Bản án số 125/2019/HNGĐ-ST ngày 20/09/2019 của TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 125/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 125/2019/HNGĐ-ST ngày 20/09/2019 của TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Giồng Trôm (TAND tỉnh Bến Tre)
Số hiệu: 125/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/09/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Thị Tuyết D yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T. Về con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN GIỒNG TRÔM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 125/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20-9-2019
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Giang
Các Hội thẩm nhận dân:
1. Ông Đỗ Thanh Tuyến
2. Bà Phạm Thị Thu Trang
- Thư phiên tòa: Ông Trần Thành Ngọc Thư Tòa án nhân n
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa:
Huỳnh Thị Duyên Em Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở a án nhân dân huyện Giồng Trôm,
tỉnh Bến Tre t xử thẩm công khai vụ án thụ số: 252/2019/TLST-HNGĐ
ngày 05 tháng 7 năm 2019 về ly hôn tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 268/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019, giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ch Phan Th Tuyết D, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Chị D có yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 27/7/2019.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Phan Thị Tuyết D trình
bày: Vào năm 2005, chị anh Trần Văn T quen nhau, được sự đồng ý của gia
đình anh chị tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân
T, huyện G, tỉnh Bến Tre đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày
24/8/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian
đầu. Về sau vchồng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm
trong cuộc sống, mâu thuẩn ngày càng gay gắt không còn hàn gắn được nửa. Vào
2
năm 2015 chị nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại tòa nhưng sau đó chị đã rút đơn
kiện đvợ chồng hàn gắn chăm lo cho con nhưng đến nay không kết quả. Chị
anh T đã sống ly thân tđầu năm 2019 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ
chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị anh T 02 con chung Trần Thanh S, sinh ngày
06/12/2005 và Trần Gia H, sinh ngày 26/01/2012. Hiện nay, cháu S đang sống với
anh T, cháu H đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H và
anh T nuôi dưỡng cháu S. Chị và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không tranh chấp nên không yêu cầu
tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Trần Văn T đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản ttụng
mời anh T đến tòa tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công
khai chứng cứ, hòa giải dự phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng anh T vẫn vắng mặt
không có do nên không lời khai cũng như không ý kiến phản đối đối với
yêu cầu khởi kiện của chị D.
Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký: Thực
hiện đúng quy đnh của B luật T tng Dân s. Vic chp hành pháp luật ca ni
tham gia ttng: Nguyên đơn chD đã thực hiện đầy đquyn và nga v theo quy
định tại Điều 70, 71 của B lut Ttụng Dân s. Bđơn anh T không thực hiện đúng
quy đnh ti Điều 70, 72 của B lut Ttụng n s.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D đối
với anh T về việc xin ly hôn. Về con chung: Giao cháu Trần Gia H cho chị D tiếp
tục nuôi dưỡng và giao cháu Trần Thanh S cho anh T nuôi dưỡng. Chị Danh T
không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ
chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phan Thị Tuyết D yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con
với anh Trần Văn T; địa chỉ: Ấp A, T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Theo xác nhận
của Công an T, huyện G thể hiện anh T đăng thường trú hiện đang
sinh sống tại địa chỉ nêu trên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35
điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn chị Phan Thị
Tuyết D đơn yêu cầu tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Trần Văn T đã
3
được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại tòa không
do. Do đó, tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh T phù hợp với quy định
ti Điu 228 của Blut Ttng Dân s.
[2] Về nội dung: Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt tại tòa không có lý do thì xem như anh T đã tự tước bỏ quyền
được chứng minh, trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị D
phải chịu hậu quả pháp của việc vắng mặt đó. Do đó, Hội đồng xét xử chấp
nhận lời khai và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cũng như các chứng cứ
đã thu thập được để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
[2.1] Về hôn nhân: Theo chị D trình bày thì chị anh T kết hôn vào năm
2005 trên cơ sở tự nguyện, đến năm 2007 đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân
T, huyện G đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/8/2007 nên được
công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng
chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Về sau vợ chồng phát sinh mâu
thuẩn nên không còn hạnh phúc nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc
sống, anh T đi uống rượu về ghen tuông, đánh đập chị. Vào năm 2015, chị đã nộp
đơn xin ly hôn tại tòa, sau đó chị đã rút đơn khởi kiện. Chị anh T đã sống ly
thân từ tháng 02/2019 đến nay. Xét thấy, chD đã một lần xin ly hôn đã rút đơn
khởi kiện nhưng đến nay chlại tiếp tục khởi kiện xin ly hôn với anh T đã chứng
tỏ mâu thuẩn trong quan hệ vợ chồng của anh chị không còn hàn gắng được nữa.
Ngoài ra, theo xác minh tại địa phương thì vợ chồng chị Danh T có thường lớn
tiếng, cự cãi lẫn lẫn nhau. Hơn nữa, hiện nay chị D anh T không còn chung
sống với nhau, vợ chồng đã ly thân. Như vậy, đủ căn cứ để xác định quan hệ
hôn nhân giữa chị D anh T đã mâu thuẩn trầm trọng, vợ chồng không còn tình
cảm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích
hôn nhân không đạt được. vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân gia
đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh T là p
hợp.
[2.2] Về con chung: Theo trình bày của chị D hồ vụ án thể hiện chị D
anh T 02 con chung cháu Trần Thanh S, sinh ngày 06/12/2005 Trần
Gia H, sinh ngày 26/01/2012. ChD yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H anh T
nuôi dưỡng cháu S. Xét thấy, cháu S hiện nay đang sống với anh T, cháu H đang
sống với chị D. Để đảm bảo quyền lợi ích về mọi mặt của con chung, đảm bảo
sự phát triển bình thường tránh làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của các cháu.
Đồng thời nguyện vọng của cháu S muốn được sống với anh T và cháu H
muốn được sống với chị D. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D
giao cháu S cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng giao cháu H cho chị D tiếp tục nuôi
dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại Điều 82, 83 của Luật
n nhân gia đình thì chị D quyền yêu cầu anh T nghĩa vụ cấp dưỡng
4
nuôi con và ngược lại. Tuy nhiên, chị D anh T mỗi người nuôi dưỡng 01 con
chung nên chị D yêu cầu hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau phù
hợp được chấp nhận. Đối với anh T vắng mặt không yêu cầu nên Hội đồng
t xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Chị D khai tự thỏa thuận, không tranh chấp nên
Tòa án không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Chị D trình bày không có nên Tòa
án không xem xét giải quyết. Đối với anh T vắng mặt không có ý kiến nên Tòa án
không xem xét giải quyết. Nếu sau này các bên đương sự tranh chấp về tài sản
chung và nợ chung sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác.
[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị D phải chịu 300.000 đồng nhưng được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng
Trôm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Các
Điều 147, khoản 3 Điều 228, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của
Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị
Tuyết D đối với bị đơn anh Trần Văn T.
Chị Phan Thị Tuyết D được ly hôn với anh Trần Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thanh S, sinh ngày 06/12/2005 cho anh
Trần Văn T giao cháu Trần Gia H, sinh ngày 26/01/2012 cho chị Phan Thị
Tuyết D trực tiếp trông nôm, chăm c, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D anh T
không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Chị D, anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung, không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con một
hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức
cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp yêu cầu của cha, mẹ hoặc của nhân, tổ chức được
quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết
định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị D khai tự thỏa thuận, không có tranh chấp nên Hội
đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5
4. Về nợ chung: Chị D khai không n Hội đồng xét xử không xem xét
giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân thẩm: Chị Phan Thị Tuyết D phải chịu 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D
đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án
số: 0004269 ngày 03/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến
Tre.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự quyền kháng cáo, Viện kiểm
sát cùng cấp quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
Tòa án tuyên án. Riêng đương svắng mặt được quyền kháng cáo bản án này
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được
thông báo, niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Giồng Trôm; (Đã ký)
- Chi cục THADS huyện G;
- TAND tỉnh Bến Tre;
- UBND xã T, huyện G;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Khắc Giang
Tải về
Bản án số 125/2019/HNGĐ-ST Bản án số 125/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất