Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT ngày 16/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 150/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT ngày 16/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 150/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kiều D và Lâm Dũ K Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hà.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Mai Trâm;
Ông Hoàng Bích Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Bà Mạnh Thị Tú Uyên- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26/8 và 16/9/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình
thụ lý số 67/2026/TLPT-HNGĐ ngày 11/5/2026 về việc “Tranh chấp thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 18/2026/HNGĐ-ST ngày
31/3/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng
cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4609/2026/QĐPT-HNGĐ ngày
20/7/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12671/2026/QĐPT ngày 12/8/2026
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1988 (có mặt).
Địa chỉ thường trú: 219/25/2 T, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú: A T, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Hoài N thuộc Văn phòng L1 (có mặt)
Địa chỉ: A đường B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lâm Dũ K, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ thường trú: 219/25/2 T, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú: A T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 150/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 16/9/2026
V/v tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Dương Khánh
L (có mặt) và Lâm Nhật C (có mặt ngày 26/8, vắng mặt ngày 16/9) thuộc Công
ty L2 và Cộng sự.
Địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà S C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Lâm Dũ K.
NỘI DUNG V ÁN
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kiều D và ông Lâm Dũ K có 02 (hai) con chung là trẻ Lâm
Ngọc Đ, sinh ngày 11/06/2015 (nữ) và trẻ Lâm Nhuận P, sinh ngày 15/06/2019
(nam).
Theo Quyết định công nhận Thuận tình ly hôn và sự tha thuận của các
đương sự số 406/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân
Quận 8 (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10) TP ., ông K là người trực tiếp nuôi
dưng cả 02 con chung.
Sau khi thuận tình ly hôn, hai bên vẫn ở chung nhà cùng các con, đến tháng
4/2025 bà D, ông K khai bán căn nhà 2 T, phường C, TP ., ông K dẫn hai con về
ở tại A T, phường P, TP . sống cùng vợ chồng anh ruột và mẹ ruột của ông K.
Bà D cũng sống nơi khác. Từ khi ở riêng đến nay bà D nhiều lần đến thăm con
đều bị ông K và gia đình gây khó khăn, không cho gặp hai con. Ông K gây áp
lực tinh thần nên các con chỉ dám điện thoại cho bà khi không có ông và người
lớn ở nhà. Do đó, bà D đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu được
trực tiếp nuôi dưng con chung là trẻ Lâm Ngọc Đ, sinh ngày 11/06/2015 vì trẻ
Đ là nữ và đang độ tuổi dậy thì; ông K tiếp tục nuôi trẻ Lâm Nhuận P, sinh ngày
15/06/2019. Bà đảm bảo đủ các điều kiện để chăm sóc, nuôi dưng con và thăm
nom chăm sóc con chung giữa hai bên. Bà không yêu cầu ông K cấp dưng nuôi
con.
Ông K không đồng ý giao trẻ Đ cho bà D nuôi, ông luôn tôn trọng quyền
thăm nom con của bà D. Tuy nhiên, do bà D đến thăm con thường không thông
báo trước, chỉ báo khi sắp đến nhà, lúc các con đang đi học hoặc vắng nhà nên
không gặp được. Ngoài ra, bà D nhiều lần đập cửa, la mắng, xúc phạm mẹ ông
khi đến thăm con. Hiện các con chung đang được ông K trực tiếp nuôi dưng,
đảm bảo tốt cho nhu cầu sinh hoạt, học tập và phát triển của các con. Ngoài việc
học ở trường, ông K còn tạo điều kiện cho các con tham gia hoạt động vui chơi,
học năng khiếu theo sở thích để phát triển toàn diện. Ông K đề nghị được tiếp
tục nuôi dưng cả 02 con chung, không yêu cầu bà D cấp dưng nuôi con.
Tại Bản án sơ thẩm số 18/2026/HNGĐ-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ Điều 71, 81, 82, 83,
3
84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyết định chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, cụ thể:
Giao trẻ Lâm Ngọc Đ, sinh ngày 11/6/2015 (gii tnh n) cho bà Nguyễn
Thị Kiều D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Giao trẻ Lâm Nhuận Phát sinh ngày 15/6/2019 (gii tnh nam) cho ông
Lâm Dũ K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do hai bên không có yêu cầu nên Hội đng xt x
không xem xt.”
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền thăm nom con của người
không trực tiếp nuôi con; án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định.
Ngày 07/4/2026, bị đơn ông Lâm Dũ K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
nêu trên.
Quá trình chuẩn bị phúc thẩm, ông K cung cấp Đơn trình bày nguyện vọng
của trẻ Lâm Ngọc Đ và một số tài liệu, chứng cứ thể hiện trẻ Đ đã nhập học,
hiện đang được ông chăm sóc, nuôi dưng ổn định,...
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
ông Lâm Dũ K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư Dương Khánh L - bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông K
trình bày: Căn cứ vào sao kê thu nhập của bà D thì bà D không đảm bảo điều
kiện về tài chính. Nơi bà D ở cũng cách xa trường mà trẻ Đ đang theo học,
không thuận tiện cho việc di chuyển đến trường của trẻ mỗi ngày. Căn cứ khoản
2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, ông K vẫn đảm bảo đủ điều kiện để tiếp
tục chăm sóc 02 con chung. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm
chấp nhận kháng cáo của ông K.
Bị đơn ông K trình bày bổ sung: Ông yêu cầu tiếp tục được nuôi 02 con
chung vì ông vẫn đang có đủ điều kiện để nuôi dưng các con.
Luật sư Nguyễn Hoài N - bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà D trình
bày: Trước đây, bà D tự nguyện giao 02 con chung cho ông K nuôi dưng,
nhưng quá trình thăm nuôi con rất khó khăn. Đặc biệt, do bé Đ là trẻ nữ, hiện
đang trong độ tuổi phát triển nên việc giao con cho bà D trực tiếp chăm sóc, giáo
dục sẽ tốt hơn. Bà D cũng đảm bảo các điều kiện trong việc nuôi dưng trẻ. Đề
nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn bà D trình bày bổ sung: Hiện tại trẻ Đ đang sống cùng với gia
đình ông K, nhà đông người nhưng diện tích chật hẹp và rất bất tiện trong sinh
hoạt, nhất là trẻ Đ là nữ, không đảm bảo an toàn. Bản thân ông K đi làm cả
ngày, còn bà làm nghề tóc tại nhà, nên chủ động về thời gian để chăm sóc và
4
đưa đón con. Mặt khác, trẻ Đ đang tuổi trưởng thành, bà biết con cũng muốn ở
với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc ban hành, thực hiện các thủ tục tố tụng giai đoạn phúc
thẩm được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, các bên đã được
giải thích về quyền thăm nom chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi, và
việc đảm bảo quyền lợi của con chung trong việc giữ mối liên hệ với cha, mẹ
không trực tiếp nuôi. Theo ông K, ông không ngăn cản việc thăm nuôi con của
bà D, nhưng bà D chỉ được thăm con tại nhà, vào những ngày con không đi học,
và phải có sự đồng ý của ông. Điều này cho thấy bà D thăm nuôi con gặp khó
khăn, đồng thời cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền được chăm sóc nuôi
dưng từ cả cha và mẹ của trẻ. Do vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên chấp
nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao trẻ Đ cho bà D nuôi là phù
hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa; nghe sự trình bày của các đương sự và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Xét thấy, việc kháng cáo và nộp biên lai tạm ứng án phí được đương sự
thực hiện trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự
tại phiên tòa nhận thấy:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự tha thuận của các đương
sự số 406/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 8
(nay là Tòa án nhân dân Khu vực 10, TP .), cho thấy khi thuận tình ly hôn, giữa
hai bên đã tha thuận về việc ông K nuôi cả hai con chung, do vậy việc bà D
trình bày việc bà không muốn tách các con ra và đồng ý để ông K nuôi hai con
là có sự quan tâm đến tâm tư tình cảm của các con.
Xét về điều kiện nuôi con, chăm lo cho con về vật chất, cả hai bên đều có
khả năng đảm bảo cho con được học tập và sinh hoạt ổn định. Tuy nhiên, tại
phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã nhiều lần giải thích về đảm bảo sự phát
triển về thể chất, tinh thần, về lợi ích mọi mặt cho hai trẻ, đồng thời tạo điều
kiện cho hai bên có thời gian thực hiện, bình thường việc qua lại, thăm nom
chăm sóc con chung nhưng ông K không thực hiện được. Bản thân ông K luôn
5
nhắc về nguyên nhân dẫn đến việc hai bên ly hôn và từ đó ảnh hưởng đến quyền
thăm nom chăm sóc con chung của bà D.
Nhận thấy, việc nuôi con sau ly hôn là nghĩa vụ và trách nhiệm của cha và
mẹ. Ngoài việc cha mẹ lo cho trẻ cuộc sống vật chất thì cần thương yêu, quan
tâm bù đắp về tinh thần, nhất là hiểu được tâm tư, nguyện vọng của trẻ, để trẻ có
cuộc sống vui tươi, khe mạnh, tránh mặc cảm với bạn bè, tránh bị ảnh hưởng
về tinh thần, học tập, đảm bảo cho trẻ được phát triển mọi mặt, toàn diện.
Việc nuôi con, thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung cần được các
bên bàn bạc, thống nhất, linh hoạt theo điều kiện sắp xếp của hai bên, để hài hòa
các mối quan hệ cho trẻ, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của trẻ, phù hợp với quy
định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tại đơn trình bày nguyện vọng ngày 25/11/2025 trẻ Đ thể hiện nguyện
vọng ở với mẹ, đến ngày 27/11/2025 trẻ thể hiện nguyện vọng một là muốn ở
với ba và mẹ, nguyện vọng cuối cùng là ở cùng ba. Điều này cho thấy tình cảm
của trẻ đều muốn ở cùng cha, mẹ. Đây là nguyện vọng chính đáng của trẻ, cần
được tất cả các bên tôn trọng và được Tòa án ghi nhận. Việc ông K cho trẻ Đ
viết lại lời trình bày nguyện vọng mong muốn được ở với ba, quay phim lại để
thể hiện trẻ không bị ép buộc là không phù hợp với quy định pháp luật về lấy ý
kiến của trẻ, ảnh hưởng lớn đến tâm lý của trẻ.
Thực tế ông K đang là người trực tiếp nuôi dưng trẻ nhưng chưa từng cho
các con chung đến sống cùng mẹ kể từ năm 2024 cho đến nay, mặc dù bà D có
yêu cầu cho con đến ở cùng bà vào thứ bảy, chủ nhật; ông K cũng không chủ
động liên lạc, thông báo, trao đổi, bàn bạc với bà D về tình hình sức khe, sinh
hoạt, lịch trình và kết quả học tập của con…, điều này cho thấy ông K chưa thực
hiện đúng về quyền và nghĩa vụ ngang nhau của cha mẹ đối với con chưa thành
niên.
Từ những lập luận nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc cấp sơ thẩm giao
trẻ Đ cho bà D được trực tiếp nuôi là có cơ sở, ông K kháng cáo nhưng không
chứng minh được việc đảm bảo về quyền được thăm nom, chăm sóc con chung
của bà D. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông K.
Về cấp dưng: Bà D không yêu cầu ông K cấp dưng cho con nên Hội
đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là
phù hợp nên được chấp nhận.
[3] Về án phí:
6
Do kháng cáo không được chấp nhận, người kháng cáo là ông Lâm Dũ K
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2025;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Dũ K.
2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 18/2026/HNGĐ-ST ngày 31/3/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh về yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cụ thể:
Giao trẻ Lâm Ngọc Đ, sinh ngày 11/6/2015 (giới tính nữ) cho bà Nguyễn
Thị Kiều D trực tiếp chăm sóc nuôi dưng.
Giao trẻ Lâm Nhuận Phát sinh ngày 15/6/2019 (giới tính nam) cho ông
Lâm Dũ K trực tiếp chăm sóc nuôi dưng.
Về cấp dưng nuôi con: Hai bên không phải cấp dưng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà
không ai được cản trở.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để
cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưng, giáo
dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền
thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của các bên đương sự theo quy định của pháp
luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức
cấp dưng nuôi con.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Dũ K phải chịu 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 22756
ngày 10/4/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông K đã nộp
đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền tha thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
7
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- TAND Khu vực 3;
- VKSND TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án (Xuân/15).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thu Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT Bản án số 150/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất