Bản án số 132/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của TAND tỉnh Bình Phước về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 132/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 132/2022/DS-PT ngày 19/12/2022 của TAND tỉnh Bình Phước về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Phước
Số hiệu: 132/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/12/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 132/2022/DS-PT
Ngày: 19 -12 -2022
V/v “Tranh chấp thừa kế tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PỚC
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Ninh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Bình
Ông Phạm Tiến Hiệp
Thư phiên tòa: Hồ Thị Nga - Thư Tòa án nhân n tỉnh Bình
Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên
Trong các ngày 12 và 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai ván dân sthụ số 107/2022/TLPT
ngày 19/10/2022 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2022 của
Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2022/QĐPT-DS ngày 21 tháng
11 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Lữ Thị T, sinh năm 1949; Địa chỉ trú: Tổ 8, Kp Trung
Lợi, thị trấn T, huyện T(nay là phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình
Phước (có mặt)
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của T: Ông ĐHiền N Luật
thuộc Công ty Luật TNHH Nhơn Danh; địa chỉ: 231/96 Dương Trạc,
phường 01, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Bị đơn: Ông Lữ Văn T, sinh năm 1943; Địa chỉ trú: Tổ 8, Kp Trung Lợi,
thị trấn T, huyện T(nay là phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước
(đã chết năm 2020)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Lữ Thị Thu
T1, sinh năm 1972; Địa chỉ trú: 378C, t19, khu 1B, trị trấn B , huyện B, tỉnh
Tiền Giang (có mặt)
2
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời người thừa kế quyền
và nghĩa vụ tố tụng của Ông Lữ Văn T:
-Lữ Thị Thu V, sinh năm 1963; Địa chỉ trú: Tổ 1, khu phố 5, thị trấn
T , huyện T, (nay là phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước (vắng
mặt)
-Bà Lữ Thị Minh H, sinh năm 1965; Địa chỉ cư trú: Tổ 1, khu phố 5, thị trấn
T, huyện T(nay phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước (có
mặt)
-Ông Lữ Minh H, sinh năm 1967; Địa chỉ trú: T6, ấp 2, xã T1, huyện T
(nay là phường Thành Tâm, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước Phước (vắng mặt)
-Lữ Thị H1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ 5, ấp 4, Minh Lập, huyện
Chơn Thành (nay là phường Minh Lập, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước Phước
(vắng mặt)
-Ông Lữ Minh C, sinh năm 1971; Địa chỉ trú: Tổ 2, ấp 5, xã T1, huyện T
(nay là phường Thành Tâm, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước Phước (vắng mặt)
Ông Lữ Minh Q, sinh năm 1973; Địa chỉ trú: Tổ 1, khu phố 5, thị trấn T,
huyện T (nay là phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước (có mặt)
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Ông Lữ Minh Q: Luật
Hoàng Minh Q1 –Văn phòng Luật sư Hoàng Minh Bình Phước; địa chỉ: 491, quốc
lộ 14, Thành phố X, tỉnh Bình Phước (có mặt)
-Lữ Thị H2, sinh năm 1981; Địa chỉ trú: Tổ 5, ấp 4, L , huyện T
(nay là phường Minh Lập, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước (có mặt)
-Lữ Thị C1, sinh năm 1978; Địa chỉ trú: Tổ 3, khu phố 3, thị trấn T,
huyện T(nay phường ng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước (đã chết
ngày 17/6/2022)
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của Lữ Thị C1:
-Ông Trần Văn T2, sinh năm 1972; Địa chỉ trú: Tổ 3, khu phố 3, thị trấn
T, huyện T(nay phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước Phước
(vắng mặt)
-Trần Thị Thanh T3, sinh năm 2001; Địa chỉ cư trú: Tổ 3, khu phố 3, thị trấn
T, huyện T(nay là phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước
-Trần Văn T4, sinh năm 2004; Địa chỉ trú: Tổ 3, khu phố 3, thị trấn T,
huyện T(nay là phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước Phước
(vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Thị Ngọc H3, sinh năm 1973; Địa chỉ trú: Tổ 1, khu phố 5, thị
trấn T, huyện T(nay là phường Hưng Long, TX. Chơn Thành), tỉnh Bình Phước
(vắng mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn Lữ Thị T, người kế thừa quyền, nghĩa vụ
tố tụng của bị đơn Ông Lữ Minh Q.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa - nguyên đơn Lữ
Thị T trình bày:
Cụ ông Lữ Văn C2, sinh năm 1916 (1918), chết năm 1974 cụ Nguyễn
Thị K, sinh năm 1923, chết ngày 15/8/1989 sinh được 03 người con, gồm Lữ
Thị T, Ông Lữ Văn T, ông Lữ Văn K1(chết năm 1972). Ngoài ra, không còn con
ruột, con nuôi nào khác. Ông nội, ngoại của T cũng đã chết rất lâu, không
nhớ năm nào. Khi Cụ ông Lữ Văn C2 cụ Nguyễn Thị K chết không để lại di
chúc, có để lại di sản thừa kế là thửa đất có diện tích 399,5m
2
thuộc thửa đất số 53,
tờ bản đồ số 94 tọa lạc tại khu phố 5, thị trấn T , huyện T, tỉnh Bình Phước, cho
đến khi cụ bà Nguyễn Thị K chết thì thửa đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Khi còn sống thì Ông Lữ Văn T sống chung cùng với cha, mẹ.
Đến năm 2009 thì Ông Lữ Văn T đã khai để cấp Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất này quản lý, sử dụng từ đó cho đến nay.
Sau khi phát hiện, bà T đã làm đơn khiếu nại và UBND huyện Chơn Thành đã ban
hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Ông Lữ
Văn T.
Nay Lữ Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa
kế là thửa đất có diện tích 399,5m
2
thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 94 tọa lạc tại
khu phố 5, thị trấn T , huyện T, tỉnh Bình Phước, T yêu cầu được chia đất
130,72m
2
, trong đó 100m
2
đất thổ (chiều ngang 04m, chiều sâu 32,68m)
trong tổng diện tích đất cha mẹ để lại. Bà T yêu cầu được nhận bằng tài sản.
2. Bị đơn Ông Lữ Văn T trong quá trình giải quyết vụ án không ý kiến
đối với yêu cầu khởi kiện của Bà Lữ Thị T.
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập Lữ Thị
Thu T1 trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa trình bày:
Lữ Thị Thu T1 con của ông Lữ Văn K1, sinh năm: 1946, chết năm
năm 1972 Nguyễn Thị Thu C3, sinh năm 1953. Ông K1 C kết hôn
1972, đến 20/10/1972 thì bà C sinh Lữ Thị Thu T1, khi Ông K1 chết thì chị T2
chưa được sinh ra. Ngoài ra Ông K1 không còn người con nào khác. Ông K1 chết
khi đi lính nên không để lại di chúc. Ông K1chết trước cụ Nguyễn Thị K nên
chị T2 yêu cầu Tòa án giải quyết xác định thửa đất có diện tích 399,5m
2
thuộc thửa
đất số 53, tờ bản đồ số 94 tọa lạc tại khu phố 5, thị trấn T , huyện T, tỉnh Bình
Phước hiện nay do Ông Lữ Văn T đang quản lý, sử dụng là tài sản do ông bà nội là
Cụ ông Lữ Văn C2 cụ Nguyễn Thị K chết để lại yêu cầu chia thừa kế đối
với thửa đất này, yêu cầu nhận 01 phần thừa kế thế vị từ cha ông Lữ Văn K1
yêu cầu nhận bằng giá trị.
4. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời người thừa kế
quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ông Lữ Văn T
4
Lữ Thị Thu V trong quá trình giải quyết vụ án không ý kiến đối
với yêu cầu khởi kiện của Bà Lữ Thị T
Bà Lữ Thị Minh H trình bày tại phiên tòa như sau: H không có ý kiến
gì với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lữ Thị T Bà Lữ Thị Thu T1.
Ông Lữ Minh H trong quá trình giải quyết vụ án không ý kiến đối
với yêu cầu khởi kiện của Bà Lữ Thị T
Lữ Thị H1 trong quá trình giải quyết vụ án không ý kiến đối với
yêu cầu khởi kiện của Bà Lữ Thị T
Ông Lữ Minh C trong quá trình giải quyết vụ án không ý kiến đối
với yêu cầu khởi kiện của Bà Lữ Thị T
Ông Lữ Minh Q trình bày tại phiên tòa như sau: Ông Lữ Minh Q không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Lữ Thị TBà Lữ Thị Thu T1
do thửa đất này là của Ông Lữ Văn T Võ Thị S, khi còn sống thì đã lập di
chúc cho Ông Lữ Minh Q.
Lữ Thị C1 trong quá trình giải quyết vụ án không ý kiến đối với
yêu cầu khởi kiện của Bà Lữ Thị T
Lữ Thị H2 tại phiên tòa trình bày: H không ý kiến với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn Lữ Thị T Bà Lữ Thị Thu T1.
5. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị Ngọc H3 không
có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lữ Thị TBà Lữ Thị Thu
T1.
Tại Bản án dân sự thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lữ Thị T về
việc “Tranh chấp tài sản thừa kế”
Buộc các đồng thừa kế của Ông Lữ Văn T gm: Ông L Minh C, bà Lữ Thị
Kim H4, Ông Lữ Minh H, Bà Lữ Thị H2, Lữ Thị H1, Bà Lữ Thị Thu V, Lữ
Thị C1 (phần của Lữ Thị C1 đã chết giao cho các đồng thừa kế của Chuột
gồm: Ông Trần Văn T2, chị Trần Thị Thanh T3 anh Trần Văn T4) trách
nhiệm liên đới thanh toán cho Bà Lữ Thị T số tiền là 2.652.175.125 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Bà Lữ Thị Thu T1 về việc Tranh chấp tài sản thừa kế”
Buộc các đồng thừa kế của Ông Lữ Văn T gm: Ông L Minh C, bà Lữ Thị
Kim H4, Ông Lữ Minh H, Bà Lữ Thị H2, Lữ Thị H1, Bà Lữ Thị Thu V, Lữ
Thị C1 (phần của Lữ Thị C1 đã chết giao cho các đồng thừa kế của Chuột
gồm: Ông Trần Văn T2, chị Trần Thị Thanh T3 anh Trần Văn T4) trách
nhiệm liên đới thanh toán cho Bà Lữ Thị Thu T1 số tiền là 2.652.175.125 đồng.
3. Giao thửa đất diện tích đất 399,5 m
2
thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số
94 tọa lạc tại khu phố 5, thị trấn T , huyện T, tỉnh Bình Phước cho các đồng thừa
kế của ông T gm: Ông L Minh C, Lữ Thị Kim H4 , Ông Lữ Minh H, Lữ
5
Thị H2, Lữ Thị H1, Lữ Thị Thu V, Lữ Thị C1 (phần của Lữ Thị C1
đã chết giao cho các đồng thừa kế của C gồm: Ông Trần Văn T2, chị Trần Thị
Thanh T3 anh Trần Văn T4) quản lý, sử dụng trách nhiệm liên hệ với
quan Nhà nước thẩm quyền để được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với phần đất đã tuyên giao.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền
kháng cáo.
Ngày 19/8/2022 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Ông Lữ
Minh Q đơn kháng cáo bản án thẩm. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Phước xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Ngày 24/8/2022 nguyên đơn Lữ Thị T đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chia đất cho bà T và chị Lữ Thị Thu T5.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện ý kiến đã trình bày không bổ sung thêm; các đương sự không tự thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn sửa bản án sơ thẩm
theo hướng tuyên buộc các đồng thừa kế thanh toán cho Lữ Thị T ¼ giá trị
quyền sử dụng đất (Không tuyên cụ thể số tiền như bản án sơ thẩm).
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đồng thời người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của Ông
Lữ Văn T đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án từ
khi thụ đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư Tòa án, Hội đồng xét
xử và các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ
luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Bà Lữ Thị T
và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người thừa kế quyền và
nghĩa vụ tố tụng của Ông Lữ Văn T, hủy Bản án sơ thẩm số 18/2022/DS-ST ngày
09 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành để giao về cấp
thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
6
[1] Đơn kháng cáo của Lữ Thị T, Ông Lữ Minh Q làm trong thời hạn
luật định, về hình thức nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan những người
thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng của ông T C vắng mặt, tuy nhiên những
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan những người thừa kế quyền nghĩa vụ
tố tụng của ông T và bà C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại các Điều 227, 228
của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình thu
thập các tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ án tại cấp thẩm còn những thiếu
sót như sau:
[2.1] Về thủ tục tố tụng:
Tại bản án thẩm xác định Lữ Thị Thu V người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan đồng thời là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ông Lữ Văn
T. Tuy nhiên, theo Di chúc ngày 22/5/2022 số công chứng 003738, quyển số
05/TP/CC-SCC/HĐGD của văn phòng công chứng Chơn Thành có xác định Bà Lữ
Thị Thu V hiện đang mắc bệnh tâm thần.
Đồng thời tại phiên tòa, Ông Lữ Minh Q cung cấp các chứng cứ, tài liệu
gồm: Biên bản bàn giao đối tượng bảo trợ xã hội về gia đình thể hiện V bị mắc
bệnh tâm thần (Thuộc diện: Tâm thần lang thang) các đương sự trong vụ án
cũng thừa nhận bà V bị bệnh tâm thần.
Như vậy, việc xác định năng lực hành vi n sự của V đề cử người
giám hộ cho V cần thiết cho việc giải quyết vụ án để đảm bảo quyền lợi
ích hợp pháp cho V nhưng Tòa án cấp thẩm chưa tiến hành các thủ tục cần
thiết để xác định năng lực hành vi dân sự của bà V.
[2.2] Về nội dung:
Đối với việc xác định người được hưởng di sản thừa kế, Tòa án cấp sơ thẩm
xác định Bà Lữ Thị Thu T1 hàng thừa kế thế vị của ông Lữ Văn K1. Tuy nhiên,
theo các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện ông Lữ Văn K1 năm
sinh khác nhau cụ thể: Trích lục bản sao giấy khai sinh của T thể hiện ông Lữ
Văn K1, sinh năm 1950 (BL 73); Bản trích lục bộ Hôn thú thể hiện ông K, sinh
năm 1951(BL 74); Công văn trả lời xác minh thông tin hộ tịch của Ông Lữ Văn T
ngày 12/01/2022 của Công an huyện Chơn Thành thể hiện Ông K1 sinh năm 1946
(BL 262, 263) nhưng chưa được cấp sơ thẩm làm.
Sau khi xét xử thẩm, Ông Lữ Minh Q đơn kháng cáo đồng thời cung
cấp bản Di chúc ngày 22/5/2022 số công chứng 003738, quyển số 05/TP/CC-
SCC/HĐGD của văn phòng công chứng Chơn Thành thể hiện nội dung Ông Lữ
Văn T, Thị S lập di chúc để định đoạt tài sản khi ông T, S qua đời: Ông
7
Lữ Minh Q được hưởng toàn bộ phần tài sản của ông T, bà S để lại. Ngoài Ông Lữ
Minh Q, ông T, bà S không để lại tài sản thừa kế cho bất cứ ai khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm Ông Lữ Minh Q trình bày quá trình giải quyết tại
cấp thẩm ông Q chỉ mặt khi vụ án đưa ra xét xử tại phiên tòa thì ông
trình bày ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của T yêu cầu độc lập
của T thửa đất tranh chấp trên của bố mẹ ông lúc còn sống đã lập di chúc
để lại cho ông Quang. Trong thời gian nghị án ông Q cung cấp bản di chúc cho
Hội đồng xét xử nhưng sau khi xem bản di chúc Tòa án đã trả lại bản di chúc
tuyên án như phần quyết định của Bản án số: 18/2022/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành. Như vậy, lời trình bày của Ông Lữ
Minh Q được thể hiện tại trang 4 Bản án số: 18/2022/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành. Lẽ ra sau khi ý kiến của ông Q
về việc bản di chúc thì Hội đồng xét xử phải tạm ngưng phiên tòa để xác minh
làm rõ có hay không có bản di chúc và yêu cầu ông Q cung cấp bản di chúc để giải
quyết triệt để nội dụng vụ án.
Tuy nhiên cấp thẩm đã tuyên các đồng thừa kế của Ông Lữ Văn T
trách nhiệm liên đới thanh toán cho T và T1 mỗi người số tiền
2.652.175.125 đồng. Trong khi đó tài sản tranh chấp nêu trên đã được giao cho ông
Q thông qua bản Di chúc ngày 22/5/2022 số công chứng 003738, quyển số
05/TP/CC-SCC/HĐGD của văn phòng công chứng Chơn Thành. Như vậy, Tòa án
cấp sơ thẩm tranh chấp nêu trên mà chưa xem xét đến tính pháp lý của bản di chúc
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Những sai sót của Tòa án cấp thẩm cũng ntình tiết mi phát sinh, tại
phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, Hội đồngt xử thấy
cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Lữ Thị T người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Ông Lữ Minh Q, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số
18/2022/DS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chơn
Thành (naythị xã Chơn Thành), chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải
quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự thẩm được xem xét lại khi Tòa án cấp thẩm thụ
lý lại vụ án.
[4] Án phí dân sphúc thẩm: Nguyên đơn Lữ Thị T người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Ông Lữ Minh Q không phải chịu.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham
gia phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án phù hợp nên được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
8
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Bà Lữ Thị T;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của người kế thừa quyền, nghĩa vụ
tố tụng của bị đơn Ông Lữ Minh Q;
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 18/2022/DS-ST ngày 09 tháng 8
năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành (nay thị Chơn Thành),
tỉnh Bình Phước. Chuyển toàn bộ h vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Chơn
Thành (nay thị Chơn Thành), tỉnh Bình Phước giải quyết lại theo thủ tục
thẩm.
2. V án phí dân s sơ thẩm đưc quyết định khi v án được gii quyết li.
3. Án phí dân s phúc thm: Nguyên đơn L Th T người kế tha
quyền, nghĩa vụ t tng ca b đơn Ông L Minh Q không phi chu.
Hoàn tr li cho Ông L Minh Q s tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) đã np theo biên lai thu tm ng án phí, l phí Tòa án s 0011932 ngày 30
tháng 9 năm 2022 ca Chi cc Thi hành án dân s huyện Chơn Thành (nay th
xã Chơn Thành), tỉnh Bình Phước.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Phước;
- TAND, VKSND thị xã Chơn Thành;
- Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Quang Ninh
Tải về
Bản án số 132/2022/DS-PT Bản án số 132/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất