Bản án số 132/2021/HNGĐ-ST ngày 22/08/2021 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 132/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 132/2021/HNGĐ-ST ngày 22/08/2021 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 132/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/08/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngần Thị T - Trần Văn B - ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 132/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22/8/2021
V/v: Ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Ông Nguyễn Việt Hòa.
- Thư phiên tòa: Ông Trần Hải Minh - TTòa án nhân dân tỉnh
Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4
năm 2021 v Ly n, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thẩm số
128/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên
tòa số 107/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngần Thị T, sinh năm 1993.
Đa ch: Huyn M, tỉnh n La.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn B, sinh năm 1988.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ hiện tại: Đài Loan (Trung Quốc).
3. Người làm chứng: Ông Trn Văn T1, địa chỉ: Phường V, thành phố C,
tnh Hi Dương.
Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt. (Chị T đơn xin xét xử
vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án, chị Ngần Thị T trình bày: Chị anh Trần Văn B được tự do
tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 05 tháng 10 năm 2017 tại UBND Phường
V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Sau khi chung sống với nhau được một thời gian
thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh B thường xuyên
uống rượu bia, không chịu khó làm ăn, mặc đã được hai bên gia đình khuyên
2
nhủ nhưng anh B vẫn không thay đổi. Đến m 2018, anh B đi xuất khẩu lao động
tại Đài Loan. Từ khi đi nước ngoài, anh B không quan tâm, ít khi liên lạc với chị
T. Vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng ngày
càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mc đích hôn nhân không đạt
được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn B. Chị T không
biết được địa chỉ chính xác của anh B vì anh B không nói cho chT biết. Chị T
hỏi địa chỉ của anh B qua gia đình bn nhưng không ai nói cho chị T biết
nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị T, anh B không con chung
nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình: Chị T không
đề nghị Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Trần Văn T1 bố đẻ của anh Trần
Văn B. Tại các biên bản lấy lời khai ngày 21/4/2021 và 16/6/2021, Ông T1 trình
bày: Anh B và chị T được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 05 tháng
10 năm 2017 tại UBND Phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện nay, anh
B đang lao động tại Đài Loan. Anh B đã được ông thông báo các nội dung văn
bản tố tụng của Tòa án gửi. Anh B thông tin xác định tình cảm vợ chồng không
còn nên đồng ý ly hôn chị T. Do anh B không cung cấp địa chỉ cụ thể ở Đài Loan
và bản thân ông cũng không nắm được nên ông không thể cung cấp cho Tòa án.
Theo thông tin do Cục Quản xuất nhập cảnh cung cấp tại Công văn số
10969/QLXNC-P5 ngày 10/5/2021 thể hiện: Anh Trần Văn B, sinh ngày
17/06/1988 tại Hải Dương, CMND số: 142558496, địa chỉ thường trú tại: V, thành
phố C, tỉnh Hải Dương; đã sử dụng hộ chiếu số C5520572 để xuất cảnh lần cuối
ngày 05/8/2018 qua cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bị đơn đều vắng mặt (Chị T đơn xin xét
xử vắng mặt).
Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Việc tuân theo pháp luật
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư phiên tòa và nguyên đơn bản đã chấp
hành đúng quy đnh của Bộ lut t tụng dân s. V quan đim gii quyết:
Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị T anh B đã trầm
trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T được ly hôn anh B. Về án phí, chị T phải
chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồvụ án ý kiến của đại diện
Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về ttụng: Chị Ngần Thị T đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với
anh Trần Văn B, người Việt Nam hộ khẩu thường ttại tỉnh Hải Dương,
3
hiện đang sinh sống tại Đài Loan, Trung Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều
28, Điều 37, Điều 39, Điều 464 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ
lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa, chị T vắng mặt đơn đề nghxét xử vắng mặt, anh B
vắng mặt lần thứ hai, căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự,
HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định. Tòa án xác định đây trường hợp
bị đơn cố tình giấu địa chỉ, vậy Tòa án tiến hành xét xvắng mặt bị đơn theo
Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao
hướng dẫn giải quyết ván ly hôn bị đơn người Việt Nam nước ngoài
nhưng không rõ địa chỉ.
[2] Về quan hhôn nhân: Chị T và anh B được tự do tìm hiểu tự nguyện
kết hôn vào ngày 05 tháng 10 năm 2017 tại UBND Phường V, thành phố C, tỉnh
Hải Dương. Sau khi chung sống với nhau được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không tìm được tiếng nói
chung, bất đồng về quan điểm sống. Đến năm 2018, anh B đi xuất khẩu lao động
tại Đài Loan. Từ đó, vợ chồng không quan tâm, chăm c, chia sẻ với nhau, ly
thân từ đó đến nay. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án
giải quyết cho chị được ly hôn với anh B. HĐXX xét thấy hôn nhân của chị T
anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn
nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị T ly hôn với anh B phù hợp
quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ nuôi con chung: Vợ chồng chị T anh B không con
chung nên không phải giải quyết.
[4] Về quan htài sản chung: Chị Tanh B không yêu cầu giải quyết nên
HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn thẩm theo quy định tại khoản
4 Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân Gia đình;
khoản 1 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều
147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 464 Điều 479 Bộ luật tố
tụng n sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngần Thị T.
Xử cho chị Ngần Thị T ly hôn anh Trần Văn B.
4
2. Về án phí: Chị Ngần Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án
phí sơ thẩm dân sự (Hôn nhân và gia đình), đối trừ với 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án n sự tỉnh Hải Dương, theo
biên lai thu số AA/2018/0005845 ngày 13/4/2021. Chị T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày; anh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận
được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Cục THADS tỉnh Hải Dương;
- UBND Phường V, thành ph C;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, Lưu Tòa.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa
Vũ Thanh Tuấn
Tải về
Bản án số 132/2021/HNGĐ-ST Bản án số 132/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất