Bản án số 15/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TAND tỉnh Hà Nam về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 15/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TAND tỉnh Hà Nam về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hà Nam
Số hiệu: 15/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông H khởi kiện, yêu cầu Toà án buộc ông D phải trả lại thửa đất ao cho gia đình ông, nếu ông D đồng ý trả đất cho gia đình ông, thì ông trả cho ông D một khoản tiền bằng với số tiền định giá đất mà Hội đồng định giá đã định giá sau khi trừ đi các khoản chi phí tố tụng như tiền xem xét thẩm định tại chỗ, đo đất và định giá tài sản.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ NAM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 15/2024/DS - PT
Ngày:
16 - 7 - 2024
V/v: Tranh chp kiện đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quc Tởng và ông Trần Văn San.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Th Thanh Huyn - Thư ký Tòa án nhân dân tnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa:
Trần Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 05/2024/TLPT- DS ngày 08 tháng 3 năm
2024 v việc Tranh chp kiện đòi tài sản. Do Bản án dân sự sơ thẩm số
01/2024/DS-ST ngày 26 tháng 01 m 2024 của Tòa án nhân dân huyện L b
kháng cáo kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số
09/2024/QĐ-PT ngày 08/5/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trương Xuân H, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn T,
X, huyện L, tỉnh Hà Nam (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Ngô n D, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T, X, huyện
L, tỉnh Hà Nam (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- NLQ1, sinh năm 1929.
Người giám hộ cho NLQ1: Ông Trương Xuân H, sinh năm 1956 (con đẻ
của NLQ1); cùng địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Hà Nam (có mặt).
- NLQ2, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Nam (có
mặt).
- NLQ3, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Nam
(vắng mặt).
- NLQ4, sinh m 1968; địa chỉ: Thôn Đ, X, huyện L, tỉnh Hà Nam (có
mặt).
- NLQ5, sinh năm 1966 (có mt).
- NLQ6, sinh năm 1973 (có mt).
Cùng địa chỉ:
Thôn T, xã X, huyện L
, tỉnh Hà Nam.
- NLQ7, sinh năm 1970.
Người đại diện theo ủy quyền của NLQ7: Ông Trương Xuân H, sinh năm
1956; cùng địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Hà Nam (có mặt).
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Văn D.
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn; lời khai của bị đơn; bản tự
khai và lời khai của những người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu
có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:
Cụ Trương Văn Tý, sinh năm 1928 NLQ1, sinh m 1929 là vợ chồng
hợp pháp, sinh được 07 người con chung, gồm: NLQ2, ông Trương Xuân H,
NLQ3, NLQ4, NLQ5, NLQ7, NLQ6. C NLQ1 không có con nuôi,
không con riêng. Hai cụ khối tài sản chung gồm: Thửa thứ nhất diện tích
474m
2
(ONT 180m
2
, CLN 294m
2
); thửa thứ 2 diện tích 205m
2
(hiện còn 171m
2
)
đất ao; thửa thửa thứ 3 diện tích 273m
2
(ONT 180m
2
, CLN 93m
2
) thửa 4 đất
trồng lúa diện ch 695m
2
. Cụ chết năm 2003, không đlại di chúc cho ai
thừa kế tài sản.
* Nguyên đơn ông Trương Xuân H trình bày:
Khoảng năm 2006, NLQ1 cho con trai là NLQ5 thuê sử dụng thửa đất ao,
thời hạn thuê đến năm 2013 với giá 300.000 đồng/năm, tổng số tiền thuê quyền
sử dụng ao 1.500.000 đồng nhưng NLQ1 chỉ lấy 1.350.000 đồng. Việc cho
thuê đất ao giữa NLQ1 NLQ5 có ông Ngô Thị (chị gái NLQ1)
chứng kiến, Tư hiện nay đã chết. Đến năm 2008, ông thấy ông D thả ao
của NLQ1 nên ông có hỏi thì ông D nói thuê lại của NLQ5 để tăng sản nên
ông không ý kiến gì. m 2012, quan đo đạc của tỉnh vđo lại đất thì
NLQ5 ra nhận mc, sau đó ông D chở gạch vỡ ra đxuống ao, ông ra ngăn cản
thì ông D nói đã mua của NLQ5 diện tích đất ao trên, ông không đồng ý dẫn đến
hai bên mâu thuẫn chính quyn địa phương đã nhiều lần giải quyết nhưng
không thành. Nay ông xác định thửa đất ao đang tranh chấp tiêu chuẩn đất
nông nghiệp chung của bố mđông cụ NLQ1. Cụ chết không để
lại di chúc và phần đất ao này chưa phân chia cho ai, nên ông không đồng ý việc
NLQ5 tự ý bán thửa đất ao này cho ông D. Nay ông khởi kiện, yêu cầu Toà án
buộc ông D phải trả lại thửa đất ao trên cho gia đình ông, nếu ông D đồng ý trả
đất cho gia đình ông, thì ông trả cho ông D một khoản tiền bng với số tiền định
giá đất mà Hội đồng định giá đã định giá sau khi trừ đi các khoản chi phí tố tụng
như tiền xem xét thẩm định tại chỗ, đo đất và định gtài sản.
* Bị đơn ông Ngô Văn D trình bày:
Tháng 6/2006, NLQ5 bán cho ông D thửa đất ao là tiêu chuẩn đất 115
của hộ cụ Trương Văn và NLQ1 (bố mẹ đcủa NLQ5). Do NLQ1 phải đi
bệnh viện mổ mắt nên thống nhất bán diện tích đất ao y cho NLQ5 với giá
1.500.000 đồng, đến khi NLQ5 đi nước ngoài cần tiền nên mới bán cho ông với
giá 8.000.000 đồng. Việc mua bán hai bên chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo
quy định của pháp luật nhưng lập giấy viết tay với nhau đề ngày 21/6/2006,
chữ của ông, NLQ5, NLQ1 và ông Trương Văn Lân trưởng xóm. Sau
khi viết giấy chuyn nhượng quyền sử dụng đất, ông đã giao đủ cho NLQ5 số
tin 8.000.000 đồng như hai bên đã thoả thuận, ông người tiếp quản, sử dụng
diện ch đất aoy đthtừ thời điểm năm 2006. Đến năm 2013, Nhà nước
thực hiện phương án dồn điền đổi tha thì ông người ra nhận mốc giới đất ao
tiếp tục thả đến nay. Quá trình sử dụng, tại vtrí giáp ao hộ ông Pháo, ông
đã y bờ bằng gạch bi ngăn cách giữa hai ao với chiều cao khoảng 2m. Quá
trình sử dụng thửa đất ao trên để thả tkhông tranh chấp với ai. Đến
khoảng năm 2015, khi ông đổ cát lấp ao mục đích làm vườn thì ông Trương
Xuân H (là anh trai của NLQ5) ra ngăn cản nên hai bên xảy ra cãi nhau. ông
H cho rằng đây đất của NLQ1 nên ông H không cho ông lấp ao, ông H nói
việc mua bán giữa ông với NLQ5 không sự bàn bạc và nhất trí của ông H.
Khi xảy ra tranh chấp, UBND X đã hoà giải, đồng thời yêu cầu gia đình ông
dừng việc san lấp ao. Gia đình ông chấp hành không san lấp nhưng vẫn tiếp tục
thả cá. Ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại đất của ông H. Nếu ông
H có nhu cầu lấy lại đất thì ông H phải trả ông số tiền 250.000.000đồng.
* Quan điểm của NLQ1:
Tại biên bản làm việc ngày 20/3/2013 giữa UBND xã X và cụ NLQ1 trình
y, do thiếu tiền đi mổ mắt nên cụ đã bán phần đất ao trên cho con trai
NLQ5 với số tiền là 1.500.000đ, khi NLQ5 trả tiền cho NLQ1, mặt ông
Trương Xuân H Ngô Thị nhưng ông H giữ sổ đỏ nên NLQ1 không
chuyn quyền sử dụng đất ao cho NLQ5 được. Do NLQ5 canh tác không hiệu
quả muốn đi xuất khẩu lao động nên đã bán ao cho ông D. NLQ1 và cụ
mỗi người 1,4 sào đất 115, nay cchót bán cho NLQ5 đất ao; để giải quyết
cho êm thấm gia đình, NLQ1 nhận phần ao này của riêng NLQ1, còn lại đất của
cụ Tý ở ruộng, vườn thì sau này các con tự giải quyết với nhau. Hiện nay NLQ1
già, lẫn bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, ông H người giám hộ của
NLQ1.
* NLQ5 trình bày:
Do m ông NLQ1 bị đau mắt cần tiền đi viện điều trị, ông H nói bán
đất ao của bố mẹ để lấy tiền đưa NLQ1 đi điều trị. Ông H từ chối mua vì nhà có
nhiều đất nên không nhu cầu mua, đồng thời nói với anh chị em, ai mua thì
mua, nếu người nhà không mua thì mới bán cho người ngoài. có nhu cầu s
dụng nên ông mua diện tích đất ao trên với giá 1.500.000 đồng, việc mua bán có
sự đồng ý của NLQ1 và anh chị em trong gia đình. Sau khi thống nhất xong, ông
đã giao 1.100.000 đồng cho NLQ1, còn lại 400.000 đồng mấy ngày sau ông giao
nốt cho NLQ1 (việc giao tiền sự chứng kiến của ông H). Sau khi mua thửa đất
ao trên, ông thả cá được khoảng 02 m nhưng không hiệu quả. Do không
nhu cầu sử dụng nữan ông đã bán lại thửa đất ao cho ông Ngô Văn D với giá
8.000.000 đồng. Việc mua bán hai bên chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền
sử dụng đất theo quy định pháp luật nhưng có lập giấy viết tay với nhau đề ngày
21/6/2006, với nội dung như đã thỏa thuận chữ của ông, ông D, cụ
(NLQ1) ông Trương Văn Lân trưởng xóm. Ông D đã giao đ s tiền
8.000.000 đồng cho ông nđã thỏa thuận. Ông D sử dụng thửa đất ao đã mua
không tranh chấp với ai. Đến khoảng năm 2012, khi ông D cho xe chở cát
lấp ao thì ông H ra ngăn cản không cho lấp nên hai bên xảy ra tranh chấp.
Nay ông H khởi kiện đòi lại thửa đất ao của ông D, ông không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của ông H, vì thửa đất ao này tiêu chuẩn đất nông nghiệp
chung của bố mđẻ ông cụ Trương Văn NLQ1 nhưng NLQ1 đã thống
nhất với các người con trong gia đình bán lại cho ông nên ông quyền n
thửa đất ao trên cho ông D. Việc ông bán đất ao cho ông D hoàn toàn tự
nguyện, sự thống nhất của NLQ1 sự chứng kiến của ông Trương Văn
Lân là trưởng xóm.
* NLQ2, NLQ4 và NLQ6 trình bày:
NLQ1 bị lòa cả 02 mắt do đục thủy tinh thể nhưng không tiền đi chữa
mắt nên NLQ1 đã bán thửa đất ao cho NLQ5 với số tiền 1.500.000 đồng. Việc
NLQ1 bán thửa đất ao cho NLQ5 các con của NLQ1 đều đồng ý bằng miệng
nhưng không lập biên bản. NLQ5 thả cá được vài năm thì chuyển nhượng quyền
sử dụng thửa đất ao cho ông D. Nay ông H khởi kiện đòi ông D trả lại quyền s
dụng thửa đất ao thì NLQ2, NLQ4 và NLQ6 đều không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của ông H và không yêu cầu đòi lại đất.
* Người đại diện theo uỷ quyền của NLQ7 ông Trương Xuân H trình
bày: Nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* NLQ3: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và nhiều lần
triệu tập đến Tòa án làm việc nhưng NLQ3 không đến Tòa án làm việc và không
có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Xuân H.
* Lời khai của ông Trương Văn Lân là trưởng xóm. Tôi không chứng kiến
trực tiếp việc mua bán đất giữa ông D, cụ và NLQ5 nhưng do tin tưởng nên
đã ký vào giấy mua bán này.
Tại biên bản định giá ngày 06/5/2022 của Hội đồng định giá, xác định
giá tr tài sản như sau: 171m
2
đất ao x 195.000 đồng/m
2
= 33.345.000đ (Ba
mươi ba triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Ngoài ra, tại thửa đất ao trên
còn có 01 đoạn tường kè ao và 01 phần ao đã được san lấp nhưng các đương sự
không yêu cầu định giá.
Từ những nội dung trên, Bản án dân sự thẩm số 01/2024/DS-ST ngày
26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:
Căn cứ Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, khoản 2 Điều
227, các Điều 228, 266, 267, 271, 273 của Bluật tố tụng n sự 2015. Căn c
khoản 1 Điều 166 khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015. Căn cứ Luật
phí lệ phí năm 2015; Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
m 2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tơng Xuân H về việc kiện đòi
i sản quyn sử dụng đất ao. Buộc ông Ngô Văn D phải trả lại cho NLQ1
các con của NLQ1 (gồm NLQ2, ông Trương Xuân H, NLQ3, NLQ4, NLQ5,
NLQ7, NLQ6) diện tích 171m
2
đất ao tại thửa đất số 9, tờ bản đồ số 28, bản đồ
địa chính X lập năm 2012, chỉnh năm 2018, thuộc thôn T, X, huyện L,
tỉnh Nam. Ngoài ra, án sơ thm còn tuyên về chi p t tụng, án phí, quyn kháng
cáo cho các đương s.
Trong thời hạn luật định, ngày 05/02/2024 ông Ngô Văn D kháng cáo đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác đơn khởi kiện của ông Trương Xuân H.
Ngày 26/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam ban hành Quyết
định kháng nghị phúc thẩm số 648/QĐ-VKS-DS kháng nghị đối với toàn bộ Bản
án dân s thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân
huyện L, tỉnh Nam, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nam sửa bản án
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn byêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Trương Xuân H.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam giữ nguyên quyết định
kháng nghị phúc thẩm số 648/QĐ-VKS-DS ngày 26/02/2024 của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Nam. ý kiến phát biểu tại phiên tòa pc thẩm: Về tuân theo
pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết xét xử, Thm phán; Hội đồng xét
xử; Thư ký Tòa án những người tham gia tố tụng đã tuân thđúng các quy
định của pháp luật về tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 2
Điều 308, Điều 309 BLTTDS 2015, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp
nhận kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn D và kháng nghị của VKSND tỉnh, sửa
bản án sơ thẩm của Tòa án huyện L, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của ngun đơn ông Trương Xuân H. Án pdân sự thẩm: ông H phải chịu
nhưngngười cao tuổi nên xem xét miễn án phí cho ông H. Án phí dân sự phúc
thẩm: ông D không phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên a, nghe lời trình bày của đương
sự, nghe ý kiến Kiểm sát viên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Ngô Văn D và kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Nam trong thời hạn luật định đúng trình tự thủ tục
của Bộ luật tố tụng dân sự. vậy, vụ án thuộc thẩm quyn xét xử phúc thẩm
của Tòa án nhân dân tỉnh Nam theo quy định tại Điều 293 Bluật Tố tụng
dân sự.
[2] Xét kháng cáo của ông Ngô Văn D kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Hà Nam, thấy rằng:
Nguồn gc đất tranh chấp: NLQ1, cụ tổng diện tích đất 918m
2
(gồm ONT, đất CLN, nuôi trồng thủy sản NTS) đều đứng tên cụ Tý, NLQ1 trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2003, cụ Tý chết không để lại di chúc,
tài sản thừa kế chưa được phân chia, NLQ1 người quản sdụng diện tích
đất đang tranh chấp. Như vậy, tài sản của NLQ1 = ½ diện tích đất trong khối tài
sản chung là 459m
2
. Sau khi cụ chết, do NLQ1 bị lòa không tiền chữa
bệnh nên đã bán diện tích 205m
2
(hiện còn 171m
2
) đất ao cho NLQ5; khi cụ bán,
các con của cụ đều đồng ý (nay chỉ có ông H, NLQ7 không thừa nhận). Do chưa
làm được giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho NLQ5 nên khi bán cho ông D
thì NLQ1 đã cùng NLQ5 vào giấy chuyển nhượng đất cho ông D. Như vậy,
NLQ1 là chủ sử dụng đất quyền định đoạt i sản của mình nhưng không
vượt quá phần tài sản của NLQ1 có, để phục vụ chữa bệnh cho bản thân phù hợp
với quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự.
Tại phiên a, ông H cho rằng NLQ5 tự ý bán đất thừa kế; tại giấy chuyển
nhượng đất ngày 21/6/2006 tên “Tý” trong khi cụ tên NLQ1 và NLQ1
chỉ biết điểm chỉ; ông Lân không chứng kiến việc mua bán vào giấy là
không đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông D kháng nghị của Viện kiểm t. Phía c con của NLQ1 mặt tại
phiên tòa gồm NLQ5, NLQ6, NLQ2, NLQ4 đều trình bày nhà NLQ1 thường
gọi thay tên chồng nên giấy chuyển nhượng n Tý là đúng. NLQ1 bán
đất cho NLQ5 để chữa mắt thì tất cả các con đều biết và đồng ý. Nay các ông, bà
không nhất trí yêu cầu khởi kiện đòi đất của ông H. Xét thấy: Việc chuyển
nhượng đất giữa các bên được thể hiện bằng giấy chuyển nhượng đất ngày
21/6/2006 còn được khẳng định thêm mt lần nữa tại biên bản làm việc giữa
UBND X NLQ1 ngày 20/3/2013, thể hiện ý c khi còn minh mẫn
NLQ1bán đất ao cho NLQ5 NLQ5 bán cho ông D. Như vậy, đcăn cứ khẳng
định việc mua bán đất ao lập giấy chuyển nhượng thật. Tuy nhiên, giấy
chuyển nhượng giữa các n chcủa trưởng xóm ông Trương Văn n
nhưng ông n xác nhận không chứng kiến việc mua bán vi phạm vhình
thức của hợp đồng; nhưng các bên đã thực hin xong việc giao tiền, nhận đất
sử dụng đất, xây ao nhiều năm nên n c công nhận giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa NLQ1, NLQ5, ông D hiệu lực theo quy định
tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, ông H khởi kiện đòi tài sản đất ao
của cụ Tý, NLQ1 khôngcăn c.
[3] Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản
đo đạc 5.042.000 đồng, ông Trương Xuân H phải chịu theo quy định, số tiền
y ông Trương Xuân H đã nộp tạm ứng và thanh toán xong.
[4] Án phí n s sơ thẩm: Do ông H người cao tuổi, đnghị miễn nên
được miễn án phí theo quy định pháp luật.
[5] Án pdân sphúc thẩm: Do bản án thẩm bị sửa nên người kháng
cáo không phải chịu.
[6] c quyết đnh khác của bản án sơ thẩm kng kháng cáo, kháng
nghị, hiệu lc pháp lut k tngày hết thi hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 293, khoản 2 Điều 308 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự:
Chấp nhận kháng cáo của ông N Văn D kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Nam. Sửa toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 01/2024/DS-ST ngày
26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyn L, tnh Nam.
Căn cứ Điều 129, Điều 158 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 147, Điều 157,
Điều 158, Điều 165, Điều 166, khoản 2 Điều 227, các Điều 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xkhông chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Xuân H
về việc đòi tài sản là quyn sử dụng đất ao mang tên cụ Trương Văn Tý và NLQ1.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Tơng Xuân H phải chịu chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ và định giá tài sản là 5.042.000 (Năm triệu không trăm bốn mươi hai
nghìn) đồng, số tiền này ông Trương Xuân H đã nộp tạm ng thanh toán
xong.
3. Về án phí dân sự thẩm: Ông Trương Xuân H không phải nộp, trlại
ông Trương Xuân H số tiền 700.000đ tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Tán số AA/2021/0000998 ngày 30/11/2021 tại Chi cục Thi hành
án dân sự huyện L.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị,
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
-TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- TAND huyện L;
- VKSND huyện L;
- Chi cục THADS huyện ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Nguyễn Thị Mai Hương
Tải về
Bản án số 15/2024/DS-PT Bản án số 15/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2024/DS-PT Bản án số 15/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất