Bản án số 159/2017/DS-PT ngày 22/09/2017 của TAND tỉnh Cà Mau

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 159/2017/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 159/2017/DS-PT ngày 22/09/2017 của TAND tỉnh Cà Mau
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 159/2017/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2017
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vợ chồng ông T yêu cầu vợ chồng ông N thanh toán tiền phạt cọc và trả lại số tiền đã nhận do không thực hiện được việc chuyển nhượng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 159/2017/DS-PT
Ngày: 22 - 9 - 2017
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Trịnh Xuân Trúc
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Liên
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư phiên tòa: Dương Kim Yến Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét x
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 154/2017/TLPT-DS ngày 10 tháng 8 năm
2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 70/2017/DS-ST ngày 04/7/2017 của Tòa án
nhân dân TPCM bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố: 207/2017/QĐ-PT ngày 30 tháng 8
năm 2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn N sinh năm 1964 (vắng mặt)
Phạm Thị T sinh năm 1971(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Nguyễn Văn T, K4, P5, TPCM, tỉnh Cà Mau.
Ngưi đi din hp pháp ca ông N, bà T: Ông Trần Quốc Th, sinh
năm 1966. Địa chỉ cư trú: Nguyễn D, P5, TPCM, tỉnh Mau (Ủy quyền theo văn
bản ủy quyền ngày 13/02/2017).
- Bị đơn: Ông Trương Thanh T Sinh năm 1981 (vắng mặt)
Nguyễn Hồng N sinh năm 1983 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: K3, phường TX, TPCM, tỉnh Cà Mau.
Ngưi đi din hp pháp ca ông T, bà N: Ông Đặng Minh H, sinh
nam 1980. Địa chỉ trú: P5, TPCM, tỉnh Mau (Ủy quyền theo văn bản ủy
quyền ngày 01/8/2017)
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn N, bà Phạm Thị T là nguyên đơn.
NỘI DUNG V ÁN:
Ông Trần Quốc Th đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trì nh bà y :
Vào ngày 19/01/2017 tại Phòng công chứng số 01 giữa ông N, bà T (nguyên đơn)
với ông T, N (bị đơn) thỏa thuận phía ông N, T nhận chuyển nhượng của
2
ông T, N một phần đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại Quốc lộ 63, phường
TX, TPCM với diện tích chiều ngang 08m, dài 100m, tổng diện tích 800m
2
tại
thửa đất số 432, tờ bản đồ số 87, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền
sở hữu nhà các tài sản gắn liền với đất số BU 426392 do Ủy ban nhân dân
TPCM cấp ngày 21/7/2014 cho vchồng ông T N với giá chuyển nhượng
phần đất là 1.100.000.000 đồng.
Sau khi thỏa thuận bên chuyển nhượng ông T, bà N nhận tiền cọc số tiền
100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) hai bên có thỏa thuận, nếu trường hợp bên
nhận chuyển nhượng không nhận chuyển nhượng thì mất cọc, ngược lại nếu bên
chuyển nhượng không chuyển nhượng thì chịu phạt cọc trả cho bên nhận chuyển
nhượng số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Hai bên giao kết đến ngày
24/01/2017 hai bên tiến hành hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
công chứng, chứng thực tại phòng công chứng số 01, thủ tục chuyển nhượng do
bên chuyển nhượng thực hiện, phí thuế do bên nhận chuyển nhượng chịu toàn
bộ. giấy chứng nhận quyền sdụng đất ông T, N đã thế chấp nên vào ngày
23/01/2017 ông N, bà T giao cho ông T số tiền 404.000.000 đồng để chuộc lại giấy
để hợp đồng nên hiện tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà N
đang do ông N và bà T quản lý.
Ngày 24/01/2017 ông T đến gặp ông N nói đất lên giá nên bán phần đất
lên 1.500.000.000 đồng, mặt khác, trước đây giao kết không cụ thể phần 06 căn
phòng trọ nên ông T sẽ tháo dỡ kể cả đồng hồ điện, nước nếu ông N đồng ý mua
với giá 1.500.000.000 đồng ông T mới giao phần đất cùng 06 căn phòng trọ
đồng hồ, điện nước và ông T chịu toàn bộ phí và thuế.
Sau đó ông T đã nhận 1.000.000.000 đồng của ông N chuyển tài khoản, hai
bên thống nhất với nhau qua phòng công chứng số 01 để ký hợp đồng nhưng ông T
không đến và không ký hợp đồng.
Việc ông T không thực hiện nghĩa vụ giao kết hợp đồng đã làm ảnh hưởng
quyền lợi của ông N, bà T nên ông N, bà T yêu cầu tòa án giải quyết:
Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 19/01/2017 giữa ông N, bà T với ông T, bà N.
Buộc ông T, N trả cho ông N, T số tiền phạt cọc 300.000.000 đồng
trả lại stiền đã nhận hai lần 1.404.000.000 đồng. Tổng cộng hai khoản
1.704.000.000 đồng lãi suất phát sinh theo quy định của nhà nước tính từ ngày
24/01/2017 đến thời điểm xét xử xong.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn xác định lại yêu cầu của Nguyên
đơn như sau: Ông N, T yêu cầu số tiền 300.000.000 đồng (phạt cọc) +
404.000.000 đồng (đưa trước) + 500.000.000 đồng (đưa trước) = 1.204.000.000
đồng lãi suất theo quy định đồng thời yêu cầu hủy hợp đồng cọc ghi ngày
19/01/2017.
Bị đơn là ông Trương Thanh T trnh bày: Vào ngày 19/01/2017 ông và bà N
đồng ý bán cho ông N, T một phần đất diện ch 800m
2
ngang 08m, dài
100m tọa lạc tại Quốc lộ 63, phường TX, TPCM với giá chuyển nhượng là
1.100.000.000 đồng, ông T thống nhất nhận cọc các điều khoản của hợp
đồng đặt cọc cũng như thời gian tiến hành hợp đồng theo như đại diện nguyên đơn
trình bày, tiếp đến ngày 23/01/2017 ông nhận của ông N, T số tiền
404.000.000 đồng tại Ngân hàng Kiên Long, chi nhánh Mau để chuộc lại giấy
3
Chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện việc chuyển quyền cho ông N, T.
Sau khi thực hiện xong việc chuyển nhượng ông N sẽ thanh toán tòan bộ số tiền
còn lại 596.000.000 đồng cho ông ông trách nhiệm bàn giao đất cho ông
N, bà T theo như thỏa thuận.
Đến ngày 24/01/2017 hai bên đến phòng công chứng số 01 đthực hiện
hợp đồng chuyển nhượng nhưng không làm được do hai bên không thống nhất
được vị trí của phần đất. Cùng ngày anh ký vào biên nhận bàn giao đất tài
sản gắn liền với đất cho ông N. Việc vào biên nhận này mục đích để ông N
trả thêm cho anh 23.000.000 đồng, số tiền này giá trị của căn nhà 06 phòng
trọ.
Việc ông N cho anh nhận 1.000.000.000 đồng qua chuyển khoản
không đúng cụ thể ông N kêu anh nhận dùm ông N số tiền trên để ông N lấy
tiền trả tiền ông đã vay ngoài để trả khoản tiền đặt cọc cho anh chứ thực tế anh
không nhận stiền này. Việc ông N cho anh tăng giá bán không đúng vì
thực tế anh vẫn đồng ý bán phần đất với giá là 1.100.000.000 đồng.
Nay ông vẫn đồng ý giao đất cho ông N theo đúng như thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất trước đó hai bên đã giao kết. Việc ông N yêu cầu hủy
hợp đồng đặt cọc yêu cầu ông trả tiền phạt cọc 300.000.000 đồng, tiền đã
nhận 02 đợt 904.000.000 đồng ông không đồng ý thực tế ông không nhận số
tiền 500.000.000 đồng như ông N đã nêu ông chỉ nhận tổng cộng s tiền
504.000.000 đồng. Nay ông đồng ý trả lại cho ông N, T stiền 404.000.000
đồng, không chấp nhận trả tiền cọc 100.000.000 đồng do bên ông N vi phạm cam
kết về việc bàn giao đất.
Tại bản án n sự thẩm s70/2017/DS-ST ngày 04/7/2017 của Tòa án
nhân dân TPCM quyết định:
Áp dụng: Các Điều 328, 423, 427, 501, 502 ca B lut Dân s năm 2015;
Căn cứ: Điều 147, 232 ca B lut t tng Dân s.
Tuyên x: Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca ông Văn N
Phm Th T.
1/ - Hy hợp đồng đặt cc ngày 19/01/2017.
- Buc ông Trương Thanh T Nguyn Hng N tr li cho ông Văn
N, bà Phm Th T s tiền 504.000.000 đồng (Năm trăm lẽ bn triệu đồng chn).
- Ông N, T nghĩa vụ giao tr 01 Giy chng nhn quyn s dụng đt,
thuộc thửa đất số 432, tờ bản đồ số 87, số BU 426392 do Ủy ban nhân dân TPCM
cấp ngày 21/7/2014 cho ông T và bà N.
- Không chp nhn yêu cầu nguyên đơn số tiền 700.000.000 đồng yêu
cu tính lãi.
- Không chp nhn yêu cu pht cc ca ông T, N vi s tin
100.000.000 đồng.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí quyền
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 14/7/2017 ông Văn N, Phạm Thị T kháng cáo cho rằng án
thẩm xác định quan hệ tranh chấp là hợp đng chuyển nhưng quyn s dụng đất
là không chính xác vì bản chất phát sinh tranh chp là tranh chấp Hợp đồng đặt cc
4
nên không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của nguyên đơn không đúng nên đề nghị
xem xét chấp nhận hợp đồng phạt cọc buộc bị đơn trả 300.000.000 đồng buộc
ông T, bà N phải trả số tiền 500.000.000 đồng đã nhận lần thứ ba.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau phát biểu về việc tuân theo
pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền nghĩa vụ của các
đương sđược pháp luật quy định. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
bác kháng cáo của ông N, bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn đại diện bị đơn đều thừa nhận đối
với các khoản 1.204.000.000 đồng nguyên đơn đang khởi kiện yêu cầu bị đơn
trả thì trong đó số tiền 100.000.000 đồng tiền cọc và 404.000.000 đồng số
tiền bị đơn đã nhận nên hai bên thống nhất không tranh chấp. Nay nguyên đơn chỉ
kháng cáo yêu cầu xem xét lại mối quan hệ tranh chấp hợp đồng đặt cọc chứ
không phải hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng nên yêu cầu bị đơn phải chịu
phạt cọc thêm số tiền 200.000.000 đồng phải buộc bị đơn trả lại khoản tiền đã
nhận lần thứ ba là 500.000.000 đồng. Qua xem xét Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2] ̀ quan hệ tranh chấ p : Tại phiên tò a sơ thẩ m , phúc thẩm đại diện
nguyên đơn bị đơn đều thừa nhận tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất nên án thẩm xác định mối quan hệ không sai, do
đó kháng cáo này của nguyên đơn không sở chấp nhận. Bởi lẽ, tại đơn
khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn hai vấn đề: Thứ nhất, phải tiếp tục thực
hiện hợp đồng; thứ hai nếu không tiếp tục hợp đồng thì phải chịu phạt cọc phải
trả lại toàn bộ số tiền bđơn đã nhận cho nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn
kháng cáo xác định tranh chấp chỉ phát sinh từ hợp đồng đặt cọc là không đúng.
[3] Đối với s tiền ông T, N đã nhận: Đại diện nguyên đơn cho rằng
ngoài số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng số tiền 404.000.000 đồng thì nguyên
đơn còn giao cho bị đơn số tiền 500.000.000 đồng nên nguyên đơn đề nghị xem
xét buộc bị đơn phải trả lại. Xét thấy: Tại giai đoạn sơ thẩm phía ông T không thừa
nhận số tiền 500.000.000 đồng hiện nay người đại diện cho ông T cũng cho
rằng ông T không có nhận số tiền trên, lý do ông T ký vào các tờ biên nhận tiền
tại Ngân hàng với mục đích để cho ông N giải ngân số tiền 01 tđồng nên stiền
trên ông T không có nhận mà người nhận tiền chínhông N, được chứng minh từ
đoạn camera ghi hình ông N người nhận tiền, từ đó ông N mới rút một phần yêu
cầu cho rằng ông T nhận 500.000.000 đồng nhưng không làm biên nhận. Xét
thấy, giải này của đại diện nguyên đơn không căn cứ, bởi lẽ khi giao số
tiền lớn không làm biên nhận nhận tiền trong khi các khoản tiền giao trước đó
đều biên nhận ràng. Do đó, đại diện cho ông N, T cho rằng ông N giao
tiền ngoài đường do tin tưởng nên không ghi biên nhận là không căn cứ,
không chứng minh được việc giao số tiền trên nên án thẩm không chấp nhận
số tiền 500.000.000 đồng là có cơ sở.
5
[4] Đối với kháng cáo yêu cầu xem xét số tiền phạt cọc: Hội đồng xét x
thấy rằng án thẩm nhận định lỗi dẫn đến không giao dịch được hợp đồng do
cả hai bên nên không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của nguyên đơn chỉ buộc cả
hai trả lại cho nhau những gì đã nhận là chưa phù hợp. Bởi lẽ, tại phiên tòa đại diện
cho ông T, N cũng thừa nhận nguyên nhân không chuyển nhượng được đất
do ông T xác định vị trí chuyển nhượng đất tại lộ, còn ông N yêu cầu nhận đất
từ chỉ giới xây dựng vào trong, tđó phát sinh tranh chấp nên ông T, bà N không
thống nhất tiếp tục hợp đồng. Hơn nữa, chính đại diện bị đơn cũng thừa nhận đất
ông T, N được cấp quyền sử dụng từ chỉ giới xây dựng vào trong nên phần đất
từ mí lộ đến chỉ giới xây dựng thì ông T, N hoàn toàn không được cấp quyền sử
dụng đất. Do đó, sở xác định phần đất từ lộ đến chỉ giới xây dựng ông T,
N không thể nào làm thủ tục chuyển tên cho ông N, T được. Tại phiên tòa,
đại diện cho nguyên đơn vẫn xác định nếu bđơn thống nhất giao đất cho nguyên
đơn từ chỉ giới xây dựng trở vào thì nguyên đơn vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng nhưng đại diện cho bđơn lại không thống nhất chuyển nhượng.
Trong khi đó, tại biên nhận đặt cọc ngày 19/01/2017 ông T nêu rõ chuyển
nhượng cho ông N phần đất diện tích 800m
2
tại thửa số 432, tbản đồ số 87
nghĩa vụ bên bán ông T phải trách nhiệm làm thủ tục giấy tờ đảm bảo tính
hợp lệ cho ông N, nếu vi phạm hợp đồng thì phải bồi thường 300.000.000 đồng .
Từ đó cho thấy li dẫn đến không thực hiện được hợp đồng là hoàn toàn do bị đơn
nên án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải
chịu phạt cọc theo thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc chưa phù hợp nên cần chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn về vấn đề này.
[5] ̀ nhữ ng nhậ n đị nh trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một phần
kháng cáo của ông Văn N, Phạm Thị T, sửa bả n á n sơ thẩ m về yêu cầu phạt
cọc.
[6] Về án phí: Án phí dân sự thẩm gngạch ông T, N phải chịu
theo quy định của pháp luật trên số tiền 704.000.000 đồng. Ông N, T phải chịu
án phí có giá ngạch trên số tiền 500.000.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án thẩm đương skhông kháng cáo, Viện
kiểm sát không kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
quy định vmức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án; Áp dụng: Các Điều 328, 427, 501, 502 ca B lut Dân s năm 2015;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn N, bà Phạm Thị T.
Sửa bản án dân sự thẩm số 70/2017/DS-ST ngày 04/7/2017 của Tòa án
nhân dân TPCM.
6
Tuyên x: Chp nhn mt phn yêu cu khi kin ca ông Văn N
Phm Th T.
- Buc ông Trương Thanh T Nguyn Hng N tr li cho ông Văn
N, Phm Th T s tin 300.000.000 đồng (tiền đặt cc tin pht cc) đồng
thi tr li s tiền đã nhận 404.000.000 đng. Tng cng hai khon
704.000.000 đồng (By trăm l bn triệu đồng chn).
- Ông N, T nghĩa vụ giao tr 01 Giy chng nhn quyn s dụng đt,
thuộc thửa đất số 432, tờ bản đồ số 87, số BU 426392 do Ủy ban nhân dân TPCM
cấp ngày 21/7/2014 cho ông T và bà N.
- Không chp nhn yêu cu ca nguyên đơn đối vi s tin 500.000.000
đồng và yêu cu tính lãi.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án nếu người
phải thi hành không thanh toán xong khoản tiền nêu trên th hàng tháng còn phải
trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật
dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Án phí dân s thẩm giá ngạch: Ông T, bà N phải nộp số tiền
32.160.000 (chưa nộp), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự TPCM, tỉnh Mau.
Ông N, T phải chịu án phí số tiền 24.000.000 đồng, vào ngày 14/2/2017 ông N
dự nộp 31.560.000 đồng theo Biên lai thu số 0002571 tại Chi cục Thi hành án
dân sự TPCM, tỉnh Cà Mau được đối trừ, ông N, bà T được nhận số tiền còn lại.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông N, bà T không phải nộp. Ông N, bà T đã dự
nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003439 ngày 24/7/2017 tại Chi cục thi hành án
dân sự TPCM được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân TPCM;
- Chi cục THADS TPCM;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trịnh Xuân Trúc
Tải về
Bản án số 159/2017/DS-PT Bản án số 159/2017/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất