Bản án số 14/2019/DS-ST ngày 30/08/2019 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh về kiện đòi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2019/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 14/2019/DS-ST ngày 30/08/2019 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh về kiện đòi tài sản
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Phong (TAND tỉnh Bắc Ninh)
Số hiệu: 14/2019/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/08/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN YÊN PHONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 14/2019/DS-ST
Ngày 30/8/2019
V/v “Kiện đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Minh Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Kiều Văn Dậu.
2. Ông Tô Huy Bân.
Thư phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương - Thư Tòa án nhân n
huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Bà Ngô Phương Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/8/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc
Ninh xét xthẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 20/2019/TLST-DS, ngày
07/5/2019 về việc Kiện đòi tiền hàng phát sinh từ giao dịch mua bán hàng hóa
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7m
2019 giữa c đương sự.
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh 1970 (có mặt).
Trú tại: Thôn M, xã V, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Anh Ng, sinh năm 1971 (có mặt).
Ttại: Khu Th, phường Kh, thành phố BN, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Nguyễn Duy Q, sinh 1984.
Chị Lê Thị T, sinh 1984 (vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn M, xã V, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1957 (có mặt).
Trú tại: Thôn H, xã H, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/4/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn,
đại diện theo y quyền của nguyên đơn trình bầy tại phiên tòa thì nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
2
Tháng 11/2018 giữa bà Nguyễn Thị B và vợ chồng anh Nguyễn Duy Q, chị Tâm
nhiều lần mua bán nhôm với nhau. Hai bên thỏa thuận mỗi lần giao nhận ng sẽ
làm thủ tục cân tại trạm câm 100 tấn Quang Tiến địa chỉ tại: Thôn Mẫn Xá,
n Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi n giao nhận ng đầy đủ
thì hai bên sẽ tính toán tiền theo giá đã thỏa thuận cùng nhận. Tổng số tiền
hàng B bán cho vợ chồng anh Q, chị T 469.960.000 đồng. Theo thỏa thuận sau
khi nhận hàng ít ngày thì vợ chồng anh Q, chị T sẽ thanh toán tiền cho B trên
thực tế anh Q, chị T đã thanh toán cho B được 149.960.000 đồng. Hiện vợ chồng
anh Q, chị T còn nợ B 320.000.000 đồng tiền hàng. Khi cần tiền B đã đến đòi
nhiều lần nhưng chT, anh Q chưa trả. Nay B yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng chị
T, anh Q phải tr B số tiền ng còn lại 320.000.000 đồng, về i suất không
yêu cầu.
Ông Nguyn Thanh B đại diện cho bị đơn trình bày và xác nhận giữa bà B
chồng chị T, anh Q việc quan hệ mua n nhôm với nhau vào khoảng tháng
11/2018. Tổng số tiền hàng vchồng chị T, anh Q mua của B là 469.960.000
đồng đã thanh toán trả cho B số tiền 149.960.000 đồng, hiện còn nợ B
320.000.000 đồng là đúng.
Nay bà B yêu cầu vợ chồng ch T, anh Q phải trả số tiền còn nợ
320.000.000 đồng, về lãi suất không yêu cầu. Vợ chồng chị T, anh Q đồng ý trả B
số tiền trên, nếu B đồng ý vợ chồng chị T, anh Q sẽ trả bằng hiện vật 01 chiếc
xe mô tô nhãn hiệu Honda SH và 01 bộ n ghế trị giá khoảng 150.000.000 đồng, số
còn lại xin được trdần.
Tại phiên toà: Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị T, anh Q phải trả B số tiền hàng
còn nợ là 320.000.000 đồng, về lãi suất không yêu cầu.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác nhận vợ chồng chị T, anh Q còn nợ bà B
số tiền hàng theo như yêu cầu của B là đúng nhưng xin được trả dần số tiền tn.
Giữa nguyên đơn, bị đơn thống nhất không tranh chấp với nhau về nội
dung việc mua bán nhôm số tiền hàng còn nợ. Đây những vấn đề không cần
phải chứng minh trong ván. Giữa các bên đương sự chỉ chưa thống nhất được với
nhau về thời gian và cách thức thanh toán số tiền hàng còn nợ.
Bị đơn là anh Nguyn Duy Q đã được a triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng
mặt. a án xét xử vắng mặt bị đơn Q theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKSND huyện Yên Phong phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật
trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy
định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đúng qui
định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Duy Q không chấp hành các
quy định của pháp luật, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX.
Về quan hệ pháp luật: Xác định đây là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
hoặc là kiện đòi tiền hàng.
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39 BLTTDS; Điều 430, 440 BLDS năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
3
Buộc anh Nguyễn Duy Q, chị Thị T phải trả Nguyễn Thị B số tiền hàng
còn nợ là 320.000.000 đồng.
Về lãi suất không đặt ra xem xét do bà B không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1 ] Tháng 11/2018 giữa B vợ chồng chị T, anh Q giao dịch mua
bán nhôm với nhau. Theo thỏa thuận giữa hai bên về việc mua bán thì mỗi lần giao
nhận hàng sẽ làm thủ tục cân tại trạm câm 100 tấn Quang Tiến địa chtại: Thôn
Mẫn Xá, Văn Môn, huyện n Phong, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi cân hàng giao
nhận đầy đủ thì hai bên sẽ tính toán tiền theo giá đã thỏa thuận cùng nhận.
Tổng số tiền ng B bán cho vợ chồng anh Q, chT 469.960.000 đồng. Theo
thỏa thuận sau khi nhận ng ít ngày thì vợ chồng anh Q, chị T sẽ thanh toán tiền
cho B trên thực tế anh Q, chị T đã thanh toán cho B được 149.960.000
đồng. Hiện vợ chồng chị T, anh Q còn nợ B 320.000.000 đồng. Xét thấy giao
dịch mua bán hàng hóa giữa B vợ chồng chT, anh Q hợp pháp, khi thực
hiện giao dịch các bên đều đầu đủ năng lực hàng vi dân sự. Mọi thỏa thuận của
các n tự nguyện phợp quy định của pháp luật hiện các bên không có
tranh chấp về giao dịch mua bán hàng hóa với nhau. Giữa các bên đương sự ch
chưa sự thống nhất với nhau về thời gian, cách thức thanh toán số tiền hàng n
còn lại là 320.000.000 đồng. Xét thấy đây là quan hệ kiện đòi tiền hàng phát sinh từ
giao dịch mua bán hàng hóa. Việc anh Q, chị T không thanh toán trả bà B số tiền
hàng còn nợ là vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên mua.
[ 2 ] Xét yêu cầu của Nguyễn Thị B yêu cầu vợ chồng chị T, anh Q phải
trả cho chị số tiền hàng còn n 320.000.000 đồng HĐXX nhận thấy: Yêu cầu
này của B là căn cứ phù hợp với quy định tại điều 440 BLDS năm 2015
quy định về nghĩa vụ trả tiền của bên mua nên cần được chấp nhận để buộc anh
Nguyễn Duy Q, chị Thị T phải trả B số tiền hàng còn nợ là 320.000.000
đồng và yêu cầu này của bà B được chị T đồng ý.
Về lãi suất B không yêu cầu do vậy không đặt ra xem xét.
[ 3 ] u cầu khởi kiện của ngun đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu
án phí theo quy định của pháp luật. Giảm 50% khoản tiền án phí phải chịu cho anh
Q, chị T vì xét thấy hiện anh Q, chT đang gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 147; 239; 243; 248; 260; 264; 267 Bộ luật t tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 357, 430, 440 BLDS năm 2015.
4
Căn cứ vào Nghị quyết s: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
1. Buộc anh Nguyễn Duy Q, chị Thị T phải trả cho Nguyễn Thị B số
tiền hàng còn nợ là 320.000.000 đồng (ba trăm hai mươi triệu đồng).
Về lãi suất B không yêu cầu do vậy không đặt ra xem xét.
Kể từ khi bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn đề
nghị thi hành án nếu người phải thi hành án không tự giác thi hành thì còn phải
chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS năm 2015
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Duy Q, chị Thị T phải chịu 16.000.000 đồng
án phí DSST. Giảm 50% khoản tiền án phí phải chịu cho anh Quảng, chị Tâm. Anh
Q, chị T còn phải chịu 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) án phí DSST.
Hoàn trả Nguyễn Thị B do ông Nguyễn Anh Ng đại diện 8.000.000 đồng
(tám triệu đồng) tạm ứng án pđã nộp tại biên lai số: AA/2018/0000511 ngày
02/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.
Nguyên đơn, bị đơn mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày ktừ ngày nhận
được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi
hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhân:
- Toà án tỉnh Bắc Ninh.
- VKSND tỉnh Bắc Ninh.
- VKSND huyện Yên Phong.
- Người tham gia tố tụng khác.
- THA huyện Yên Phong.
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Chu Minh Nam
5
Tải về
Bản án số 14/2019/DS-ST Bản án số 14/2019/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất