Bản án số 138/2023/HNGĐ-ST ngày 26/05/2023 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 138/2023/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 138/2023/HNGĐ-ST ngày 26/05/2023 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 138/2023/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/05/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đào Thị T xin ly hôn với Bùi Văn D
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 138 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2023.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con chung khi ly hôn”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và bà Ngô Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số 32/2023/TLST-
HNGĐ ngày 15/02/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly
hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày
06/3/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2023/QĐST-HNGĐ ngày
24/3/2023; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/2023/TB-TA ngày
28/3/2023 số 04/2023/TB-TA ngày 19/4/2023; Thông báo thời gian mlại
phiên tòa số 05/2023/TB-TA ngày 08/5/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị T, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số A N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn D, sinh năm 1976.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số A N, khu B, phường T, thành phố H, tỉnh
Hải Dương.
Chỗ ở hiện nay: Hàn Quốc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đào Thị D1, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Số A N, khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Chị T, anh D, bà D1 đều vắng mặt tại phiên tòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Đào Thị T
trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Bùi Văn D tự do tìm hiểu, tự nguyện
đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Nội vào
ngày 01/12/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại Nội,
đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, anh D đã chuyển về thành phố H sinh
sống. Đến 11/2017, anh D sang Hàn Quốc làm việc từ khi đi đó đến nay chưa về
nước. Chị và anh D đã ly thân, mỗi người có một cuộc sống riêng, thời gian gần
đây đã không còn liên lạc. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh D, hôn
nhân không thể níu kéo, cần phải giải thoát cho cả hai để ổn định cuộc sống
riêng. Do đó, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng chị 02 con chung Bùi Duy T1, sinh ngày
13/11/2005 và Bùi Khánh L, sinh ngày 17/9/2007, cả hai cháu hiện đang cùng
với bố mẹ anh D. Qua bố mẹ anh D chị được biết anh D vẫn thường xuyên liên
lạc về gia đình và gửi tiền về để ông bà chăm sóc hai cháu. Sau khi ly hôn anh D
nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con T1, L. Cháu Tùng
cháu Ly nguyện vọng được với anh D nên chị đồng ý để anh D tiếp tục
chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1, cháu L đến khi trưởng thành. Anh D tự nguyện
không yêu cầu chị cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh, chị cũng đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ
của anh D tại Hàn Quốc nên Tòa án đã xác minh qua gia đình anh D, đồng thời
yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của anh D. Đào Thị D1 mẹ đẻ anh D
trình bày: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh D chị T như
chị Trang trình bày đúng. Hiện nay, anh D đang làm việc tại Hàn Quốc, sau
khi nhận được thông báo thụ các văn bản của Tòa án, đã thông báo cho
anh D biết về việc chị T đơn xin ly n với anh yêu cầu giải quyết việc
nuôi dưỡng con chung. Quan điểm của anh D nhất tly hôn đề nghị Tòa án
giải quyết để anh D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung i Duy T1, sinh
ngày 13/11/2005 Bùi Khánh L, sinh ngày 17/9/2007 đến khi trưởng thành,
anh D không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Dương đang Hàn
Quốc nên nhờ gia đình bà trông nom, nuôi dưỡng cháu T1 và cháu L cho đến khi
anh về nước, bà nhất trí; Về tài sản chung: Anh D không yêu cầu Tòa án giải
3
quyết. Anh D xin vắng mặt tại các buổi m việc phiên tòa, các văn bản Tòa
án gửi cho anh D đề nghị gửi cho bà và sẽ trách nhiệm thông báo cho anh
D.
Tại phiên tòa: Chị T đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện; anh D vắng mặt không lý do; bà D1 có quan điểm xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử
nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn
không chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn
nhân gia đình: Xử cho chị Đào Thị T được ly hôn anh Bùi Văn D; Giao anh
D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Bùi Duy T1,
sinh ngày 13/11/2005 Bùi Khánh L, sinh ngày 17/9/2007 cho đến khi con
trưởng thành. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh D.
Đào Thị D1 trách nhiêm trông nom chăm sóc cháu Bùi Duy T1 cháu Bùi
Khánh L cho đến khi anh D vnước; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự
không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ
án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Đào Thị T đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải D giải
quyết việc ly hôn giữa chị với anh Bùi Văn D. Trước khi sang Hàn Quốc sinh
sống lao động anh D ttại thành phố H. Theo quy định tại khoản 1 Điều
28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải D.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của
anh D tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC- PC ngày
26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải D đã yêu
cầu chị T và gia đình anh D cung cấp địa chỉ nhưng chị
4
T gia đình anh D đều không cung cấp được. Gia đình anh D xác định anh D
vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, được thông báo về việc chị T có đơn xin
ly hôn, anh D không cung cấp địa chỉ không gửi ý kiến trình bày bằng văn
bản cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày
26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải D tiến hành
giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt không có
do, D1 đề nghị xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản
1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, anh D, bà
D1.
[2] Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh D được tự do tìm hiểu, tự nguyện
đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận H, Thành phố Nội vào
ngày 01/12/2004. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh
chị chung sống vui vẻ, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, anh D
chuyển về thành phố H để sinh sống làm thủ tục sang Hàn Quốc lao động.
Tháng 11/2017, anh D sang Hàn Quốc lao động, từ đó đến nay vợ chồng sống ly
thân không còn quan m đến nhau. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không
còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
được ly hôn anh D. Thông qua gia đình anh Dương có quan điểm nhất trí ly hôn
theo đề nghị của chị T. Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Trang anh D đã
trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử xử cho chị T
được ly hôn anh D là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2]. Về con chung: Chị T, anh D 02 con chung Bùi Duy T1, sinh
ngày 13/11/2005 và Bùi Khánh L, sinh ngày 17/9/2007, hiện hai cháu đang
cùng gia đình nhà anh D. Khi ly hôn, anh D nguyện vọng được tiếp tục chăm
sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng
tiền nuôi con cùng anh. Cháu T1, cháu L hiện đang cùng gia đình nanh D
đều nguyện vọng được tiếp tục cùng bố, chị T đồng ý với nguyện vọng
của hai cháu quan điểm của anh D. Xét hai bên đã thống nhất được với nhau
về việc nuôi con chung nên chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự: giao con
chung Bùi Duy T1, sinh ngày 13/11/2005 Bùi Khánh L, sinh ngày
17/9/2007 cho anh D tiếp tục chăm sóc, nuôi nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.
Anh D hiện chưa về nước đề nghị D1 chăm sóc con cho đến khi anh D về
nước, bà Dinh nhất trí. Do vậy, giao cháu T1, cháu L cho bà Đào Thị D1 (mẹ đẻ
anh D)
5
chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh D về Việt Nam trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị T được quyền thăm nom các con chung, không ai được cản trở là p
hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: ChT phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án
theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân
Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Luật plệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị
quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị T được ly hôn anh Bùi Văn
D.
2. Về con chung: Giao cho anh Bùi Văn D được tiếp tục chăm sóc, nuôi
dưỡng 02 con chung là Bùi Duy T1, sinh ngày 13/11/2005 và Bùi Khánh L, sinh
ngày 17/9/2007 đến khi các con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của
anh D không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh.
Tạm giao cháu Bùi Duy T1 cháu Bùi Khánh L cho Đào Thị D1
chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh D không ở Việt Nam.
Chị Đào Thị T được quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không
ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đào Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân
gia đình thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành
án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số
6
AA/2021/0003915 ngày 15/02/2023 (chị T đã nộp đủ án phí).
4. Về quyền kháng cáo: Chị T, D1 vắng mặt tại phiên tòa quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản
án được niêm yết. Anh D vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được
niêm yết./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- UBND phường Phúc Tân,
quận Hoàng Kiếm, TP. Hà Nội
(để ghi vào sổ hộ tịch);
- Lưu hồ sơ, VP, THC,
TGĐ&NCTN.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Mai Hoa
7
8
Tải về
Bản án số 138/2023/HNGĐ-ST Bản án số 138/2023/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất