Bản án số 144/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 144/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 144/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ
Số hiệu: 144/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
Bản án số: 144/2025/DS-ST
Ngày: 29-9-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng cầm
cố và vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoành.
Ông Hứa Phận .
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Phát Thư viên Tòa án nhân dân
khu vực 7 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên Tòa:
Bà Huỳnh Hồng Diễm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 Cần
Thơ xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 28/2025/TLST-DS ngày 22 tháng
7 năm 2025, về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố vay tài sản”, theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 182/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2025, giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh ngày 01/01/1981 (có mặt).
Số căn cước công dân: 094081000446, ngày 01/4/2021.
Địa chỉ: ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ
- Bị đơn:
1/ Ông Đặng Minh Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Số căn cước công dân: 094086000492, ngày 01/4/2021.
2/ Bà Phan Thị C (Phan Thị Trúc C), sinh năm 1989 (vắng mặt).
Số căn cước công dân: 094189000720.
Cùng địa chỉ: ấp A, xã V, thành phố Cần T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Đặng Văn T1, sinh ngày 01/01/1965 (vắng mặt).
2/ Bà Trần Thị M, sinh ngày 01/01/1965 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp A, xã V, thành phố Cần T.
2
3/ Ông Phan Văn T2, sinh ngày 01/01/1977 (vắng mặt).
4/ Bà Phan Thị L, sinh ngày 24/02/1977 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp A, xã V, thành phố Cần T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 3 năm 2025, quá trình giải quyết quyết vụ
án tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn T3 trình bày cho rằng vào ngày
28/11/2019 ông có thoả thuận nhận cầm cố quyền sử dụng đất của ông Đặng Minh Đ
và bà Phan Thị C 02 công đất tầm cấy, tọa lạc ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng,
số tiền cầm cố là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), thời gian cầm cố là 04 năm
(hạn chuộc lại là ngày 28/11/2023), trường hợp đến ngày chuộc lại nhưng ông Đ,
C không chuộc thì ông được tiếp tục canh tác phần đất cầm cố. Đến ngày 19/4/2022,
ông với ông Đ, bà C thỏa thuận giao, nhận thêm số tiền cầm cố quyền sử dụng đất là
40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), vậy tổng số tiền ông Đ, C cầm cố 02 công
đất tầm cấy cho ông 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), khi nhận tiền có làm
giấy biên nhận viết tay sự chứng kiến của Trưởng Ban nhân dân ấp 17. Hiện nay
đã quá thời hạn chuộc đất mà ông Đ, bà C không chuộc lại quyền sử dụng đất. Đồng
thời trước khi cố đất thì ngày 04/11/2019, ông Đặng Minh Đ, Phan Thị C vay
của ông số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) để tiêu dùng cho gia đình, lãi
suất 3%/tháng do ông Đặng Minh Đ đại diện giấy nhận nợ, đến nay ông Đ, bà C
chưa thanh toán cho ông tiền gc lãi tạm tính từ ngày 04/11/2019 đến ngày
24/3/2025 26.945.205 đồng (hai mươi sáu triệu, chín trăm bốn mươi lăm nghìn, hai
trăm lẽ năm đồng). Ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông với ông Đặng Minh Đ
và bà Phan Thị C là vô hiệu, buộc ông Đặng Minh Đ và bà Phan Thị C trả cho ông số
tiền cầm cố quyền sử dụng đất là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và lãi suất
chậm thi hành án theo quy đnh của pháp luật.
Buộc ông Đặng Minh Đ Phan Thị C trả lại cho ông số tiền vay
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và lãi tạm tính từ ngày 04/11/2019 đến ngày
24/3/2025, mức lãi 10%/năm 26.945.205 đồng (hai mươi sáu triệu, chín trăm bốn
mươi lăm nghìn, hai trăm lẽ năm đồng). Nay ông không yêu cầu tính lãi và yêu cầu
được rút lại phần khởi kiện về lãi suất của vốn vay 50.000.000 đồng từ ny
04/11/2019 đến ngay xét xử 26.945.205 đồng.
- Bị đơn ông Đặng Minh Đ Phan Thị C vắng mặt, qtrình giải quyết
không có văn bản trình bày ý kiến.
- Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T1
trình bày: Phần đất ông T cho rằng đang c của ông Đ của ông đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây ông cố cho ông Đặng Văn T4 (chết) và
Trần Thị M với giá 40.000.000 đồng. n do ông Đoàn C1 cho ông T thì ông
không biết, thời điểm phát hiện ông T sử dụng đất thì ông có báo cho ông T biết đất
3
là đất của ông, nếu mất đất thì ông T tự chịu trách nhiệm. Ông không liên quan gì với
ông Đ nên không đồng ý tham gia vụ án, đối với hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
ông và bà M sẽ tự thỏa thuận giải quyết riêng, khôngu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình giải quyết, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị M
trình bày: Bà và ông T4 là vợ chồng có cố phần đất của ông T1 khoảng 02 công tầm
cấy với giá 40.000.000 đồng, phần đất này một đầu giáp kênh nằm sau hè đất
vườn của ông T1 đang ở hiện nay. Sau khi cố do hoàn cảnh kkhăn và ông T1 chưa
điều kiện chuộc đất n đồng ý cho cố lại cho ông Phan Văn T5 với giá
50.000.000 đồng. cố ngày 30/02/2018 âl, thời hạn cố 03 năm và nếu không tiền
chuộc thì bên cố được tiếp tục làm đất. Từ khi cố đến nay ông T5 không yêu cầu
chuộc đất cũng không thông báo cho biết việc cố lại đất cho ông Đ. Do gần
biết việc ông T sử dụng đất, nghỉ ông T thuê đất đm. không liên quan
nên không tham gia và sẽ không đến Tòa, việc cầm cố với ông T5 thì khi nào có tiền
bà sẽ tự thỏa thuận chuộc lại.
- Quá trình giải quyết, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị L
trình bày: Bà là vợ ông T5, vợ chồng có nhận c phần đất ruộng 02 công tầm cấy của
ông Bảy T6 ấp A, xã V. Việc cố đất được ông Đặng Minh Đ giới thiệu và giao đất
cho ông Đ thuê sử dụng, vợ chồng bà không biết vị trí đất ở đâu. Bà biết ông Đ mang
đất thuê thế chấp cho người khác nhưng không biết người đó ai, ban đầu dự định
lấy lại đất và yêu cầu ông Bảy T6 chuộc lại nhưng Đ năn nỉ thuê và trả tiền thuê cho
bà đầy đủ nên bà cho ông Đ tiếp tục thuê đất. Mặc dù không biết địa ch nơivà chổ
làm việc, vẫn giữ sliên lạc của vợ Đ mỗi vlúa Đ đều gửi tiền thuê đầy đủ.
Phần tranh chấp với ông T để họ tự giải quyết, không tranh chấp tiền thuê đất
cũng không yêu cầu giải quyết hợp đồng cầm cố với vợ ông T6.
- Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T2
trình bày: Ông đồng ý với lời khai bà L, không bổ sung ý kiến hoặc yêu cầu khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ phát biểu ý kiến: Thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ
đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư phiên tòa cũng
như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho
các đương sự. Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ, bị đơn và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên đề nghHội
đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng
dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật. Về nội dung
thấy rằng khi khởi kiện nguyên đơn cung cấp giấy thỏa thuận cố đất ngày 28/11/2019
xác nhận của ban nhân dân ấp Biên nhận ngày 04/11/2019 âl phù hợp với các
chứng cứ khác trong hồ nên xác định giữa ông Đ ông T giao kết các hợp
đồng trên. Tuy nhiên ông Đ ông T vi phạm quy định về quyền sdụng đất nên hợp
đồng cầm cố thuộc trường hợp hiệu. Đối với C không trực tiếp tham gia giao
dịch nhưng các giao dịch phát sinh trong thời k hôn nhân, do đó C phải chịu trách
4
nhiệm cùng ông Đ hoàn trả tiền cầm cố tiền vốn vay đã nhận đúng quy định
Điều 37 Luật hôn nhân gia đình. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên hợp đồng cầm cố theo giấy thỏa thuận cố đất
ngày 28/11/2019 là hiệu buộc các bị đơn liên đới trả tiền cố, tiền vốn vay nêu
trên. Riêng phần đất cầm cố là của ông T1, trong vụ án này ông T1 không tranh chấp
về quyền sử dụng đất và các đương sự không tranh chấp các giao dịch dân sự nên đề
nghị không xử phần đất cầm cố. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận u
cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên hợp đồng cầm cố theo giấy thỏa thuận cố đất
ngày 28/11/2019 là hiệu buộc các bị đơn liên đới trả tiền cố, tiền vốn vay nêu
trên. Đối với việc ông T rút yêu cầu về lãi suất là tự nguyện nên đề nghị đình chỉ theo
quy định. Đồng thời buộc các bị đơn phải chịu án phí chi phí tố tụng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Yêu cầu khởi kiện của T5 là tranh chấp dân svhợp đồng cầm cố quyền
sử dụng đất và vay tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015. Bị đơn có nơi cư ttại ấp A, V, thành phố Cần Thơ nên Tòa án nhân dân
khu vực 7 Cần Thơ thụ giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền tại Điều 35
điểm a khoản 1 Điều 39 ca Bộ luật T tụng n sự. Các đương sự đã được Tòa án
triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai, bị đơn ông Đặng Minh Đ, bà Phan
Thị C và người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T1, Trần Thị M,
Phan Thị L và ông Phan Văn T2 vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b
khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
tiến hành xét xử v án vắng mặt đương sự trên.
[2] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện, quá trình giải quyết tại phiên tòa nguyên
đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về lãi suất từ ngày 04/11/2019 âl đến ngày xét xử
đối với khoản vay 50.000.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn là tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu khởi kiện đã rúty.
[3] Về Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, thấy rằng ông T khởi kiện có cung
cấp giấy thỏa thuận cố đất ngày 28/11/2019, dưới chữ của đại diện bên A Đặng
Minh Đ đại diện bên B Lê Văn T, nội dung xác nhận của đại diện ấp A ông
Hoàng N và tại trang tiếp theo có dòng chữ “hôm nay ny 19 tháng 04 năm 2022
tôi nhận của ông Văn T số tiền cố đất thêm (40.000.000) bốn mươi triệu
đồng”, ký ghi họ tên Đặng Minh Đ. Khi th lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn
ông ĐC biết việc nguyên đơn ông T khởi kiện, nội dung yêu cầu, các tài liệu,
chứng cứ đã giao nộp nhưng các bị đơn không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn là đã từ bỏ quyền chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố
tụng dân sự. Qua xác minh ông Hoàng N trình bày xác nhận vào giấy thỏa
thuận cố đất ngày 28/11/2019 và tại lời khai bà Phan Thị L thừa nhận biết ông Đ thế
5
chấp phần đất thuê ca cho bên thứ ba phù hợp lời khai của ông T1, M về
việc ông T đang sử dụng phần đất M đã cố cho ông T2 (chồng L). Căn cứ khoản
2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu của nguyên đơn
dựa trên các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định bị đơn ông
Đặng Minh Đ có giao kết hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất với ông T.
[3.1] Theo Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 167 Luật Đất
đai năm 2013 (khoản 1 Điều 27 Luật đất đai 2024) quy định: “Người sử dụng đất
được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa
kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Lut này”. Như
vậy, việc ông Đ ông T thỏa thuận cầm cố quyền sử dụng đất trên không thực
hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất, đây là
hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 4 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013
(Điều 11 Luật đất đai 2024). vậy, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất trên bị
hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu của ông T
về việc tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất theo giấy thỏa thuận cố đất ngày
28/11/2019 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận như đã phân tích trên. Về hậu quả của hợp
đồng vô hiệu theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Giao dịch dân sự
hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể
từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự hiệu thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những đã nhận [...]”. Nvậy, ông
Đoàn C1 cho ông T tổng cộng 100.000.000 đồng nên buộc ông Đ có nghĩa vụ trả lại
tiền cố đất là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Theo kết quả xem xét, thẩm định phần đất cầm cố thuộc một phần của thửa
đất số 475, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp A, xã V, thành phố Cần Thơ. Căn cứ công văn
số 86/CNKV27 ngày 23/9/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai khu vực
27, thửa đất số 475 do ông Đặng Văn T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CX 772124/CS04659. Đối với ông T1 giao kết hợp đồng cầm cố với Trần
Thị M, Trần Thị M giao kết hợp đồng cầm cố với ông Phan Văn T5 ông T2 giao
kết hợp đồng cho thuê với ông Đặng Minh Đ. Tòa án đưa ông Đặng Văn T1, bà Trần
Thị M vợ chồng ông Phan n T2 tham gia tố tụng các đương sự không yêu
cầu Tòa án giải quyết về giao dịch dân sự nêu trên, ông T1 không tranh chấp quyền
sử dụng đất nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Như vậy theo quy định buộc
ông T giao trả đất cho ông Đ quản lý, trường hợp có phát sinh tranh chấp vquyền sử
dụng đất hoặc tranh chấp về giao dịch cầm cố, giao dịch cho thuê các đương s
quyền khởi kiện vụ án khác.
[4] Về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, khi khởi kiện ông T giao nộp Biên nhận
ngày 04/11/2019 âl, dưới dòng chữ người nhận chữ ký Đặng Minh Đ. Như phân tích
tại mục [3] các bị đơn không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn
đã từ bỏ quyền chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên các tài liệu, chứng cứ do nguyên
đơn cung cấp có cơ sở xác định bị đơn ông Đặng Minh Đ vay tiền của ông Lê Văn T
là 50.000.000 đng.
6
[5] Đối với C không trực tiếp cùng ông Đ tham gia giao dịch cầm cố vay
tài sản với ông T, nhưng giữa ông Đ và bà C vợ chồng, việc cầm cố quyền sử dụng
đất vay tiền phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên căn cứ Điều 37 Luật hôn nhân
và gia đình buộc C có trách nhiệm liên đới hoàn trả tiền cố đấttiền vay cho ông
T là có căn cứ.
[6] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu án
phí và chi phí thẩm định theo quy định tại Điều 147, Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự
và khoản 2 Điều 26 của NghQuyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vQuốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, np,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Cần Thơ tuyên hợp
đồng cầm cố hiệu và buộc các bị đơn trả tiền cố đất, tiền vốn vay căn cứ, Hội
đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92,
Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều
266, Điều 271 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 123,
Điều 131, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 27
Luật đất đai 2024; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về tranh chấp hợp đồng cầm
cố và vay tài sản với ông Đặng Minh Đ và bà Phan Thị C.
- Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sdụng đất theo Giấy thỏa thuận cố đất ngày
28/11/2019 giữa ông Lê Văn T và ông Đặng Minh Đ là vô hiệu.
- Buộc ông Đặng Minh Đ và Phan Thị C nghĩa vụ trả cho ông Lê Văn T
số tiền cố đất 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền vốn vay 50.000.000
đồng (năm mươi triệu đồng).
- Buộc ông Văn T giao trả ông Đặng Minh Đ phần đất nhận cố diện tích
02 công tầm cấy, thuộc thửa số 475, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp A, V, thành phố
Cần Thơ, tứ cận có bờ đất.
2. Đình chỉ yêu cầu đã rút ca ông Văn T đối với với ông Đặng Minh Đ và
Phan Thị C về phần lãi suất 26.945.205 đồng.
3. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của ông Lê Văn T cho đến khi thi hành
án xong, ông Đặng Minh Đ và bà Phan Thị C còn phải trả cho ông Văn T số tiền
lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh
7
toán.
4. Chi phí tố tụng: Ông Đặng Minh Đ Phan Thị C phải chịu chi phí xem
xét, thẩm định tại chổ là 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền ông
Đặng Minh Đ và bà Phan Thị C nộp được hoàn trả cho ông Lê Văn T.
5. Án phí dân sthẩm: Ông Đặng Minh Đ Phan Thị C phải chịu
7.500.000 đồng. Hoàn trả cho ông Văn T tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.423.000
đồng theo biên lai thu số 0001011 ngày 22/7/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu
vực 7 – Cần Thơ.
Nguyên đơn, bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì
thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại c điều 6, 7, 7a 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND thành phố Cần Thơ;
- VKSND khu vực 7 – Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Mai
Tải về
Bản án số 144/2025/DS-ST Bản án số 144/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 144/2025/DS-ST Bản án số 144/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất