Bản án số 142/2022/DS-ST ngày 16/12/2022 của TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 142/2022/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 142/2022/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 142/2022/DS-ST ngày 16/12/2022 của TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Vũng Liêm (TAND tỉnh Vĩnh Long) |
| Số hiệu: | 142/2022/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/12/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | M+T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
6TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 142/2022/DS-ST
Ngày: 16/12/2022
V/v “Tranh chấp thực hiện nghĩa
vụ tài sản do người chết để lại”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Tòng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm
2. Ông Sơn Thanh Huyền
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng
Liêm tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tham gia phiên tòa: Bà
Lữ Ngọc Minh Châu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng
Liêm xét xử sơ thẩm công khai
vụ án thụ lý số: 27/2022/TLST-DS ngày 18/02/2022
về việc:“Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 398/2022/QĐXX-ST ngày 21 tháng 11 năm 2022 và
quyết định Hoãn phiên tòa số 250/2022/QĐST-DS, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1968.
Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện L, tỉnh VL.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Cơ Ba – theo văn bản ủy quyền
ngày 16/3/2022.
Cùng trú tại ấp N, xã D, huyện L, tỉnh VL.
Bị đơn:1- Bà Trương Thị Bích T, sinh năm 1953
2
2- Anh Lê Hoàng T, sinh năm 1978 ( Vắng )
Cùng địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyện L, tỉnh VL.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai khác có trong hồ sơ vụ án cũng như tại
phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông Lê
Hoàng Ve ( chết năm 2020 ) là chồng bà T và là cha ruột của anh Lê Hoàng T.
Ngày 22/9/2019 ông Lê Hoàng V vay của bà Nguyễn Thị Tuyết M 26,5 chỉ vàng
24k, mục đích vay để làm thủ tục đáo hạn ngân hàng, khi vay có làm giấy tờ đàng
hoàng do ông V đích thân ký tên. Tháng 02/2020 ông V chết, ông V chết có để lại
tài sản là thửa đất diện tích đất khoảng 2.300m
2
đất thổ vườn, hiện nay bà T đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ thừa kế tài sản của ông V. Ông V
chưa trả cho bà T số vàng 26,5 chỉ vàng 24k đã vay, nay yêu cầu bà T, anh T có
nghĩa vụ trả cho bà M 26,5 chỉ vàng 24k tương đương số tiền 139.655.000đ.
Bà Trương Thị Bích T trình bày: Bà là vợ của ông Lê Hoàng V, tuy nhiên hai
người không cùng sống chung nhà, mỗi người sống một nơi cách đây mấy mươi
năm, cuộc sống của ai người đó lo, bà không biết việc ông V có vay vàng của bà M.
Khi ông V chết có để lại khoảng 2.300m
2
đất, hiện bà đã được đứng tên quyền sử
dụng đất thửa 469, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.836,8m
2
, phần còn lại chưa được
đứng tên, thửa đất trên có nguồn gốc thừa kế từ ông V. Việc ông V thiếu nợ bà M
26,5 chỉ vàng 24k thì bà không biết có hay không, ông V vay để làm việc gì, bà
không đồng ý trả theo yêu cầu của bà M.
Anh Lê Hoàng T trong quá trình hòa giải thì thống nhất như ý kiến của mẹ và
không bổ sung ý kiến gì thêm. Vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm và không nộp bản
khai ý kiến.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát huyện L:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và của những người tham gia phiên tòa trong quá trình giải quyết
vụ án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về giải quyết nội dung vụ án: Bà T và anh T là người thừa kế hàng thứ
nhất của ông V, ông V có thiếu bà M 26,5 chỉ vàng 24k có làm giấy nợ đàng hoàng,
bà T không đồng ý trả nợ cho bà M nhưng cũng không có chứng cứ chứng minh
biên nhận vay vàng trên không phải do ông V viết hay ký tên, thực tế ông V có nợ
bà M 26,5 chỉ vàng 24k, bà T là người nhận di sản thừa kế của ông V để lại, hiện bà
đã được đứng tên quyền sử dụng đất thửa 469, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.836,8m
2
và theo biên bản định giá tài sản cũng như lời khai của bà T xác nhận giá đất phần
đất thửa 469 trên giá 400.000đ/m
2
. Theo sự xác nhận của tiệm vàng T có địa chỉ tại
thị trấn Vũng Liêm xác nhận giá vàng 24k bán ra ngày 16/12/2022 là
5.270.000đ/chỉ, theo yêu cầu của nguyên đơn thì giá trị 26,5 chỉ vàng 24k tương
đương số tiền 139.655.000đ. Bà T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
ông V để lại, nhưng khi kê khai hàng thừa kế thì có cả anh Lê Hoàng T, anh T giao
3
cho bà T đứng tên quyền sử dụng đất, điều này đồng nghĩa việc bà T và anh T có
nghĩa vụ liên đới thanh toán nợ của ông V cho phía bà M. Tính giá trị tài sản của bà
T, anh T được hưởng là lớn hơn phần giá trị yêu cầu của nguyên đơn, nên bà T, anh
T phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà M số vàng 26,5 chỉ vàng 24k tương đương
số tiền là 139.655.000đ là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 615 Bộ luật
Dân sự 2015. Ông Cơ Ba đại diện cho bà M tự nguyện chịu chi phí định giá tài sản,
nên được công nhận.
Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ
án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu,
chứng cứ, ý kiến trình bày của luật sư, của đương sự và quan điểm về việc giải
quyết vụ án của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Lê Hoàng V
là chồng bà Trương Thị Bích T và là cha ruột của anh Lê Hoàng T. Theo lời khai
của bị đơn thì vợ chồng không sống chung nhà với nhau từ nhiều năm nay, tuy
nhiên trên phương diện luật pháp thì bà T và anh T là người thuộc hàng thừa kế thứ
nhất của ông V sau khi ông V mất. Bà T đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có nguồn gốc là di sản của ông V chết để lại, anh T giao cho bà T đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Trước khi chết ông V còn nợ bà M số
vàng 26,5 chỉ vàng 24k, sau khi chết vẫn chưa trả được phần nào số nợ trên, bà T,
anh T đã nhận thừa kế quyền sử dụng đất từ ông V nên có nghĩa vụ liên đới trả cho
bà M số nợ ông V còn nợ bà M trong phạm vi tài sản mà mình nhận thừa kế. Căn cứ
khoản 2 Điều 26 của Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ việc thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.
[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm tiến hành
thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Dân sự quy
định. Các tài liệu chứng cứ do đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập nên vụ án
thuộc trường hợp Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia kiểm sát việc tuân
thủ pháp luật tại phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Anh Lê Hoàng T là Bị đơn trong vụ án, thời gian đầu anh T có tham gia hòa
giải, có lời khai cho Tòa, tuy nhiên khi tiến hành định giá tài sản và tiến hành xét xử
sơ thẩm thì anh T không có mặt, xét thấy việc anh T được triệu tập hợp lệ nhưng
vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với anh Lê Hoàng T.
[ 3 ] Về yêu cầu khởi kiện: Phía nguyên đơn yêu cầu bà Trương Thị Bích T
và anh Lê Hoàng T có nghĩa vụ trả cho bà M 25,6 chỉ vàng 24k, do trước khi chết
ông V có vay mượn của bà M đến nay chưa trả được. Bà M và anh T là người thuộc
hàng thừa kế thứ nhất của ông V, ông V mất có để lại phần đất khoảng 2.300m
2
tọa
lạc tại ấp Đại , xã Trung Thành Đông, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Bà T,
4
anh T đã thực hiện thủ tục kê khai thừa kế quyền sử dụng đất do ông V chết để lại,
anh T giao cho bà T đứng tên quyền sử dụng đất nói trên. Bà T thừa nhận bà đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 469, tờ bản đồ số 12, diện tích
1.836,8m
2
do ông V để lại, phần còn lại khoảng hơn 300m
2
chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà T cho rằng việc ông V có vay vàng của bà M
hay không và vay với mục đích làm gì thì bà không biết, bà cũng không có nghĩa vụ
phải trả nợ thay cho ông V. Về biên nhận vay vàng của ông V với bà M thì bà cũng
không thừa nhận tuy nhiên bà cũng không yêu cầu tòa án gửi mẫu đi giám định chữ
ký, chữ viết hay có bất cứ chứng cứ nào chứng minh biên nhận vay vàng của ông V,
với bà M là không có thật.
Về giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm, theo xác nhận của tiệm vàng
Truyền Thanh Thủy có địa chỉ tại thị trấn Vũng Liêm xác định giá vàng 24k bán ra
là 5.270.000đ/chỉ, như vậy 26,5 chỉ vàng 24K có giá trị bằng 139.655.000đ. Bà T
không có ý kiến gì về giá vàng nêu trên.
Về giá trị phần đất bà T được hưởng thừa kế, tại biên bản định giá ngày
03/11/2022 của Hội đồng định giá xác định giá đất thửa 469 là 400.000đ/m
2
. Bà T
không có mặt tại buổi làm việc định giá đất, tuy nhiên bà cũng thừa nhận giá đất
như trên là phù hợp, đúng với giá thị trường ở địa phương tại khu vực đất tranh
chấp. Như vậy, phần đất bà T đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa 469 có giá trị tương đương khoảng 734.720.000đ, vượt xa giá trị phải thanh
toán nợ cho bà M.
Tuy bà T đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được hưởng
thừa kế từ ông V, nhưng bà và anh T đều thừa nhận việc bà được anh T giao đứng
tên giùm đất nhận thừa kế của ông V. Từ căn cứ này xác định bà T và anh T phải có
nghĩa vụ liên đới trả nợ thay cho ông V số tiền ông V nợ bà M là 139.655.000đ
tương đương giá trị 26,5 chỉ vàng 24k.
Từ những căn cứ nêu trên xác định, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị
Tuyết M có ông Nguyễn Văn Cơ Ba làm người đại diện yêu cầu bà Trương Thị
Bích T và anh Lê Hoàng T có nghĩa vụ trả cho bà M số vàng 26,5 chỉ vàng 24k tính
thành tiền là 139.655.000đ là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng trong vụ án: Ông Cơ Ba đại diện cho bà M tự nguyện
chịu chi phí định giá tài sản.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T, anh T phải chịu án phí theo quy định của
pháp luật.
Yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết M có ông Nguyễn Văn Cơ Ba
làm đại diện là có căn cứ nên được chấp nhận.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng
Liêm tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều
271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 615 Bộ luật dân sự 2015
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
* Tuyên xử:
[ 1 ] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết M có ông
Nguyễn Văn Cơ Ba làm đại diện theo ủy quyền.
Buộc bà Trương Thị Bích T và anh Lê Hoàng T có trách nhiệm liên đới trả
cho bà Nguyễn Thị Tuyết M 139.655.000đ ( một trăm ba mươi chín triệu sáu trăm
năm mươi lăm ngàn đồng ) tương đương giá trị 26,5 chỉ vàng 24K thay cho ông Lê
Hoàng V ( chết năm 2020 ).
[2] Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn Cơ Ba đại diện cho bà Nguyễn Thị
Tuyết M tự nguyện chịu chi phí định giá tài sản 1.000.000đ ( đã nộp xong ).
[3 ] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị Bích T và anh Lê Hoàng T phải
nộp 6.982.000đ ( Sáu triệu chín trăm tám mươi hai ngàn đồng ).
Bà Nguyễn Thị Tuyết M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận
lại 2.716.000 tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu 0008024 ngày 18/02/2022
của chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt Người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn, Bị đơn là bà Trương Thị Bích T. Các đương sự trên được quyền kháng cáo
Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn Lê Hoàng T vắng mặt
tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND huyện Vũng Liêm;
- Chi cục THADS huyện Vũng Liêm;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Hồ Thanh Tòng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 17/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm