Bản án số 125/2017/HNGĐ-ST ngày 25/09/2017 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 125/2017/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 125/2017/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 125/2017/HNGĐ-ST ngày 25/09/2017 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Chánh (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 125/2017/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Vụ án ly hôn VÕ THỊ MỸ D - TRẦN SƠN L |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 125/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 25-9-2017
V/v tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dƣơng Thị Kim Hoa
2. Bà Trần Thị Đúng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân
dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên
tòa: Ông Phạm Tấn Hải – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 19 tháng 9 năm 2017 và ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại
phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ
án hôn nhân và gia đình thụ lý số 67/2017/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm
2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
342/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 ngày 8 tháng 2017 và Quyết định tạm
ngừng phiên tòa số 10/2017/QĐST-HNGĐ ngày 19 ngày 9 tháng 2017 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ D, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: Đường số 8, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Trần Sơn L, sinh năm: 1986;
Địa chỉ: B12/6B6 ấp 2, xã C, huyện D, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà D, ông L có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 12/10/2016, bản tự khai ngày 01/3/2017 và tại
phiên tòa nguyên đơn Bà Võ Thị Mỹ D trình bày:
2
Bà và Ông Trần Sơn L bắt đầu chung sống với nhau từ ngày 09/7/2011,
do tự tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí
Minh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì phát
sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, bà
phát hiện ông L còn quan hệ với người yêu cũ, ông L đánh bà và đập phá đồ đạc
trong nhà. Bà và ông L đã sống ly thân với nhau từ tháng 5/2016 cho đến nay.
Nay xét thấy không còn tình cảm, vợ chồng không thể hàn gắn với ông L nên bà
yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà và ông L có một con chung tên Trần Chấn H, sinh ngày
26/10/2013, hiện nay trẻ H đang sống chung với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được
trực tiếp nuôi dưỡng trẻ H. Thực tế chi phí nuôi trẻ Hưng bao gồm các khoản
sau:
- Học phí: 1.500.000 đồng/tháng;
- Sữa, chi phí ăn uống: 1.500.000 đồng/tháng;
- Chi phí quần áo, sinh hoạt tinh thần: 2.000.000 đồng/tháng.
Bà yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi trẻ H 5.000.000 đồng/tháng. Trong
trường hợp Tòa án giao con cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng thì bà sẽ cấp dưỡng
nuôi con nếu ông L có yêu cầu.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Về nợ chung: Bà xác nhận không có.
Ngoài ra, bà không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Tại bản tự khai ngày 03/4/2017 và tại phiên tòa bị đơn Ông Trần Sơn L
trình bày:
Ông và bà Võ Thị Mỹ D bắt đầu chung sống với nhau vào ngày 09/7/2011
do tự tìm hiểu đến với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu vợ chồng
chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 4/2016 thì ông phát hiện các tin nhắn
và cuộc gọi của một người đàn ông là phụ huynh của học sinh bà D (bà D là
giáo viên mầm non) nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Trong lúc cãi nhau do
tức giận không kiềm chế được nên ông có đánh bà D nhưng không gây thương
tích. Ông nhiều lần đề nghị với bà D hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng bà D
không muốn hòa giải nên tại phiên tòa ông đồng ý ly hôn với bà D.
Về con chung: Ông và bà D có một con chung tên Trần Chấn H, sinh
ngày 26/10/2013, hiện nay trẻ H đang sống chung với bà D. Khi ly hôn ông yêu
cầu được nuôi trẻ H, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp
Tòa án giao trẻ H cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng thì ông không cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.Về nợ chung: Ông xác nhận không có.
Ngoài ra, ông không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biếu ý kiến về
việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể
từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý
kiến giải quyết vụ án về nội dung như sau:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự; căn cứ Điều 8, 9, 51, 56, 81 và 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
- Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Mỹ D
với ông Trần Sơn L
- Về con chung: Hiện nay trẻ Hđang sống cùng bà D, trẻ H còn nhỏ, cần
sự chăm sóc của mẹ. Bà D hiện đang là giáo viên mầm non nên có đủ điều kiện
chăm sóc trẻ H nên đề nghị Hội đồng xét xử giao trẻ Trần Chấn H, sinh ngày
26/10/2013 cho Bà Võ Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng. Xét điều kiện kinh tế của
ông L và các chi phí thực tế nuôi con, buộc ông L cấp dưỡng nuôi trẻ H
2.500.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận các đương sự không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[2] Bà Võ Thị Mỹ D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Sơn L.
Ông L có nơi cư trú tại huyện D nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành
phố Hồ Chí Minh.
[3] Về quan hệ vợ chồng: Bà Võ Thị Mỹ D và ông Trần Sơn L chung
sống có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành
phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 113 quyển số 01/2011 ngày
13/6/2011. Do đó, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông L là
hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014.
[4] Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo
lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho
hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt được.”
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà D và ông L trình bày ông và bà
chung sống thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, không thông cảm và chia sẻ nhau trong
4
cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần để bà
D và ông L đoàn tụ nhưng không thành. Tại phiên tòa, ông L cũng đồng ý ly
hôn với bà D. Điều này chứng tỏ giữa bà D và ông L đã không còn tình cảm với
nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý
nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D và ông L.
[6] Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trần Chấn H, sinh ngày
26/10/2013.
[7] Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên
sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết
định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của
con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
[8] Theo xác nhận của trường mầm non TT, quận B, Thành phố Hồ
Chí Minh thì Bà Võ Thị Mỹ D hiện đang là giáo viên của trường và trẻ Trần
Chấn H hiện đang là học sinh lớp 4-5 tuổi của trường. Tại phiên tòa, bà D và
ông L đều xác nhận hiện nay trẻ H đang do bà D chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó,
nhằm bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho trẻ H, Hội đồng xét xử quyết định giao
trẻ Trần Chấn H cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trẻ H trưởng thành
hoặc khi ông L có yêu cầu khác.
[9] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con
chung là trách nhiệm nghĩa vụ của cả bà D và ông L. Để đảm bảo quyền lợi ích
hợp pháp cho cháu Trần Chấn H có cuộc sống đảm bảo cũng như phát triển bình
thường. Hội đồng xét xử cần xem xét đến điều kiện kinh tế của mỗi người để áp
dụng mức cấp dưỡng cho phù hợp với thực tế.
[10] Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Sau khi ly
hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con chưa thành niên,…”.
[11] Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ
không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”
[12] Đối với đề nghị của ông L không đồng ý cấp dưỡng, Hội đồng xét
xử nhận thấy hiện nay bà D phải nuôi con nhỏ những điều kiện tối thiểu như bà
trình bày bao gồm tiền học phí, tiền sữa, quần áo và tinh thần với tổng chi phí là
5.000.000 đồng thì việc ông L không cấp dưỡng nuôi con không thể đảm bảo
cho cháu Trần Chấn H. Theo tài liệu chứng cứ ông L cung cấp thì lương tháng
của ông là 17.000.000 đồng/tháng, nếu buộc ông L phải chu cấp 5.000.000
đồng/ tháng sẽ không đảm bảo sinh hoạt của ông L. Do đó không chấp nhận đề
nghị cấp dưỡng của bà D. Hội đồng xét xử căn cứ vào chi phí thực tế nuôi con
của bà D cũng như áp dụng mức lương tối thiểu vùng tại Thành phố Hồ Chí
Minh để xác định mức cấp dưỡng nuôi con của ông L. Theo Nghị định
153/2016/NĐ-CP ngày 14/11/2016 của Chính phủ quy định về mức lương tối
thiểu theo vùng thì Thành phố Hồ Chí Minh (vùng 1) có mức lương tối thiểu là
3.750.000 đồng/tháng. Xét điều kiện kinh tế của ông L và các chi phí thực tế
nuôi trẻ H, Hội đồng xét xử xét thấy cần chia đôi chi phí nuôi trẻ H mỗi người

5
chịu 1/2, buộc Ông Trần Sơn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ H 2.500.000
đồng/tháng.
[13] Từ phân tích trên Hội đồng xét xử buộc ông L phải cấp dưỡng nuôi
con chung là trẻ Trần Chấn Hvới mức cấp dưỡng 2.500.000 đồng/tháng cho đến
khi trẻ H trưởng thành.
[14] Về tài sản chung: Bà D và ông L xác nhận không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
[15] Về nợ chung: Bà D và ông L xác nhận không có.
[16] Về án phí: Bà Võ Thị Mỹ D chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu
cầu ly hôn và ông Trần Sơn L chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, Khoản 1 Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58,
Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 357 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Võ Thị Mỹ D
đối với Ông Trần Sơn L
1.1. Bà Võ Thị Mỹ D được ly hôn với Ông Trần Sơn L.
1.2. Giấy chứng nhận kết hôn số 113 Quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân
dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/6/2011 không còn
giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
2.1. Giao trẻ Trần Chấn H, sinh ngày 26/10/2013 cho Bà Võ Thị Mỹ D
trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ông Trần Sơn L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi trẻ Trần Chấn H mỗi
tháng 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng), việc cấp dưỡng được thực
6
hiện vào ngày 01 (một) dương lịch của tháng cho đến khi trẻ H trưởng thành.
Bắt đầu thực hiện việc cấp dưỡng từ ngày 01/10/2017.
Các bên giao nhận tiền cấp dưỡng tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm
quyền.
Trường hợp ông L chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải trả lãi đối
với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357
Bộ luật dân sự 2015.
2.3. Ông L có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có
quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay
đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở
hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm
nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản
trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ
án này, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ
án khác.
4. Về án phí:
4.1. Bà Võ Thị Mỹ D chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân
sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn
đồng) mà bà D đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0021644 ngày 217/01/2017
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà
D đã nộp đủ án phí.
4.2. Ông Trần Sơn L chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân
sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà D và ông L có quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND TP. HCM;
- VKSND H. BC;
- Chi cục THADS H.BC;
- UBND phường A, quận B,
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
7
TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, VT.
Đỗ Thị Duy Linh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm