Bản án số 1463/2022/HC-ST ngày 31/08/2022 của TAND TP. Hồ Chí Minh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 1463/2022/HC-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 1463/2022/HC-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 1463/2022/HC-ST ngày 31/08/2022 của TAND TP. Hồ Chí Minh |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 1463/2022/HC-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/08/2022 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy Quyết định số 540/QĐ-UBND ngày 17/11/2020 của Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số:1463/2022/HC-ST
Ngày: 31/8/2022
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
2. Bà Trần Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Trân- Kiểm sát viên
Vào các ngày 09 tháng 8 và 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý
số 231/TLST-HC ngày 08 tháng 12 năm 2021 về “Khiếu kiện quyết định hành
chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3807/2002/QĐXXST-HC ngày
13 tháng 7 năm 2022 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 10540/2002/QĐST-
HC ngày 09 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thành T (có mặt)
Địa chỉ: 46 đường 100A tổ 7, khu phố 6, phường T, Thành phố T, Thành
phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng Q–sinh năm 1975 (vắng
mặt), Theo hợp đồng ủy quyền số công chứng 001338 ngày 22/3/2022 tại Văn
phòng công chứng Chu Kim T.
Địa chỉ: C401 Chung cư C3, tổ 14, khu phố 6, phường H, Thành phố T,
Thành phố H.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Quận X (nay là Ủy ban nhân dân Thành
phố T), Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 168 Trương Văn B, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng T–chức vụ: chủ tịch (có đơn xin
vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: (Theo văn bản số 1014/UBND-
BBT ngày 28/02/2022)
-Ông Hồ Thanh P, Phó Trưởng Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Thành
phố T (có mặt);
-Ông Trương Văn Th, Phó Trưởng phòng tiếp dân TTVĐ & GQKNTC
thuộc Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Thành phố T (có mặt);
-Ông Huỳnh T, nhân viên Ban bồi thường giải phóng mặt bằng Thành phố
T (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 164 Trương Văn Bang, phường T, Thành phố T, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Vũ Thị Th (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 46 đường 100A tổ 7, khu phố 6, phường T, Thành phố T, Thành
phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Thành T, bản tự khai
và quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của người khởi
kiện là ông Nguyễn Hồng Q trình bày ý kiến:
Theo các Quyết định số 2666/QĐ-UB ngày 27/6/2002, Quyết định số
3022/QĐ-UB ngày 23/7/2002, Quyết định số 121/2002/QĐ-UB ngày
01/11/2002, Quyết định số 2193/QĐ-UB ngày 19/5/2004 của Ủy ban nhân dân
(sau đây viết tắt UBND) Thành phố H về thu hồi, giao đất xây dựng Khu công
nghệ cao Thành phố tại Quận X. Quyết định số 668/QĐ-UB ngày 07/10/2004
của UBND Quận X nay là UBND Thành phố T về việc công bố danh sách bổ
sung các hộ dân bị thiệt hại về đất đai, cây trồng, vật nuôi và tài sản trong dự án
đầu tư xây dựng KCNC tại phường T, T, Quận X thì gia đình ông T bị thu hồi
500m
2
đất tại số 1/208B, tổ 8, khu phố 3, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9.
Trong tổng số diện tích 500m
2
đất của gia đình ông T bị thu hồi thì có 125,46m
2
là đất ở và 374,54m
2
là đất trồng cây lâu năm. Theo Quyết định số 557/QĐ-
UBND-BBT ngày 14/4/2011 của UBND Quận X Thành phố H và Bảng tính giá
trị bồi thường, hỗ trợ thiệt hại dự án đầu tư xây dựng Khu công nghệ cao thành
phố ngày 31/3/2011 của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thuộc UBND
Quận 9 thì gia đình ông Trung được bồi thường, hỗ trợ là 393.765.000 đồng (Ba
trăm chín mươi ba triệu bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng).
Ngày 17/11/2020, UBND Quận X ban hành Quyết định số 540/QĐ-
UBND và Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bổ sung của Ban
bồi thường giải phóng mặt bằng thuộc UBND Quận X ngày 12/11/2020 đối với
gia đình ông T với số tiền là 253.351.285 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu ba
3
trăm năm mươi mốt ngàn hai trăm tám mươi lăm đồng), trong đó: Tổng giá trị
bồi thường, hỗ trợ tái định cư bổ sung (giá trị chênh lệch) tại thời điểm tháng 4
năm 2007 là 63.858.000 đồng; Tổng số tiền hỗ trợ lãi suất ngân hàng và tiền
phải thanh toán thêm do chậm chi trả là 189.493.285 đồng. Tuy nhiên theo
Quyết định số 540/QĐ-UBND thì phần diện tích đất của gia đình ông Trung là
53,3 m
2
nhưng trong đó chỉ có 13,37m
2
là đất ở, còn lại 39,93 m
2
là đất trồng
cây lâu năm, mà đáng lẽ ra toàn bộ 53,3 m
2
phải được tính là đất ở. Giá đất ở
được xác định đơn giá là 6.700.000 đồng/m
2
trong khi đất trồng cây lâu năm chỉ
có đơn giá là 1.100.000 đồng/m
2
. Việc xác định sai loại diện tích đất như đã nêu
trên gây thiệt hại cho gia đình ông Trung. Vì vậy ông Trung yêu cầu Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy Quyết định số 540/QĐ-UBND
ngày 17/11/2020 của Ủy ban nhân dân Thành phố Thủ Đức.
Người bị kiện UBND Thành phố T có đơn xin vắng mặt và có văn bản số
2068/UBND-BBT ngày 07/4/2022 trình bày:
UBND thành phố T nhận được Thông báo số 231/TB-TLVA ngày 08
tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc thụ lý
vụ án “Khiếu kiện quyết định hành chính” do ông Nguyễn Thành T là người
khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố H hủy Quyết định số 540/QĐ-
UBND ngày 17/11/2020 của UBND Quận X (nay là UBND thành phố T).
Sau khi kiểm tra hồ sơ, UBND thành phố Thủ Đức có ý kiến như sau:
1. Hồ sơ bồi thường, hỗ trợ:
- Nguồn gốc nhà, đất:
Phần nhà, đất diện tích 500m
2
tọa lạc tại vị trí thuộc một phần thửa 411 tờ
bản đồ số 10 (theo tài liệu 02/CT-UB) tại phường Tăng Nhơn Phú B đã được
UBND Quận 9 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00241 QSDĐ/TNPB
ngày 09/12/1998 cho hộ bà Nguyễn Thị V nằm trong phạm vi giải tỏa dự án đầu
tư xây dựng KCNC tại Quận X, thành phố H.
Trong đó, phần đất thuộc một phần thửa 411 tờ bản đồ số 10 (theo tài liệu
02/CT-UB) tại phường T đã được Tổ công tác đã tiến hành kiểm kê nhà, đất và
tài sản gắn liền trên đất ngày 05 tháng 9 năm 2009. Ngày 13 tháng 11 năm 2009,
Hội đồng xét nguồn gốc đất phường T đã họp và trích kết luận: “Thống nhất
nguồn gốc đất đã được Ủy ban nhân dân Quận X cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
số 00241 QSDĐ/TNPB ngày 09/12/1998 cho hộ bà Nguyễn Thị V. Trên thực tế
vào tháng 5/1996 bà V đã chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Nh, đến tháng
12/1996 bà N cho lại em trai là ông Nguyễn Thành T 500m
2
sử dụng. Hiện
không có tranh chấp.
- Thời điểm xây dựng và cải tạo đất năm 1997.
- Không đăng ký kê khai nhà ở, đất ở năm 1999.
- Giải quyết đất ở và đất trồng cây lâu năm.
- Cây trồng và vật kiến trúc như biên bản kiểm kê trước ngày 22/4/2002.
4
- Hộ không có nhân khẩu lao động nông nghiệp trên phần đất bị giải tỏa”.
Ngày 14/4/2011, Chủ tịch UBND Quận X ban hành Quyết định số
557/QĐ-UBND-BBT về việc công bố giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
cho ông Nguyễn Thành T kèm Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ ngày 31
tháng 3 năm 2011. Trong đó, bồi thường 125,46m
2
đất ở mặt tiền đường B với
đơn giá 780.000đ/m
2
(-100% TSDĐ); bồi thường 374,54m
2
đất trồng cây lâu
năm mặt tiền đường B với đơn giá 200.000đ/m
2
x hệ số 1,5; bồi thường vật kiến
trúc khác, cây trồng, các khoản hỗ trợ khác và hỗ trợ 374,54m
2
đất nông nghiệp
với đơn giá 160.000đ/m
2
. Ông Nguyễn Thành T đủ điều kiện mua 01 căn hộ
chung cư theo giá tái định cư. Ngày 04/5/2011, ông Nguyễn Thành T đã nhận
tiền bồi thường, hỗ trợ.
Ngày 12/8/2011, UBND Quận X ban hành Quyết định số 1393/QĐ-
UBND-BBT về việc công bố giá trị hỗ trợ đất ở cho ông Nguyễn Thành T kèm
Bảng tính bổ sung giá trị hỗ trợ đất ở ngày 25/7/2011. Trong đó, hỗ trợ giá trị
đất ở diện tích 50,66m
2
với đơn giá 3.600.000đ/m
2
.
Ngày 08/9/2011, ông Nguyễn Thành T đã tiến hành bàn giao mặt bằng
cho Chủ đầu tư. Ngày 30/9/2011, ông Nguyễn Thành T đã nhận tiền hỗ trợ đất
ở.
Ngày 04/5/2013, UBND Quận X ban hành Quyết định số 435/QĐ-
UBND-BBT về việc công bố giá trị hỗ trợ đất ở bổ sung cho ông Nguyễn Thành
T kèm Bảng tính bổ sung giá trị hỗ trợ đất ở ngày 12/4/2013. Trong đó, bổ sung
giá trị đất ở diện tích 0,9m
2
với đơn giá 3.600.000đ/m
2
. Ngày 22/5/2013, ông
Nguyễn Thành T đã nhận tiền hỗ trợ bổ sung đất ở.
Ngày 05/8/2016, UBND Quận X ban hành Quyết định số 874/QĐ-
UBND-BBT về việc công bố giá trị khen thưởng cho ông Nguyễn Thành T kèm
Bảng tính giá trị khen thưởng ngày 04 tháng 8 năm 2016. Ngày 29/8/2016, ông
Nguyễn Thành T đã nhận tiền khen thưởng.
Ngày 17/11/2020, UBND Quận X ban hành Quyết định số 540/QĐ-
UBND-BBT về việc công bố giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ
ông Nguyễn Thành T bị thu hồi đất thuộc phần đất diện tích 40,997
ha
nằm trong
ranh quy hoạch dự án KCNC kèm Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư ngày 12/11/2020. Ngày 25/12/2020, ông Nguyễn Thành T đã nhận tiền.
* Về chính sách tái định cư:
Ngày 22/4/2011, ông Nguyễn Thành T đã có buổi tiếp xúc và đồng ý nhận
mua căn hộ chung cư theo giá tái định cư. Ngày 03/6/2011, ông Nguyễn Thành
T đã bốc thăm vào căn hộ chung cư số B704 (tầng 07), chung cư C3, phường H,
Quận X (nay là thành phố T).
Ngày 10/6/2011, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng Quận X ban hành
Giấy xác nhận số 78/GXN-BBT KCNC vào Chung cư C3, phường H, Quận X
cho ông Nguyễn Thành T.
5
Ngày 02/11/2011, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng Quận X ban
hành Thông báo số 121/TB-BBT về việc ký hợp đồng mua căn hộ chung cư đối
với ông Nguyễn Thành T.
Ngày 09/11/2011, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng Quận X (nay là
thành phố T) đã tiến hành ký Hợp đồng mua căn hộ chung cư giá tái định cư
(Hợp đồng số 133/2011/HĐ) với ông Nguyễn Thành T.
Ngày 11/7/2013, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng Quận X (nay là
thành phố T) đã ký Phụ lục Hợp đồng mua căn hộ chung cư C3&C4 (Phụ lục
Hợp đồng số 98/PLHĐ-BBT) với ông Nguyễn Thành T.
Ngày 29/7/2013, UBND Quận X cấp Giấy Chứng nhận QSDĐ, QSHNƠ
và TSGLVĐ số B0 330259 (Số vào sổ cấp GCN: CH01838) cho hộ ông Nguyễn
Thành T.
Ngày 05/9/2013, Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Công ích Quận
ban hành Thông báo số 736/TB-CTY về việc nhận Giấy chứng nhận QSDĐ,
QSHNỞ và tài sản gắn liền với đất căn hộ B704 lô C3 chung cư C3, C4 phường
H, Quận X.
Ngày 09/10/2013, Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng Quận X (nay là
thành phố T) đã tiến hành ký Biên bản thanh lý Hợp đồng mua căn hộ chung cư
(Biên bản thanh lý Hợp đồng số 144/BBTL-BBT) với ông Nguyễn Thành T.
Không đồng ý với Quyết định số 540/QĐ-UBND-BBT ngày 17/11/2020
của UBND Quận X, ông Nguyễn Thành T đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân
dân Thành phố H.
2. Ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố T:
* Về căn cứ pháp lý:
- Quyết định số 2666/QĐ-UB ngày 27/6/2002 của Chủ tịch UBND Thành
phố H về việc thu hồi và giao đất xây dựng KCNC thành phố;
- Quyết định số 2193/QĐ-UB ngày 19/5/2004 của UBND Thành phố H
về việc thu hồi, giao đất bổ sung và xác định tổ diện tích đất giao cho Ban quản
lý KCNC thành phố. Theo đó, vị trí, ranh giới được xác định tại Bản đồ hiện
trạng, vị trí được Sở Tài nguyên và Môi trường duyệt số 18426/GĐ-TNMT ngày
22/4/2002.
- Quyết định số 4877/QĐ-UB ngày 01/11/2006 của Chủ tịch UBND
Thành phố H về điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 2666/QĐ-UB ngày
27/6/2002 của Chủ tịch UBND Thành phố về thu hồi và giao đất xây dựng
KCNC thành phố.
* Về áp dụng chính sách:
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về đền bù
thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các văn bản liên quan trong từng thời
điểm, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành các quyết định thực hiện chính
6
sách, chế độ về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và trong quá trình thực hiện luôn chú
trọng xem xét yêu cầu thực tiễn để điều chỉnh, bổ sung, hỗ trợ nhằm giúp người
dân nằm trong phạm vi giải tỏa di dời ổn định đời sống, đẩy nhanh tiến độ thu
hồi mặt bằng. Cụ thể bằng các quyết định:
- Quyết định số 121/2002/QĐ-UB ngày 01/11/2002 của UBND thành phố
H về việc ban hành quy định về đền bù, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư trong khu
quy hoạch xây dựng KCNC thành phố tại Quận X, thành phố H.
- Công văn số 3194/UBND-ĐTMT ngày 29/5/2007 của UBND Thành
phố H về giải quyết kiến nghị của UBND Quận X trong khu quy hoạch xây
dựng KCNC thành phố tại Quận X.
- Công văn số 2380/QĐ-UB ngày 16/4/2008 của UBND Thành phố H về
giải quyết vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái
định cư trong khu quy hoạch xây dựng KCNC thành phố tại Quận X.
- Công văn số 6500/UBND-ĐTMT ngày 19/12/2011 của UBND Thành
phố H về giải quyết kiến nghị của UBND Quận X trong dự án đầu tư xây dựng
KCNC thành phố tại Quận X.
- Thông báo số 370/TB-VPCP ngày 17 tháng 8 năm 2017 của Văn phòng
Chính phủ ban hành về ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Trương
Hòa B về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến dự án KCNC Thành phố H.
- Quyết định số 4624/QĐ-UBND ngày 18/10/2018 của UBND Thành phố
H về phê duyệt đơn giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất đối với phần diện tích 40,997
ha
nằm trong ranh KCNC Quận X.
- Quyết định số 563/QĐ-UBND ngày 18/02/2020 của UBND Thành phố
H về phê duyệt chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bổ sung đối với hộ gia
đình, cá nhân, tổ chức bị thu hồi đất thuộc phần diện tích 40,997
ha
nằm trong
ranh KCNC theo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa B tại
Thông báo số 370/TB-VPCP ngày 17/8/2017 của Văn phòng Chính phủ.
* Về nội dung yêu cầu của người khởi kiện:
Ông Nguyễn Thành T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố H
hủy Quyết định số 540/QĐ-UBND ngày 17/11/2020 của UBND Quận X (nay là
UBND thành phố T).
Ngày 28 tháng 8 năm 2020, Tổ Công tác thành lập theo Quyết định số
302/QĐUBND của UBND Quận X tiến hành lập Biên bản về việc xác định vị
trí, diện tích, loại đất và tài sản trên đất của hộ gia đình, cá nhân và tổ chức bị
thu hồi đất thuộc phần diện tích 40,997
ha
nằm trong ranh KCNC tại Quận X,
Thành phố H với ông Nguyễn Thành T.
Trên cơ sở bản đồ vị trí số 22162/TTĐĐBĐ-CNTĐ do Trung tâm Đo đạc
bản đồ lập trên nền tài liệu Bản đồ lập theo Chỉ thị 02/CT-UB của UBND thành
phố đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định, phê duyệt ngày
04/12/2018, Tổ Công tác và ông Nguyễn Thành T đã xác định cụ thể như sau
(có sự xác nhận và đồng ý của ông Nguyễn Thành T):
7
Phần diện tích bị ảnh hưởng trong khu vực 40,997
ha
đối với hộ ông
Nguyễn Thành T có diện tích: 53,3m
2
thuộc một phần thửa 411, tờ bản đồ số 10
(theo Tài liệu 02/CT-UB) tại phường T, Quận X (nay là thành phố T), gồm:
- Đất ở mặt tiền đường Bưng Ông Thoàn: 13,37m
2
.
- Đất nông nghiệp trồng cây lâu năm mặt tiền đường B: 39,93m
2
.
- Bồi thường vật kiến trúc khác và cây trồng trên phần diện tích 53,3m
2
khu vực 40,997
ha
nằm trong ranh Khu Công nghệ cao.
+ Cơ sở để tính bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và ban hành Quyết định số
540/QĐ-UBND ngày 17/11/2020 của UBND Quận X:
- Về đơn giá bồi thường đất ở mặt tiền đường B: căn cứ tại mục I, khoản
1, Điều 1 Quyết định số 4624/QĐ-UBND ngày 18/10/2018 của UBND Thành
phố H. (STT: 16) với đơn giá 6.700.000đ/m
2
.
- Về đơn giá bồi thường đất nông nghiệp trồng cây lâu năm mặt tiền
đường B: căn cứ tại mục II, khoản 1, Điều 1 Quyết định số 4624/QĐ-UBND
ngày 18/10/2018 của UBND Thành phố H (STT: 01) với đơn giá
1.100.000đ/m
2
.
- Về đơn giá bán căn hộ chung cư phục vụ tái định cư của tầng 7, 8 của
Chung cư C3, C4 đường M phường H: căn cứ khoản 4, mục I, Điều 1 Quyết
định số 563/QĐ-UBND ngày 18/02/2020 của UBND Thành phố H với đơn giá
4.930.000đ/m
2
(đã có 10%VAT và 5% phí quản lý duy tu - thời điểm tháng 4
năm 2007).
- Về hỗ trợ lãi suất ngân hàng và chậm chi trả: căn cứ mục V, Điều 1
Quyết định số 563/QĐ-UBND ngày 18/02/2020 của UBND Thành phố H.
Từ những cơ sở trên, UBND Quận X (nay là UBND thành phố T) ban
hành Quyết định số 540/QĐ-UBND ngày 17/11/2020 đối với hộ ông Nguyễn
Thành T là đúng theo trình tự, thủ tục, chính sách và phù hợp theo quy định của
pháp luật. UBND thành phố T vẫn giữ nguyên Quyết định nêu trên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện ông Hồ Thanh P
và ông Trương Văn Th trình bày: giữ nguyên ý kiến theo văn bản số
2068/UBND-BBT ngày 07/4/2022 của UBND Thành phố T. Căn cứ vào những
tài liệu hiện có trong hồ sơ bồi thường, quan điểm của UBND Quận X nay là
UBND Thành phố T giữ nguyên Quyết định 540/QĐ-UBND ngày 17/11/2020.
Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố H bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn
Thành T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Th có bản tự khai ngày
08/3/2022: đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T và không có ý kiến gì khác,
xin vắng mặt trong tất cả phiên làm việc tại tòa kể cả phiên tòa xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về hình thức: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng
xét xử tiến hành thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, người tham
8
gia tố tụng đúng thành phần và chấp hành quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
về việc hủy Quyết định 540/QĐ-UBND ngày 17/11/2020 của UBND Quận X
(nay là UBND Thành phố T).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Xét đơn của ông Nguyễn Thành T khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định
hành chính của UBND Quận X (nay là UBND Thành phố T) thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và còn thời hiệu theo
khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố
tụng hành chính năm 2015, nên chấp nhận.
[2] Xét đơn xin vắng mặt của người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho người bị kiện ông Huỳnh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Vũ Thị Th phù hợp Điều 157, khoản 1 Điều 158 của Luật Tố tụng hành
chính năm 2015, nên chấp nhận. Người đại diện theo ủy quyền của người khởi
kiện ông Nguyễn Hồng Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng người khởi kiện ông
Nguyễn Thành T có mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo luật
định.
[3] Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 540/QĐ-UBND ngày 17/11/2020
của UBND Quận X, Thành phố H (nay là UBND Thành phố T, Thành phố H)
của người khởi kiện,
Người khởi kiện cho rằng nhà đất đủ điều kiện bồi thường theo giá nhà ở,
đất ở theo Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2008 nhưng UBND Quận X
(nay là UBND Thành phố T) không xem xét bồi thường theo giá đất ở làm thiệt
hại đến quyền lợi của người khởi kiện.
Hội đồng xét xử xét thấy trước khi ban hành Quyết định số 540/QĐ-UBND
ngày 17/11/2020 của UBND Quận X (nay là UBND Thành phố T, Thành phố
H) thì người bị kiện đã có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, tiến hành
kiểm kê nhà đất và tài sản có trên đất, thu thập tài liệu liên quan đến nguồn gốc,
quá trình sử dụng, đăng ký kê khai của người có đất bị thu hồi để áp giá bồi
thường là đúng quy định.
Theo Quyết định số 557/QĐ-UBND-BBT ngày 14/4/2011 của UBND
Quận X (nay là UBND Thành phố T) và Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ
thiệt hại dự án đầu tư xây dựng KCNC thành phố ngày 31/3/2011 của Ban bồi
thường giải phóng mặt bằng thuộc UBND Quận X thì gia đình ông T bị thu hồi
500m
2
đất tại số 1/208B, tổ 8, khu phố 3, phường T, Quận X. Trong tổng số
diện tích 500m
2
đất của gia đình ông T bị thu hồi thì có 125,46m
2
là đất ở và
374,54m
2
là đất trồng cây lâu năm, gia đình ông T được bồi thường, hỗ trợ là
393.765.000 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu bảy trăm sáu mươi lăm ngàn
đồng). Đối với phần bồi thường và diện tich bị thu hồi này ông không có yêu
cầu khởi kiện và ý kiến gì, ông cũng đã nhận tiền đền bù và nhận 01 căn hộ
chung cư.
9
Ngày 17/11/2020, UBND Quận X ban hành Quyết định số 540/QĐ-
UBND và Bảng tính giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bổ sung của Ban
bồi thường giải phóng mặt bằng thuộc UBND Quận X ngày 12/11/2020 thì phần
diện tích đất của gia đình ông T là 53,3 m
2
trong đó có 13,37m
2
là đất ở, còn lại
39,93 m
2
là đất trồng cây lâu năm, bồi thường đối với gia đình ông T với số tiền
là 253.351.285 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu ba trăm năm mươi mốt ngàn
hai trăm tám mươi lăm đồng), trong đó: Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ tái định
cư bổ sung (giá trị chênh lệch) tại thời điểm tháng 4 năm 2007 là 63.858.000
đồng; Tổng số tiền hỗ trợ lãi suất ngân hàng và tiền phải thanh toán thêm do
chậm chi trả là 189.493.285 đồng.
Về nguồn gốc đất: Căn cứ vào Biên bản trích kết luận cuộc họp Hội đồng
xét nguồn gốc đất ngày 13/11/2009 của UBND phường T, Quận X (nay là
Thành phố T) ngày 13/11/2009 thì nhà đất ông T có nguồn gốc như sau: Diện
tích 500m
2
thuộc một phần Thửa 411, Tờ bản đồ số 10 (TL02/CT-UB P. Tăng
Nhơn Phú B) có nguồn gốc được UBND Quận X cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 00214QSDĐ/TNPB ngày 09/12/1998 cho hộ bà Nguyễn Thị V.
Thực tế, tháng 5/1996, bà Vốn chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị N, đến
tháng 12/1996 bà N cho lại em trai là ông Nguyễn Mạnh H. Năm 1997, ông
Hùng cho lại em trai là ông Nguyễn Thành T xây dựng nhà sử dụng cho đến
nay. Thời điểm xây dựng và cải tạo đất năm 1997. Căn cứ vào Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số vào sổ 00214QSDĐ/TNPB cấp cho bà Nguyễn Thị V thì
mục đích sử dụng của toàn bộ khu đất là đất lúa (đất nông nghiệp). Trong quá
trình sử dụng đất, ông Trung tự xây nhà để ở mà chưa qua thủ tục chuyển mục
đích sử dụng đất.
Theo Biên bản kiểm kê thiệt hại tài sản trong Dự án đầu tư xây dựng khu
công nghệ cao số 555/BBKK ngày 05/9/2009 của UBND phường T đối với khu
đất của ông Trung thể hiện hiện trạng: Có nguồn gốc như đất ở, hiện trạng trồng
cây ăn trái.
Theo trình bày của UBND Thành phố T, vào năm 2011, khi bồi thường
cho hộ ông T thì trong diện tích 500m
2
xây nhà là 125,46m
2
nên đã bồi thường
theo giá đất ở phần diện tích này, còn lại 374,54m
2
bồi thường theo giá đất trồng
cây lâu năm theo hiện trạng ông T đang sử dụng, việc áp dụng này của UBND
Thành phố T là phù hợp với hướng dẫn tại Văn bản số 3867/UBND-ĐTMT
ngày 25/6/2007 của UBND Thành phố H, ông T đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ
vào năm 2011 theo cách tính này mà không khiếu nại gì. Ông đã được mua căn
hộ tái định cư và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013.
Tại phiên tòa ông T cũng thừa nhận phần đất 53,3 m
2
này ông T chưa có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông chỉ trải một lớp ximăng làm lối vào
nhà, trên phần đất 53,3 m
2
này không có công trình xây dựng nào, hiện ông đã
bàn giao mặt bằng. Dựa trên biên bản lập ngày 28/8/2020 về xác định vị trí, diện
tích và tài sản do tổ công tác theo Quyết định 302/QĐ-UBND đã xác định phần
diện tích đất của ông Nguyễn Thành T bị ảnh hưởng trong khu vực 40,997 ha
(thuộc đường B) 53,3 m
2
thuộc một phần thửa 411 tờ bản đồ số 10 thì có
13,37m
2
là đất ở, còn lại 39,93 m
2
là đất trồng cây lâu năm. Căn cứ vào hướng
dẫn tại Văn bản số 524/UBND-ĐT ngày 21/5/2020 của UBND Thành phố H về
giải quyết vướng mắc chính sách bồi thường, hỗ trợ bổ sung đối với phần diện
10
tích 40,997ha và chính sách hỗ trợ bổ sung đối với 49 trường hợp có tính chất
đặc thù tại Dự án KCNC Quận X như sau:“Trên cơ sở tỷ lệ của diện tích đất ở
trước đây đã tính bồi thường, hỗ trợ cho hộ dân và tổng diện tích đất bị thu hồi
của hộ dân trong Dự án KCNC, sẽ xác định diện tích đất ở và diện tích đất nông
nghiệp bị thu hồi của hộ dân nằm trong phần diện tích 40,997ha theo tỷ lệ tương
ứng”. Căn cứ vào hướng dẫn trên, cách tính đất ở để bồi thường: 53,3 m
2
x
125,46 m
2
(là đất ở đã xác định bồi thường trong 500m
2
trước đây) : 500m
2
(là
diện tích tổng) = 13,37m
2
đất ở là đã có lợi cho ông T, phần còn lại 39,93m
2
là
đất trồng cây lâu năm theo hiện trạng. Việc UBND Thành phố T căn cứ các
hướng dẫn của UBND Thành phố Hồ Chí Minh để tính bồi thường, hỗ trợ bổ
sung cho ông Trung là có cơ sở.
Về thẩm quyền và trình tự ban hành Quyết định số 540/QĐ-UBND ngày
17/11/2020 của UBND Quận X, Thành phố H (nay là UBND Thành phố T,
Thành phố H), việc ban hành quyết định nêu trên là không trái quy định của
pháp luật. Do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện như
đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.
[4] Án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu của người khởi kiện không
được chấp nhận nên người khởi kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; Điều
157, khoản 1 Điều 158; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194; Điều 206 và Điều
211 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí tòa án,
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành T về việc yêu cầu hủy
Quyết định số 540/QĐ-UBND ngày 17/11/2020 của Ủy ban nhân dân Quận X,
Thành phố H (nay là Ủy ban nhân dân Thành phố T, Thành phố H).
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
Ông Nguyễn Thành T chịu án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ
vào Biên lai thu số AA/2021/0001240 ngày 26/11/2021 của Cục Thi hành án dân
sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ.
3. Người khởi kiện được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm)
ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày
nhận bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị
theo luật định.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
- VKSND cấp cao tại TPHCM;
- VKSND TPHCM;
- Cục THADS TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Thu Thủy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm