Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 24/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 24 M LH M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 24/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 08 - 9 - 2026
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Quang Huy
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị An và ông Nguyễn Mạnh Toàn
- Thư ký phiên toà: Bà Lao Thị Hồng Hoài - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên
tòa: Ông Mai Duy Định - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số:
16/2026/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2026 về việc tranh chấp hôn nhân
và gia đình. Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 34/2026/HNGĐ-ST
ngày 05 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 - tỉnh Thái Nguyên
bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 11/2026/QĐXX-
HNGĐPT ngày 27 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Văn M, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm H, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
2. Bị đơn: Chị Bùi Thị M1, sinh năm 1990. (Có mặt)
Địa chỉ: Xóm C, xã P, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Duy H, sinh năm
1964 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1965
Cùng địa chỉ: Xóm C, xã P, tỉnh Thái Nguyên.
(có mặt bà Song, vắng mặt ông Hạnh)
4. Người kháng cáo: Chị Bùi Thị M1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn anh Lê Văn M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị M1 tự nguyện tìm hiểu, kết hôn
với nhau từ năm 2016, đăng ký kết hôn tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân Đ, huyện
2
P, tỉnh Thái Nguyên (nay là xã P, tỉnh Thái Nguyên) vào ngày 11/4/2016 (số đăng
ký kết hôn 15). Sau khi kết hôn chị M1 sống tại nhà bố mẹ đẻ ở xã P, còn anh
công tác trong quân đội nên sinh hoạt tại đơn vị thỉnh thoảng mới về nhà, có lần
do bận công tác 06 tháng anh mới về nhà. Tình cảm vợ chồng chung sống hoà
thuận được một thời gian ngắn, đến năm 2017 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do vợ
chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau và anh
đã làm đơn xin ly hôn với chị M1. Tuy nhiên lúc đó anh chị đã có con nên hai bên
lại cố gắng bỏ qua và tiếp tục về chung sống cùng nhau, nhưng đến giữa năm 2021
mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn, nguyên nhân là do anh nghi ngờ chị M1 có
quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Năm 2022 anh tiếp tục làm đơn xin ly
hôn với chị M1, nhưng lần nào chị M1 cũng viện cớ là có thai nên anh lại phải rút
đơn ly hôn, nhưng từ đó đến nay chị chưa từng sinh đẻ thêm lần nào, bên cạnh đó
chị còn thường xuyên gọi điện đến đơn vị nói xấu anh. Nay anh nhận thấy cuộc
sống giữa anh và chị M1 không có hạnh phúc, hai người đã sống ly thân nhau từ
tháng 11 năm 2022 đến nay. Nay anh xác định vợ chồng sống ly thân nhau đã lâu,
anh không còn tình cảm với chị M1 nữa nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh
được ly hôn với chị M1. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu
tập chị M1 đến Tòa án để làm việc nhưng chị M1 đều không đến và đây là phiên
tòa lần thứ hai chị M1 tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa, anh đề nghị Tòa án tiếp tục
đưa vụ án ra xét xử.
Về con chung: Trong quá trình chung sống anh và chị M1 có 02 con chung
là Lê Hoàng Phương T, sinh ngày 24/10/2016 và Lê Minh Q, sinh ngày 03/9/2019.
Khi ly hôn anh đề nghị để chị M1 tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung đến tuổi
thưởng thành vì hiện nay các cháu đang ở cùng chị M1 có cuộc sống và học tập
ổn định, anh là bộ đội không có điều kiện chăm sóc các con và anh sẽ có trách
nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Hiện nay anh đang
công tác tại T tỉnh Thái Nguyên thu nhập hàng tháng là 19.141.200đồng trừ bảo
hiểm xã hội và tiền ăn thì tiền thực lĩnh là 15.682.2000đồng (chưa tính các khoản
đóng góp khác), bên cạnh đó bố mẹ anh đều đã chết hiện nay anh còn phải chu
cấp tiền ăn học cho một em trai đang đi học đại học. Hoàn cảnh gia đình cũng rất
khó khăn. Anh xác định sẽ cấp dưỡng nuôi con cho chị M1 3.000.000đồng/ tháng
đối với cháu T còn cháu Quân thì chị M1 phải có trách nhiệm.
Về tài sản chung, nợ chung, các khoản cho vay chung: Trong quá trình
chung sống vợ chồng anh chị không có tài sản chung, nợ chung, các khoản cho
vay chung không có. Còn việc chị M1 trình bày anh nợ riêng mẹ chị M1
15.000.000đồng, còn mẹ chị M1 trình bày anh nợ riêng mẹ chị M1 tổng số tiền
35.000.000đồng anh xác định không có.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn chị Bùi Thị M1 trình bày:
Chị và anh Lê Văn M kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tự nguyện
tại UBND xã Đ (cũ). Sau khi kết hôn chị vẫn chung sống tại gia đình chị còn anh
M là bộ đội sinh hoạt trong đơn vị và do đơn vị quản lý, những ngày nghỉ anh M
về ở cùng chị tại nhà bố mẹ chị. Cuộc sống vợ chồng hoà thuận, một thời gian sau
khi kết hôn chị phát hiện việc anh M qua lại với những cô gái đã có gia đình, chính
chồng của những cô gái đó đã phản ánh đến chị và những cuộc chơi bời của anh
3
M diễn ra triền miên. Tuy nhiên sau đó anh chị vẫn tiếp tục lựa chọn chung sống
cùng nhau. Mâu thuẫn đỉnh điểm là anh M chơi bời, nợ ngân hàng (nợ xấu) và
thậm trí họ đến gia đình bố mẹ đẻ chị và gọi chị, làm đơn đến B tỉnh Thái Nguyên
và đồng thời có những cá nhân liên hệ hỏi chị có phải là vợ anh M không, hỏi về
mối quan hệ vợ chồng hiện tại và nói những điều không tốt về anh M. Nên chị có
gặng hỏi anh, anh cãi bay rồi gửi đơn ra Tòa xin ly hôn với chị, ngày 11/12/2025
chị vẫn cùng anh về gia đình anh lo công việc cất nhà mới cho bố anh đã mất,
công việc diễn ra khoảng 3 - 4 ngày thì chị và các con đi về trước, anh M ở lại lo
xong công việc. Trong thời gian đó anh chị vẫn ăn chung, ngủ chung và lo công
việc chung. Nay anh M làm đơn xin ly hôn với chị, chị mong anh M suy nghĩ lại
đề vợ chồng về đoàn tụ cho các con có một mái ấm đầy đủ, trọn vẹn và chị cũng
muốn kiểm tra thông tin từ những người lạ liên quan đến anh M xem có chính xác
không và cũng muốn nhận được sự góp ý từ gia đình, đến xã hội và cần có thời
gian suy nghĩ thêm, chị không đồng ý ly hôn với anh M.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con
chung là Lê Hoàng Phương T, sinh ngày 24/10/2016 và Lê Minh Q, sinh ngày
03/9/2019, hiện nay các cháu đang ở cùng chị, trong trường hợp anh M cương
quyết ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục cả 02 con chung đến tuổi trưởng thành và đề nghị anh M cấp dưỡng nuôi cháu
Lê Hoàng Phương T cho đến khi cháu T trưởng thành với mức cấp dưỡng từ
4.500.000 đồng đến 6.000.000 đồng/tháng. Đối với cháu Quân chị không yêu cầu
anh M cấp dưỡng nuôi con tuy nhiên cháu thường xuyên chảy máu cam nhất là
về ban đêm, các cháu thường xuyên ốm vặt. Hiện chị là giáo viên trường Trung
học cơ sở H1 thu nhập ổn định 7.900.000đồng/ tháng.
Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay chung: Trong quá trình
chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, các khoản cho
vay chung không có.
Về nợ riêng: Chị M1 xác định anh M còn nợ riêng bố mẹ đẻ chị là ông Bùi
Duy H và bà Nguyễn Thị S số tiền 15.000.000 đồng, chị M1 đề nghị Toà án buộc
anh M phải có trách nhiệm trả khoản vay này cho ông Hạnh và bà Song.
Trong quá trình giải quyết Toà án tiến hành lập biên bản với bà Nguyễn
Thị S là mẹ đẻ của chị Bùi Thị M1, bà Song trình bày: Bà S cho biết, anh M và
chị M1 là vợ chồng, anh chị được tự nguyện tìm hiểu nhau và được tổ chức cưới
hỏi theo phong tục địa phương. Quá trình chung sống bà biết anh chị có mâu
thuẫn, cãi cọ nhau nhưng bà vẫn mong muốn anh chị suy nghĩ lại để cùng nhau
nuôi dạy con chung. Anh M và chị M1 có 02 con chung là Lê Hoàng Phương T,
sinh ngày 24/10/2016 và Lê Minh Q, sinh ngày 03/9/2019, hiện nay các cháu đang
ở cùng với chị M1 tại chỗ làm việc, nhưng ngày nghỉ các cháu và chị M1 về ở
cùng ông bà. Bà không rõ anh M và chị M1 có tài sản hay nợ chung không nhưng
hiện nay anh M còn nợ ông bà số tiền 35.000.000 đồng (một lần bà ra bưu điện
chuyển vào tài khoản cho anh M 15.000.000đồng nhưng bà không nhớ rõ ngày,
lần hai bà nhờ người chuyển cho anh M 25.000.000đồng nhưng bà không nhớ là
nhờ ai chuyển và vào thời gian nào). Khi anh M và chị M1 ly hôn bà đề nghị Toà
4
án buộc anh M phải trả bà số tiền 35.000.000 đồng. Ngoài ra, bà không có ý kiến
nào khác.
Với nội dung trên, tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
34/2026/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 -
tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 39, 227, 271, 273 của Bộ luật tố
tụng dân sự; Các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 468 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 5
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn M được ly hôn với chị Bùi Thị
M1.
2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cả hai con chung là: Lê Hoàng Phương T, sinh ngày 24/10/2016 và Lê
Minh Q, sinh ngày 03/9/2019 cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc
khi có sự thay đổi khác. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ
thăm nom con và không ai được cản trở. Cha, Mẹ, trực tiếp nuôi con và các thành
viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc anh Lê Văn M phải có trách nhiệm
cấp dưỡng nuôi con cho chị Bùi Thị M1 đối với cháu Lê Hoàng Phương T, sinh
ngày 2/10/2016 là 3.000.000đ (ba triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu T trưởng
thành (đủ 18 tuổi). Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 6 năm 2026.
Nếu anh M chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền cấp dưỡng nuôi con cho
chị M1. Chị M1 có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng anh M còn phải trả lãi
đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều
357 Bộ luật dân sự
Đối với cháu Lê Minh Q chị M1 không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con
nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung, các khoản cho vay chung: Không có, không
đặt ra việc xem xét, giải quyết.
5. Tách việc bà S và ông H yêu cầu anh M phải trả khoản tiền nợ riêng
35.000.000đồng (ba mươi lăm triệu đồng) để giải quyết bằng vụ án dân sự khác
nếu ông H, bà S có đơn yêu cầu.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/6/2026 (theo dấu công văn đến ngày 19/6/2026), chị Bùi Thị M1 có
đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 4 - tỉnh Thái
Nguyên. Về quan hệ hôn nhân chị M1 xác định mâu thuẫn của anh chị chưa đến
mức trầm trọng, đề nghị đoàn tụ với anh M. Chị M1 không đồng ý mức cấp dưỡng
3.000.000đ/tháng đối với cháu T, đề nghị anh M cấp dưỡng 6.000.000đ/tháng.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn chị Bùi Thị M1 không đồng ý ly hôn với
anh M, trong trường hợp giải quyết cho chị ly hôn anh M, đề nghị tăng mức cấp
dưỡng nuôi con đối với cháu T, ngoài ra chị bổ sung nội dung kháng cáo, yêu cầu
anh M phải trả cho ông Hạnh và bà Song là bố mẹ đẻ của chị khoản nợ riêng số
tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng). Chị M1 nộp các tài liệu là đoạn tin
nhắn anh M có mối quan hệ ngoại tình với những người phụ nữ khác và anh M có
hành vi bạo lực với chị. Nguyên đơn anh Lê Văn M giữ nguyên nội dung khởi
kiện, đề nghị xin ly hôn với chị M1 và không đồng ý tăng mức cấp dưỡng đối với
cháu T do anh đang phải trả nợ ngân hàng số tiền hơn 250 triệu đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp
luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi
thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản
1 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Không chấp nhận đơn kháng cáo
ngày 22/3/2926 của bị đơn trong vụ án chị Bùi Thị M1. Giữ nguyên bản án sơ
thẩm số: 34/2026/HNGĐ-ST ngày 05/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 -
Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của chị M1 làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án
phí phúc thẩm do đó kháng cáo của chị M1 là hợp lệ và được thụ lý và đưa ra xét
xử theo trình tự phúc thẩm.
[1.2]. Về tố tụng của cấp sơ thẩm: Chị M1 có kháng cáo việc Tòa án nhân
dân khu vực 4 – Thái Nguyên xét xử vắng mặt chị là không đúng quy định của
pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm Tòa án
cấp sơ thẩm đã tống đạt cho chị M1 quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, phiên
tòa lần đầu ngày 15/5/2026 chị M1 có đơn xin hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên
tòa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị M1 tham gia phiên tòa lần thứ hai vào ngày
05/6/2026.
Theo nội dung đơn kháng cáo, chị M1 trình bày do bận công tác tại trường
học, đồng thời mẹ chị phát sinh bệnh phải đưa đi điều trị nên chị có làm đơn xin
hoãn phiên tòa; tuy nhiên sau khi xét xử, Thẩm phán giải quyết vụ án cho biết Tòa
án chỉ nhận được đơn xin hoãn sau khi phiên tòa đã kết thúc. Xét thấy: Tài liệu
do chị M1 giao nộp kèm theo đơn kháng cáo chỉ thể hiện việc khám chữa bệnh
của mẹ chị vào ngày 05/6/2026 và vận đơn bưu chính gửi đơn xin hoãn phiên tòa,
nhưng không chứng minh được tại thời điểm khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Tòa án
đã nhận được đơn xin hoãn hoặc biết được sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách
quan để xem xét việc hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, trường hợp bị
đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án được quyền
6
xét xử vắng mặt, trừ trường hợp có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc thuộc trường
hợp sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan được Tòa án xem xét chấp nhận.
Trong vụ án này, trước thời điểm mở phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm không
nhận được đơn xin hoãn phiên tòa của chị M1; đồng thời hồ sơ vụ án cũng không
có căn cứ xác định Tòa án biết hoặc buộc phải biết về lý do vắng mặt của chị. Do
đó, việc Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy
định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của chị M1. Vì vậy, nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ
thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không có căn cứ để chấp nhận.
[2]. Về giải quyết nội dung vụ án:
[2.1]. Xét kháng cáo của chị M1 về việc không đồng ý ly hôn với anh M.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Bùi Thị M1 và anh Lê Văn M có kết hôn năm
2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P được công nhận là
hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu
thuẫn. Theo lời trình bày của chị M1 tại cấp sơ thẩm, nguyên nhân mâu thuẫn xuất
phát từ việc chị cho rằng anh M thường xuyên có quan hệ tình cảm với người phụ
nữ khác, chơi bời, nợ nần, làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình; bản thân chị
nhiều lần phải giải quyết các vấn đề phát sinh từ những khoản nợ và các mối quan
hệ của anh M. Những tình tiết này thể hiện mâu thuẫn giữa vợ chồng đã kéo dài
trong thời gian dài, hai bên không còn sự tin tưởng, tôn trọng và chia sẻ lẫn nhau.
Mặt khác, anh M xác định đã nhiều lần làm đơn xin ly hôn, đã sống ly thân với
chị M1 từ cuối năm 2022, không còn tình cảm vợ chồng và kiên quyết xin ly hôn
trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Điều này cho
thấy ý chí chấm dứt quan hệ hôn nhân của anh M là dứt khoát và kéo dài.
Chị M1 cho rằng ngay trước khi Tòa án xét xử, hai vợ chồng vẫn cùng về dự
đám cưới người thân bên gia đình anh M, vẫn gặp gỡ bình thường nên mục đích
hôn nhân chưa chấm dứt. Thấy rằng, việc hai bên cùng tham gia một số hoạt động
gia đình hoặc cùng chăm sóc con chung không đồng nghĩa với việc mâu thuẫn
hôn nhân đã được hàn gắn. Thực tế, ngay trong đơn kháng cáo, chị M1 cũng không
phủ nhận việc giữa hai bên đã phát sinh mâu thuẫn từ nhiều năm trước mà chỉ cho
rằng vẫn còn tình cảm và mong muốn đoàn tụ. Trong khi đó, anh M kiên quyết
không đồng ý đoàn tụ và xác định không còn tình cảm với chị M1. Pháp luật hôn
nhân và gia đình bảo vệ chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; việc duy trì quan hệ
hôn nhân chỉ có ý nghĩa khi cả hai bên còn có thiện chí xây dựng gia đình. Trong
trường hợp một bên kiên quyết xin ly hôn, mâu thuẫn đã kéo dài, đời sống chung
thực tế không còn, việc buộc các bên tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân không bảo
đảm mục đích của Luật Hôn nhân và gia đình.
Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa anh
M và chị M1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài;
mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và
gia đình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn
M, xử cho anh M được ly hôn với chị M1 là có căn cứ pháp luật, phù hợp với diễn
biến khách quan của vụ án.
[2.2]. Về cấp dưỡng nuôi con:
7
Chị M1 yêu cầu buộc anh M tăng mức cấp dưỡng từ 4.500.000 đồng đến
6.000.000 đồng/tháng đối với cháu Lê Hoàng Phương T. Tại phiên tòa, anh M
khai anh công tác trong quân đội nên sinh hoạt tại đơn vị, mức thu nhập hiện nay
của anh sau khi trừ bảo hiểm xã hội và tiền ăn thì tiền thực lĩnh là hơn 16.000.000
đồng/tháng và đang phải trả nợ ngân hàng.
Hội đồng xét xử xét mặt bằng sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, cháu
T được 10 tuổi và đang học trường Tiểu học nên nhu cầu thiết yếu như chi phí
cho việc nuôi dưỡng, sinh hoạt và học tập cho cháu với mức 3.000.000 đồng/tháng
là chưa bảo đảm. Mặt khác với mức lương của anh M, anh không phải nuôi con
và không phải chăm sóc bố mẹ, trong khi đó chị M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng hai con chung nên anh M phải có trách nhiệm cấp dưỡng đối với một con
chung là đúng. Cần căn cứ vào hoàn cảnh, khả năng và thu nhập thực tế hiện nay
của nguyên đơn anh M, buộc anh M cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng là phù hợp.
[2.3]. Xét kháng cáo của chị M1 yêu cầu anh M phải trả cho ông Hạnh và bà
Song là bố mẹ đẻ của chị khoản nợ riêng số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu
đồng). Hội đồng xét xử thấy rằng đây là mối quan hệ vay nợ cá nhân giữa bà Song
và anh M. Các đương sự đều xác nhận không phải nợ chung vợ chồng nên không
thuộc thẩm quyền giải quyết kháng cáo trong vụ án này. Bà Song cũng không có
yêu cầu độc lập tại cấp sơ thẩm. Đối với khoản nợ của bà Song, bà Song có quyền
khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng
nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa một phần nên chị
M1 không phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật của cấp phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 308,
Điều 309, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn chị Bùi Thị M1. Sửa một phần
bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 34/2026/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 4 - tỉnh Thái Nguyên về cấp dưỡng nuôi con.
2. Về quan hệ hôn nhân:
Cho anh Lê Văn M được ly hôn với chị Bùi Thị M1.
3. Về cấp dưỡng nuôi con:
Anh Lê Văn M phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Bùi
Thị M1 đối với cháu Lê Hoàng Phương T, sinh ngày 02/10/2016 là 5.000.000đ
(năm triệu đồng)/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
+ Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu xin thay
đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết
bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
Nếu anh M chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền cấp dưỡng nuôi con cho
chị M1. Chị M1 có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng anh M còn phải trả lãi
8
đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều
357 Bộ luật dân sự
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Bùi Thị M1 phải chịu 300.000đ (ba trăm
nghìn đồng) án phí ly hôn phúc thẩm. Xác định chị Bùi Thị M1 đã nộp số tiền
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số
0002812 ngày 25/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 4 - Thái Nguyên;
- PTHADS khu vực 4 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(đã ký)
Hà Quang Huy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT Bản án số 24/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất