Bản án số 135/2018/HNGĐ-ST ngày 29/10/2018 của TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 135/2018/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 135/2018/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 135/2018/HNGĐ-ST ngày 29/10/2018 của TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Dĩ An (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 135/2018/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/10/2018 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị L yêu cầu ly hôn anh H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 135/2018/HNGĐ-ST
Ngày 29-10-2018
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con
và chia tài sản khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Nhung - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An,
tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan
Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình
Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số
573/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp về ly hôn,
nuôi con và chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số
160/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số
124/2018/QĐST-HNGĐ ngày 24/10/2018, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1988; thƣờng trú: 52/3, khu
phố T, phƣờng B, thị xã D, tỉnh B; địa chỉ liên lạc: Ấp 4, xã T, thành phố B, tỉnh Đ.
Có mặt.
Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Đậu Đức N, sinh năm 1992; địa
chỉ: 19/32 Nguyễn An Ninh, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B, là ngƣời đại diện
theo ủy quyền đối với phần yêu cầu giải quyết con chung và chia tài sản chung (văn
bản ủy quyền ngày 24/5/2018). Có mặt.
2
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1985; thƣờng trú: 52/3, khu phố T,
phƣờng B, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2018, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh L và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn
đối với yêu cầu giải quyết con chung và chia tài sản chung là anh Đậu Đức N trình
bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung H và chị Nguyễn Thị Thanh L tự
nguyện chung sống với nhau vào năm 2007, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại
Ủy ban nhân dân xã T, huyện D (nay là phƣờng T, thị xã D), tỉnh B vào năm 2007,
việc kết hôn của anh, chị là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Sau khi kết hôn anh, chị sinh sống cùng với gia đình nhà chồng tại số 52/3, khu
phố T, phƣờng B, thị xã D, tỉnh B. Thời gian đầu sau kết hôn anh, chị sống với nhau
hạnh phúc cho đến đầu năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu
thuẫn do anh Hiếu thƣờng xuyên uống rƣợu, đánh đập chị cho nên chị đã chuyển về
nhà cha mẹ ở xã T, thành phố B, tỉnh Đ để sinh sống. Sau đó, anh H thƣờng xuyên
đến nơi chị ở để quậy phá, đe dọa đánh chị. Thấy vậy, anh trai chị ra căn ngăn thì bị
anh H dùng dao đâm vào cơ thể dẫn đến bị thƣơng tích. Hành vi gây thƣơng tích của
anh H đã bị Tòa án nhân dân thành phố B xử về tội cố ý gây thƣơng tích. Xuất phát
từ những mâu thuẫn trên hai vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay.
Trong khoảng thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay
chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn
với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Lê V, sinh ngày
29/02/2008. Hiện con chung đang ở với anh H. Theo đơn khởi kiện chị yêu cầu trực
tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Tuy nhiên,
trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị yêu cầu sau khi ly hôn con chung sẽ do
anh H trực tiếp nuôi dƣỡng và chị không phải cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng có tài sản chung là quyền sử
dụng đất có diện tích 139,6 m
2
thuộc thửa số 1242, tờ bản đồ số D4.2 tại khu phố T,
phƣờng T, thị xã D, tỉnh B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 178772 do
Sở tài nguyên và môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp cho anh Nguyễn Trung H và chị
Nguyễn Thị Thanh L ngày 06/8/2015.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là quyền
sử dụng đất trên. Nguyên đơn yêu cầu chia đôi và yêu cầu đƣợc nhận ½ giá trị.
3
Đối với các tài sản trên đất bao gồm: 01 nhà tạm (chuồng gia cầm), trị giá
1.425.600 đồng; 01 nhà tạm (chuồng gia cầm), trị giá 615.600 đồng; hàng rào lƣới
B40, trị giá 687.500 đồng; 21 cây chuối lớn, trị giá 882.000 đồng; 10 cây chuối nhỏ,
trị giá 110.000 đồng và 01 cây si có trị giá 60.000 đồng. Tất cả tài sản này là của bà
Đỗ Thị B nên nguyên đơn không tranh chấp.
Về nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 22/6/2018, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh
Nguyễn Trung H trình bày:
Thống nhất phần trình bày của nguyên đơn về thời gian tổ chức lễ cƣới, đăng
ký kết hôn, quá trình chung sống và thời gian ly thân. Về nguyên nhân mâu thuẫn,
vào năm 2015 anh phát hiện chị L có quan hệ bất chính với ngƣời đàn ông khác, anh
có khuyên bảo nhƣng chị L không thay đổi, đồng thời tự ý chuyển về nhà cha mẹ ruột
ở xã T, thành phố B, tỉnh Đ để sinh sống. Vào ngày 31/12/2015 anh đến nơi chị L ở
để khuyên chị L quay về, chị Loan không đồng ý nên hai bên đã xảy ra mâu thuẫn,
trong lúc hai vợ chồng mâu thuẫn thì anh trai của chị L vào căn ngăn dẫn đến anh vô
ý gây thƣơng tích cho anh trai và sau đó hành vi của anh bị Tòa án nhân dân thành
phố B xử về tội cố ý gây thƣơng tích. Vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2016 cho đến
nay, trong khoảng thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Nay anh xác định vẫn còn tình cảm với chị L nhƣng chị L cƣơng quyết ly hôn thì anh
đồng ý.
Về con chung: Thống nhất có 01 con chung nhƣ chị L trình bày. Hiện con
chung đang ở với anh. Anh đồng ý sau ly hôn con chung sẽ do anh trực tiếp nuôi
dƣỡng, không yêu cầu chị L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Thống nhất quá trình chung sống vợ chồng có tài sản chung
nhƣ nguyên đơn đã trình bày. Tuy nhiên, đối với phần tài sản chung này có nguồn
gốc do cha mẹ anh tặng cho vợ chồng với mong muốn hai vợ chồng xây nhà để ở và
sống với nhau hạnh phúc. Nay vợ chồng ly hôn thì anh không đồng ý chia theo yêu
cầu của nguyên đơn. Trƣờng hợp Tòa án chia tài sản chung thì anh yêu cầu đƣợc
nhận hiện vật là quyền sử dụng đất. Đối với các tài sản trên đất là của bà Đỗ Thị B
nên anh không tranh chấp.
Về nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp: Thửa số 1242,
tờ bản đồ số D4.2 tại khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B đƣợc định giá là: Đất ở
đô thị 60m
2
với giá 10.000.000 đồng/m
2
, thành tiền 600.000.000 đồng; đất trồng cây
lâu năm 79,6m
2
với giá 8.000.000 đồng/m
2
, thành tiền 636.800.000 đồng. Tổng giá trị
tài sản tranh chấp: 1.236.800.000 đồng. Các đƣơng sự không có ý kiến gì.
4
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã
chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015. Về nội dung vụ án: Tài sản tranh chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 139,6
m
2
thuộc thửa số 1242, tờ bản đồ số D4.2 tại khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 178772 do Sở tài nguyên và môi
trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp cho anh Nguyễn Trung H và chị Nguyễn Thị Thanh L
ngày 06/8/2015 có nguồn gốc từ việc tặng cho của gia đình nhà chồng, quá trình
chung sống nguyên đơn không có công sức đóng góp hay tôn tạo giữ gìn khối tài sản
chung. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ chấp
nhận một phần nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết và chia cho bị đơn
đƣợc hƣởng phần nhiều hơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét
tại phiên toà, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng nhận định:
[1] Đối với tài sản trên đất bao gồm: 02 nhà tạm (chuồng gia cầm); hàng rào
lƣới B40; 21 cây chuối lớn; 10 cây chuối nhỏ và 01 cây si . Tất cả các tài sản trên là
của bà Đỗ Thị B, tuy nhiên bà Đỗ Thị B không có tranh chấp và từ chối tham gia tố
tụng với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử
không đƣa bà Đỗ Thị B vào tham gia tố tụng trong vụ án với tƣ cách là ngƣời có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Nguyễn Trung H có
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D (nay là phƣờng T, thị xã D), tỉnh
B, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56, quyển số 01, ngày 08/8/2007 nên là hôn nhân
hợp pháp.
Chị Nguyễn Thị Thanh L xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu
thuẫn cụ thể là anh Nguyễn Trung H thƣờng xuyên uống rƣợu dẫn đến đánh đập chị,
cho nên chị đã chuyển về nhà mẹ ruột sinh sống. Trong thời gian chị sinh sống tại
nhà mẹ ruột thì anh H tiếp tục đến quậy phá, đƣợc anh trai chị căn ngăn nhƣng anh H
không dừng lại mà còn dùng dao đâm anh trai chị dẫn đến bị thƣơng tích. Vợ chồng
ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Về phía anh Nguyễn Trung H xác định vợ chồng
phát sinh mâu thuẫn là do chị L có quan hệ bất chính với ngƣời đàn ông khác, rồi bỏ
về nhà mẹ ruột sinh sống không còn quan tâm đến gia đình, sau đó hai bên tiếp tục
xảy ra mâu thuẫn và anh đã vô ý gây thƣơng tích cho anh trai của chị. Vợ chồng
chính thức ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Cả hai anh, chị đều xác định trong
khoảng thời gian ly thân không ai quan tâm, chăm sóc lẫn ai. Từ những mâu thuẫn
trên chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của chị L và anh H không thể kéo dài, mâu thuẫn
5
đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Chị L xin ly hôn và anh H
cũng đồng ý nên có căn cứ công nhận sự thuận tình ly hôn của chị L và anh H qui
định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Nguyễn Trung H có 01
con chung tên Nguyễn Hoàng Lê V, sinh ngày 29/02/2008. Hiện nay con chung đang
sống với anh Nguyễn Trung H. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị
Thanh L yêu cầu sau ly hôn con chung sẽ do anh Nguyễn Trung H trực tiếp nuôi
dƣỡng và chị không phải cấp dƣỡng nuôi con. Anh Nguyễn Trung H đồng ý sau khi
ly hôn anh sẽ trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị L cấp dƣỡng nuôi con, xét đây
là ý chí tự nguyện của anh H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Nguyễn Trung H đều
thừa nhận tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 139,6 m
2
thuộc thửa số 1242, tờ
bản đồ số D4.2 tại khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số CA 178772 do Sở tài nguyên và môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp cho
anh Nguyễn Trung H và chị Nguyễn Thị Thanh L ngày 06/8/2015 có nguồn gốc từ
cha mẹ anh Nguyễn Trung H là ông Nguyễn Thái S và bà Đỗ Thị B tặng cho theo
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/7/2015 tại Văn phòng công chứng Dĩ
An, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Nguyễn Trung H cho rằng việc cha mẹ tặng cho quyền sử
dụng đất trên với mong muốn để hai vợ chồng xây nhà ở và sống với nhau hạnh phúc
nên anh không đồng ý chia là không có cơ sở xem xét. Vì vậy có cơ sở xác định
quyền sử dụng đất tranh chấp trên là tài sản chung của vợ chồng.
Nguyên đơn yêu cầu đƣợc hƣởng ½ tài sản chung và yêu cầu đƣợc nhận giá trị.
Tuy nhiên đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ anh Nguyễn Trung H tặng cho,
tọa lạc đất nằm trong khuôn viên đất của gia đình nhà chồng đang sinh sống, năm
2015 cha mẹ chồng tặng cho quyền sử dụng đất và đƣợc cấp giấy chứng nhận thì đến
năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị Nguyễn Thị Thanh L đã không còn sinh
sống cùng với gia đình nhà chồng, không có công sức quản lý, giữ gìn và tôn tạo khối
tài sản chung nên khi chia tài sản chung cần xem xét đến nguồn gốc và công sức đóng
góp của anh Nguyễn Trung H trong việc gìn giữ khối tài sản chung. Vì vậy, Hội đồng
xét xử chia cho anh Nguyễn Trung H đƣợc hƣởng 70% giá trị tài sản chung và chia
cho chị Nguyễn Thị Thanh L 30% giá trị tài sản chung. Hiện tại anh Nguyễn Trung H
đang trực tiếp nuôi con chung, con chung đang trong độ tuổi đến trƣờng nên cần có
nơi để sinh sống, vì vậy cần giao quyền sử dụng đất trên cho anh Nguyễn Trung H
quản lý sử dụng, đồng thời tại phiên tòa anh H cũng có nguyện vọng đƣợc nhận hiện
vật trong trƣờng hợp Tòa án chia tài sản chung. Anh Nguyễn Trung H có nghĩa vụ
thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thanh L 30% giá trị quyền sử dụng đất.
Chia cho chị Nguyễn Thị Thanh L đƣợc hƣởng số tiền 371.040.000 đồng,
tƣơng đƣơng 30% giá trị quyền sử dụng đất và chia bằng giá trị.
6
Chia cho anh Nguyễn Trung H đƣợc hƣởng số tiền 865.760.000 đồng, tƣơng
đƣơng 70% giá trị quyền sử dụng đất và chia bằng hiện vật.
Đối với các tài sản trên đất do các đƣơng sự không tranh chấp nên Hội đồng
xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D là phù hợp với quy
định pháp luật.
[7] Chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản: Nguyên đơn chị
Nguyễn Thị Thanh L tự nguyện chịu 2.137.072 đồng, đƣợc khấu trừ vào chi phí tạm
ứng đã nộp.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Nguyễn Trung
H phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm
2015; các Điều 33, 38, 55, 58, 59, 62, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh L với anh
Nguyễn Trung H.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thanh
L và anh Nguyễn Trung H (Giấy chứng nhận kết hôn số 56 quyển số 01 do UBND xã
T, huyện D (nay là phƣờng T, thị xã D), tỉnh B cấp ngày 08/8/2007).
- Về con chung: Buộc chị Nguyễn Thị Thanh L giao con chung tên Nguyễn
Hoàng Lê V, sinh ngày 29/02/2008 cho anh Nguyễn Trung H trực tiếp nuôi dƣỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Trung H không yêu cầu chị Nguyễn Thị
Thanh L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Sau ly hôn, chị Nguyễn Thị Thanh L với anh Nguyễn Trung H đều có quyền
chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực
hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có
yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
7
- Về tài sản chung: Phân chia tài sản chung của chị Nguyễn Thị Thanh L và anh
Nguyễn Trung H nhƣ sau:
Chia cho chị Nguyễn Thị Thanh L đƣợc hƣởng số tiền 371.040.000 (ba trăm
bảy mƣơi mốt triệu không trăm bốn mƣơi nghìn) đồng, tƣơng đƣơng 30% giá trị
quyền sử dụng đất, tọa lạc tại khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B.
Chia cho anh Nguyễn Trung H đƣợc hƣởng số tiền 865.760.000 (tám trăm sáu
mƣơi lăm triệu bảy trăm sáu mƣơi nghìn) đồng, tƣơng đƣơng 70% giá trị quyền sử
dụng đất, tọa lạc tại khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B.
Buộc anh Nguyễn Trung H có trách nhiệm thanh toán cho chị Nguyễn Thị
Thanh L số tiền 371.040.000 (ba trăm bảy mƣơi mốt triệu không trăm bốn mƣơi
nghìn) đồng từ tài sản chung.
Chị Nguyễn Thị Thanh L có trách nhiệm giao cho anh Nguyễn Trung H đƣợc
quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 139,6m
2
tọa lạc tại khu phố T, phƣờng
T, thị xã D, tỉnh B (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Anh Nguyễn Trung H đƣợc quyền đăng ký, kê khai để đƣợc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo qui định của Luật đất đai.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành
án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh L tự nguyện chịu 2.137.072 (hai triệu một
trăm ba mƣơi bảy nghìn không trăm bảy mƣơi hai) đồng, đƣợc khấu trừ vào chi phí
tạm ứng đã nộp.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 18.852.000
(mƣời tám triệu tám trăm năm mƣơi hai nghìn) đồng trong đó bao gồm 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 18.552.000 (mƣời tám triệu năm trăm năm mƣơi
hai nghìn) đồng án phí chia tài sản chung đƣợc khấu trừ số tiền 775.000 (bảy trăm
bảy mƣơi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019533
ngày 05/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị
Nguyễn Thị Thanh L còn phải nộp 18.077.000 (mƣời tám triệu không trăm bảy mƣơi
bảy nghìn) đồng. Anh Nguyễn Trung H phải chịu 37.972.800 (ba mƣơi bảy triệu chín
trăm bảy mƣơi hai nghìn tám trăm) đồng án phí chia tài sản chung.
4. Các đƣơng sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án.
8
5. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đƣơng sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thị xã Dĩ An;
- Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Dĩ An;
- TAND tỉnh Bình Dƣơng;
- UBND P. Tân Bình, Tx. Dĩ An, T. Bình Dƣơng;
- Lƣu: Hồ sơ, VP.
Nguyễn Thị Thụy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm