào thời gian chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ
luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu
xanh – đen, mang BKS: 76H1 – 186.67 của bị cáo Đỗ Chiếm D;
- Tịch thu tiêu hủy 01 đầu lọc thuốc lá màu vàng, dài 03cm đƣợc đựng trong
01 bì niêm phong bằng giấy có chữ “MẪU ĐẦU LỌC THUỐC LÁ VỤ TRỘM
NHÀ BÀ TRƢƠNG THỊ LỆ T”, bên ngoài có các chữ ký ghi rõ họ tên của ông Võ
Hữu Vi, ông Lê Tấn Thức và bà Trƣơng Thị Lệ T. Theo biên bản giao nhận vật
chứng ngày 05/4/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự
thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Chiếm D phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí
hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngƣời bị hại, ngƣời có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo
quy định của pháp luật.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở tƣ pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND thị xã Đức Phổ;
- Cơ quan CSĐT công an thị xã Đức Phổ;
- Cơ quan THAHS công an thị xã Đức Phổ;
- Chi cục THADS thị xã Đức Phổ; Nguyễn văn Đức
- Bị cáo;
- Ngƣời tham gia tố tụng;
- Lƣu hồ sơ vụ án;
- Lƣu văn phòng.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng