Bản án số 13/2024/DS-PT ngày 10/06/2024 của TAND tỉnh Tây Ninh về yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 13/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 13/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 13/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 13/2024/DS-PT ngày 10/06/2024 của TAND tỉnh Tây Ninh về yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 13/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Anh và chị Lê Thị Mộng T là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự. Tuy nhiên, sau khi ly hôn chị T thường xuyên bỏ bê, không chăm nom và chăm sóc đầy đủ cho cháu N, khiến cho cháu N ngày càng ốm yếu, không phát triển được về mặt thể chất nên sau khi thăm con thì anh có thông báo cho chị T biết và rước cháu N về sinh sống với anh từ ngày 18-9-2022. Hiện nay, anh đang đi làm cho Công ty Trách nhiệm Hữu hạn D tại Số A, Đường C, Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, mỗi tháng thu nhập ổn định 10.500.000 đồng và có nhiều thời gian giành cho con. Đồng thời, cháu N đang học Trường mầm Non V tại Số G, Đường L, Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (gần nhà anh P) và sinh sống ổn định với gia đình anh P từ khi sinh ra đến ngày 07-02-2024 (ngày 28 tết Giáp Thìn năm 2024), chị T xin rước cháu N đi sắm đồ Tết và không giao cháu N lại cho anh P. Nay anh P khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, anh yêu cầu Tòa án giao cháu N cho anh được nuôi dưỡng không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 13/2024/DS-PT
Ngày 10-6-2024
V/v “Tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con chung”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đỗ Văn Thinh
Các Thẩm phán: ông Trần Thanh Tòng
ông Phạm Văn Tâm
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà
Nguyễn Thị Bé Thi, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 10/2024/TLPT-HNGĐ
ngày 24 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp thay đổi người nuôi con chung”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 10/2024/DS-ST ngày 15 tháng 3
năm 2024, của Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2024/QĐ-HNGĐ ngày
15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Hoài P, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số A, Hẻm S,
đường Đ, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Thị H, là
Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).
2. Bị đơn: Chị Lê Thị Mộng T, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T,
huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Quang M và Luật sự Nguyễn Xuân T1, Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư T3, có
mặt.
3. Người kháng cáo: Bị đơn – chị Lê Thị Mộng T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27-12-2023; lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn là anh Trần Hoài P trình bày:
Anh và chị Lê Thị Mộng T là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo Quyết định
Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 50/2022/QĐST-
HNGĐ, ngày 18-7-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Theo Quyết định trên, Tòa án giao cho chị T trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục cháu Trần Nhật Phương N, sinh ngày 10-5-2021 là con chung của
anh chị; anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian
cấp dưỡng tính từ tháng 8-2022 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Tuy nhiên, sau khi ly hôn chị T thường xuyên bỏ bê, không chăm nom và
chăm sóc đầy đủ cho cháu N, khiến cho cháu N ngày càng ốm yếu, không phát
triển được về mặt thể chất nên sau khi thăm con thì anh có thông báo cho chị T biết
và rước cháu N về sinh sống với anh từ ngày 18-9-2022. Hiện nay, anh đang đi làm
cho Công ty Trách nhiệm Hữu hạn D tại Số A, Đường C, Khu phố D, Phường C,
thành phố T, tỉnh Tây Ninh, mỗi tháng thu nhập ổn định 10.500.000 đồng và có
nhiều thời gian giành cho con. Đồng thời, cháu N đang học Trường mầm Non V tại
Số G, Đường L, Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (gần nhà anh P) và
sinh sống ổn định với gia đình anh P từ khi sinh ra đến ngày 07-02-2024 (ngày 28
tết Giáp Thìn năm 2024), chị T xin rước cháu N đi sắm đồ Tết và không giao cháu
N lại cho anh P. Nay anh P khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con,
anh yêu cầu Tòa án giao cháu N cho anh được nuôi dưỡng không yêu cầu chị T
cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn chị Lê Thị Mộng T trình bày: Chị thống nhất theo lời trình bày của
anh P về việc chị và anh P đã có Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn ngày 18-
7-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Sau khi ly hôn,
chị về nhà mẹ ruột tại Tổ C, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh sinh sống làm
nghề cạo mủ cao su. Chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Chị T chỉ đưa cháu
N về thăm ông bà nội mỗi tháng khoảng 03 lần, mỗi lần không quá 10 ngày. Gia
đình anh P đăng ký cho cháu N đi học như thế nào chị không rõ. Từ ngày 07-02-
2024, chị rước cháu N sắm đồ Tết và không giao cháu N lại cho anh P vì chị là
người trực tiếp nuôi dưỡng. Khi Tòa án có thẩm quyền chấp nhận thay đổi người
nuôi con thì chị sẽ giao cháu N lại cho anh P. Chị T không đồng ý yêu cầu khởi
kiện của anh P vì sau khi ly hôn, anh P không cấp dưỡng nuôi con; anh P có ý định
đưa cháu N đi nước ngoài và anh P đã từng bạo lực với chị nên chị lo sợ anh P sẽ
đánh đập cháu N.
Tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 10/2024/DS-ST ngày 15 tháng
3 năm 2024, của Toà án nhân huyện TC, tỉnh Tây Ninh quyết định:
Căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84, 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các
Điều 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Án lệ số 54/2024/AL được công bố ngày
14-10-2022; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Hoài P về việc “Tranh chấp về
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” đối với chị Lê Thị Mộng T.
Buộc chị Lê Thị Mộng T giao cháu Trần Nhật Phương N, sinh ngày 10-5-
2021 cho anh Trần Hoài P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận, anh Trần Hoài P không yêu cầu chị Lê Thị Mộng T cấp dưỡng nuôi con.
Chị Lê Thị Mộng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ thi
hành án, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 18/3/2024 chị T kháng cáo không đồng ý giao con cho anh P nuôi
dưỡng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và cung cấp bản sao hợp đồng lao
động giữa chị và doanh nghiệp S, hợp đồng có hiệu lực từ ngày 15/02/2024.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T cho rằng: việc Tòa án
cấp sơ thẩm xác định anh P trực tiếp nuô cháu N từ tháng 9/2022 là không chính
xác, vì tháng 1/2023 chị T có đưa con đi khám bệnh; không đưa Công ty D nơi anh
P làm việc tham gia tố tụng để xác định anh P có làm tại Công ty hay không, mức
lương bao nhiêu là chưa điều tra đầy đủ; nên đề nghị hủy án để xét xử sơ thẩm lại
hoặc sửa án chấp nhận kháng cáo của chị T.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh P cho rằng: việc anh P
nuôi con từ tháng 9/2022 thể hiện qua lời trình bày của chị T, sự xác nhận của Ban
Q nơi anh P sống.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia
tố tụng đã chấp hành đúng những quy định pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo chị T; giữ nguyên bản án
hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên
tòa, và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
xét thấy:
[1] Đơn kháng cáo của chị T là bị đơn làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên
được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy: ngày 18-7-2022 theo
sự thỏa thuận của chị T và anh P khi ly hôn sẽ giao con chung là cháu N cho chị T
trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tuy nhiên, sau khi chị T nuôi cháu N được 02
tháng, đến ngày 18-9-2022, trên cơ sở đồng thuận của chị T, anh P đã trực tiếp
nuôi cháu N, đưa cháu đi học và tạo điều kiện cho chị T thăm nom con chung. Đến
ngày 07-02-2024 khi chị T rước cháu N nói là đi sắm đồ Tết thì không đưa cháu N
quay lại nhà anh P, không đưa cháu đi học tại T2 mần non nơi cháu đang học và
cũng không cho anh P thăm con đến nay.
[3] Việc anh P trực tiếp nuôi cháu N, cho cháu N cùng sống chung với gia
đình ông bà nội của cháu, là nơi từ khi sinh ra cháu đã sống và quen với môi
trường sinh hoạt; được đưa đi học, chữa trị kịp thời mỗi khi đau ốm là để bảo đảm
cho sự phát triển bình thường của cháu, thể hiện trách nhiệm của người cha đối với
con trẻ. Các tài liệu, chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm thu thập tại Trường M1, chứng
từ khám bệnh và chính quyền cơ sở nơi anh P cư trú thể hiện anh P là người trực
tiếp nuôi cháu N từ tháng 9/2022 đến tháng 02/2024. Chị T cho rằng, hàng tháng
có đưa cháu N thăm ông bà nội 3 lần, mỗi lần khoảng 10 ngày. Lời trình bày của
chị T mặc dù không phù hợp với thực tế nhưng cũng thể hiện là cháu N hàng tháng
ở với anh P.
[4] Hơn nữa, anh P có nghề nghiệp và thu nhập ổn định tại nơi cư trú; chị T là
lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định; chị T cũng không có
nơi ở cố định. Chị T đăng ký cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi
ly hôn với anh P thì chị T về sinh sống và cạo mủ cao su cùng mẹ ruột và cha
dượng tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tại phiên tòa phúc thẩm chị khai
hiện đang sống tại xã B, huyện B, Tp Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, kết quả xác minh
của Tòa án cấp sơ thẩm đã thể hiện chị T không sống và làm việc tại ấp H, xã H,
huyện T, tỉnh Tây Ninh và hiện tại cũng không biết chính xác chị T ở tại địa chỉ
nào.
Ngày 07/6/2024 chị T gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm bản sao Hợp đồng lao
động giữa chị và Công ty TNHH MTV D1 có trụ sở tại xã B, huyện B, tp Hồ Chí
Minh với công việc làm lễ tân khách sạn. Tuy nhiên, hợp đồng có thời hạn từ ngày
15/02/2024, tức là ký trước đó, trong khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vào ngày
15/3/2024, nhưng chị không khai có làm tại nơi này và cũng không cung cấp
chứng cứ nào thể hiện có việc làm; tại phiên tòa sơ thẩm chị T khai đang cùng mẹ
ruột cạo mủ cao su tại xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; đến nay chị T mới cung cấp
hợp đồng lao động nên không đủ tin cậy độ chính xác và tin cậy thông tin do chị T
cung cấp.
[5] Mặt khác, thực tế chứng minh một mình anh P có thời gian dài nuôi dưỡng
cháu N từ khi hơn 01 tuổi, anh P nuôi cháu N tốt hơn chị T ngay trong thời gian
Tòa án đã giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi, thời gian sau khi ly hôn chị T chỉ
trực tiếp nuôi cháu N được khoảng 02 tháng, còn lại là anh P trực tiếp nuôi dưỡng.
Việc chị T đem con đi nơi khác, không cho anh P thăm cũng như không thông tin
cho anh P biết nơi cư trú của mình để anh P thăm con là vi phạm quy định tại Điều
83 của Luật Hôn nhân và gia đình, trong khi đó thời gian anh P nuôi dưỡng cháu N
thì anh P tạo điều kiện cho chị T thăm con.
[6] Tại thời điểm xét xử sơ thẩm cháu N chưa đủ 36 tháng tuổi, nếu chị T nuôi
dưỡng cháu N bình thường thì phải giao cháu N cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng;
nhưng do chị T không đủ điều kiện nuôi dưỡng; sau khi ly hôn chủ yếu do anh P
trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nên Tòa án cấp sơ thẩm áp Án lệ số 54/2024/AL
được công bố ngày 14-10-2022 là phù hợp với thực tế và khoản 3 Điều 81 của
Luật Hôn nhân và gia đình. Đến thời điểm xét xử phúc thẩm cháu N đã trên 03
tuổi.
[7] Về lời trình bày của người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho chị T, Hội đồng
xét xử nhận thấy: Việc anh P trực tiếp nuôi con từ tháng 9/2022 được hính chị T
thừa nhận trong các lời khai của mình và tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại cấp
phúc thẩm, được cơ sở giáo dục nơi cháu N, nơi trị bệnh và chính quyền nơi cư trú
xác nhận. Các chứng cứ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập là khách
quan, đầy đủ và hợp pháp, nên cấp phúc thẩm không phải thu thập thêm.
Với các lý do nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ
thẩm giao cháu N cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, kháng cáo của chị T
không có cơ sở chấp nhận, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ,
nên giữa nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên chị
T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Những phần của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Mộng T; giữ nguyên
bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình; Án lệ số
54/2024/AL được công bố ngày 14-10-2022; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Hoài P về việc “Tranh chấp
về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” đối với chị Lê Thị Mộng T.
Anh Trần Hoài P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
cháu Trần Nhật Phương N, sinh ngày 10-5-2021.
Buộc chị Lê Thị Mộng T giao cháu Trần Nhật Phương N, sinh ngày 10-5-
2021 cho anh Trần Hoài P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận, anh Trần Hoài P không yêu cầu chị Lê Thị Mộng T cấp dưỡng nuôi con.
Chị Lê Thị Mộng T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản
trở.
1.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Lê Thị Mộng T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- Anh Trần Hoài P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho
anh Trần Hoài P 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo
biên lai thu số 0005726, ngày 27-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
TC, tỉnh Tây Ninh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: chị Lê Thị Mộng T phải chịu 300.000 đồng, được
khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí kháng cáo chị T đã nộp theo biên lai thu số
0006005, ngày 18/3/2024; của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Tây
Ninh. Chị T đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
3. Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Tây Ninh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND huyện TC;
- Chi cục THADS huyện TC;
- Phòng Kiểm tra nghiệp vụ; (đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu tập án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đỗ Văn Thinh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng