Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 124/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 124/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M-Nguyễn Văn S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 124/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 27-8-2026.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DÂN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Yến Nhi.
Bà Lê Thị Nhường.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Kiến Hòa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân
khu vực 7 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên
tòa: bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh
Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 244/2026/TLST-HNGĐ ngày 12
tháng 6 năm 2026 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 256/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2026, giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1984;
ĐKTT: Số C, ấp H (trước đây là ấp H), xã H, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ liên lạc: Công ty U – Khu Công nghiệp G, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số C, ấp H (trước đây là ấp H), xã H, tỉnh Vĩnh Long.
Tại phiên tòa, bà M và ông S vắng mặt (bà M có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt; ông S vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản khai, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt,
nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn S tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2010. Ông
bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy
2
ban nhân dân xã H, tỉnh Vĩnh Long) số 68/2010, quyển số I/2020 ngày 18/10/2010.
Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn
nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và tính tình không hợp, không có
tiếng nói chung. Vì hạnh phúc gia đình và tương lai của con cái, bà đã tìm cách
giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả và ông bà không chung sống với
nhau từ năm 2020 cho đến nay. Thời gian qua ông bà không quan tâm đến nhau,
mạnh ai người nấy sống. Nay bà xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân
không đạt được nếu kéo dài cuộc sống hôn nhân sẽ làm đau khổ cho nhau nên bà
yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S. Bà không yêu cầu ông S
cấp dưỡng cho bà sau khi ly hôn.
Bà và ông S có 01 người con chung là Nguyễn Nhật M1, sinh ngày
21/7/2012, hiện con chung đang sống với bà. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con,
bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho con.
Bà và ông S tự thỏa thuận về tài sản chung, ông bà không có nợ chung nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bà phải đi làm, xin nghỉ làm rất khó mà ông S không đến tham gia vụ án
để cho bà phải đến Tòa án nhiều lần. Vì vậy, bà đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử
vụ án vắng mặt bà.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát
biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa: thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng
dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công
khai chứng cứ và hòa giải nên chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ
luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Về việc giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân
và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M:
- Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
- Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Nhật M1, sinh ngày 21/7/2012
cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Nguyễn Thị M không yêu
cầu ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
3
- Về nợ chung: bà Nguyễn Thị M khai không có nên không xem xét giải
quyết.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh
Long giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông S. Ông S cư trú tại
xã H, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.
Bà M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ theo quy định tại
các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vụ án vắng mặt bà M và ông S.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà M và ông S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh
Vĩnh Long) vào ngày 18/10/2010 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp,
được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà M thì trong quá trình chung sống bà và
ông S đã phát sinh mâu thuẫn nhưng ông bà không tự giải quyết được để mâu
thuẫn kéo dài và ông bà không chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Vì
vậy, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S. Với yêu cầu ly
hôn của bà M, ông S không có ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết
vụ án, bỏ mặc cho bà M tự giải quyết.
Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Tình nghĩa vợ chồng”:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có
thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các
hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Hội đồng xét xử xét thấy, bà M và ông S không còn quan tâm, chăm sóc,
giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và
đã không chung sống với nhau trong thời gian dài nên ông bà không còn tình nghĩa
vợ chồng. Như vậy, hôn nhân của bà M và ông S đã lâm vào tình trạng trầm trọng,
đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt
được. Do đó, việc bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông S là có
4
căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: theo hồ sơ vụ án và lời trình bày của bà M thì bà và ông S
có 01 người con chung tên Nguyễn Nhật M1, sinh ngày 21/7/2012, hiện đang sống
với bà M. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, ông S không có ý kiến
phản đối với yêu cầu này của bà M.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng thỏa
thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối
với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho
một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Xét thấy, hiện con chung Nguyễn Nhật M1 đang sống với bà M nên có sự
gắn bó thân thiết với nhau, đồng thời con có nguyện vọng muốn sống với bà M.
Như vậy, nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo
dục của con nên Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Nhật M1 cho bà M trực
tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng cho con: tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” và
tại khoản 1 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi
con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo
quy định tại Điều 82 của Luật này…”. Tuy nhiên, do bà M không yêu cầu ông S
phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem
xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: bà M trình bày bà và ông S tự thỏa thuận về
tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với
ông S thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà M phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010850 ngày 04/6/2026
của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà M đã nộp đủ án phí.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều
147, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn
Văn S.
1.2. Về con chung:
Giao con chung Nguyễn Nhật M1, sinh ngày 21/7/2012 cho bà Nguyễn Thị
M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị M không yêu cầu ông Nguyễn Văn S cấp dưỡng
cho con.
Ông Nguyễn Văn S được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản
trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định
việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, cơ
quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án
có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Nguyễn Thị M trình bày bà và ông
Nguyễn Văn S tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết. Đối với ông Nguyễn Văn S thì vắng mặt, không có ý kiến.
Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn
là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0010850 ngày 04/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà
Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm
yết, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 7 - Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
6
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng,
tỉnh Vĩnh Long;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Đỗ Thị Mộng Tuyền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST Bản án số 124/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất