Bản án số 1223/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1223/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1223/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1223/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo,
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH PHỐ H
Bản án số: 1223/2025/DS-PT
Ngày: 19 - 9 - 2025
V/v Tranh chp hợp đồng thuê
quyn s dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH PHỐ H
- Tnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Các Thẩm phán:
Ông Đào Minh Đa.
Ông Nguyễn Trung Dũng.
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Quốc Nhi - Thư Tòa án nhân
dân Tnh phố H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tnh phố H tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Ngọc Nữ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tnh phố H,
tiến nh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 233/2025/TLPT-
DS ngày 23 tháng 6 năm 2025 v vic: Tranh chp hợp đồng thuê quyn s
dụng đất.
Do Bản án n sự thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh B (nay Tòa án nhân dân kv C,
Tnh phH) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xphúc thẩm số: 4872/2025/QĐ-PT
ngày 18 tháng 8 năm 2025 Quyết định hoãn phiên a s16110/2025/QĐ-
PT ngày 04 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Xuân H, sinh năm 1983; cư trú tại: Ấp T, xã T,
huyện T, tỉnh D (nay là xã H, Tnh phố H); có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tnh P, sinh năm 1955 Hạ Thị V, sinh
năm 1961; cùng cư trú tại: Tổ 1, ấp M, xã N, huyện B, tỉnh D (nay là phường
N, Tnh phố H).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lâm Thanh T, sinh năm
1993; hộ khẩu thường trú: Thôn S, xã X, huyện N, tỉnh N (nay S, tnh
Đ); địa chỉ liên lạc: Số 50, đường NG2, khu phố 8, phường H, tnh phố C,
tỉnh D (nay là phường H, Tnh phố H), là người đại diện theo ủy quyền (văn
2
bản ủy quyền ngày 07 tháng 11 năm 2023 và ngày 08 tháng 11 năm 2023);
đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng Công chứng B Công chứng viên T; địa chỉ: Khu phố
B, thị trấn U, huyện B, tỉnh D (nay là xã T, Tnh phố H), vắng mặt;
- Công ty TNHH P; địa chỉ: thửa đất 222, tbản đ37, ấp V, Đ,
huyện U, tỉnh D (nay xã U, Tnh phố H), vắng mặt;
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1980 - Chức
danh: Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc, người đại diện theo pháp luật; trú
tại: ấp V, xã Đ, huyện U, tỉnh D (nay là xã U, Tnh phố H), vắng mặt;
- Ông n N, sinh năm 1962 Phạm ThH2, sinh năm 1962;
cùng trú tại: Ấp T, T, huyện T, tỉnh B (nay H, Tnh phố H),
đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
- Bà N Thị T, sinh năm 1990; trú tại: Ấp T, T, huyn T, tỉnh B
(nay H, Tnh phH), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
- Bà Lê ThH1, sinh năm 1987; cư trú tại: p C, T, huyện T, tỉnh B
(nay H, Tnh phH), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
- Ông Nguyn Ngc A, sinh m 1980; cư trú tại: p G, T, huyn T,
tỉnh B (nay H, Tnh phH), vng mt;
- Ông Nguyn Ngc E, sinh năm 1984 và bà Đào Thị M D, sinh năm 1987,
vng mt;
- Cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 08/10/2012 và cháu Nguyễn Ngọc
Trà M, sinh ngày 11/6/2014;
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Ngọc E Đào Thị Mỹ D, người đại diện theo pháp luật
(cha mẹ cháu H và cháu M), vng mt,
Cùng trú tại: Ấp G, T, huyện T, tỉnh D (nay xã H, Tnh phố
H);
- Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1991; địa chỉ: t1, ấp M, N,
huyện B, tỉnh D (nay là phường N, Tnh phố H), vng mt;
- Ông Phan Đình L, sinh năm 1965; địa chỉ: tổ 1A, ấp T, N, huyện
B, tỉnh D (nay là phường N, Tnh phố H), vng mt.
- Người kháng cáo: B đơn ông Nguyn Tnh P, bà H Th V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông
Đậu Văn C là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
3
Ông H và vợ chồng ông P, bà V Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
ngày 19/6/2015, được công chứng tại Văn phòng Công chứng B công chứng
số 2414, quyển số 02/2015 TP/CC-SCC/HĐGD. Nội dung hợp đồng:
Ông P và V cho ông H thuê thửa đất 48 (T+Vườn), tờ bản đồ 08,
diện tích 20.519 m
2
, tọa lạc ấp M, xã N, huyện B, tỉnh D; thời hạn thuê là 30
năm, kể từ ngày hợp đồng được công chứng (là ngày 19/6/2015); sử dụng đất
thuê phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật; giá thuê
phương thức thanh toán: 10.000.000 đồng/năm, thanh toán bằng tiền mặt,
mỗi năm thanh toán một lần trong vòng 05 ngày cuối kỳ.
Ông H thuê đất của ông P V để chăn nuôi công nghiệp.
vậy, khi ông H được Ủy ban nhân dân huyện B chấp thuận địa điểm chăn
nuôi (gà màu) trên diện tích 20.519m
2
(Công văn số 1726/UBND-KT ngày
24/8/2015) thì ông H đầu tư xây dựng mới trang trại chăn nuôi gà và n kho,
cải tạo đổ thêm đất làm hệ thống đường phục vụ cho việc chăn nuôi như
hiện trạng hiện nay. Tổng số tiền ông H đầu tư là 900.000.000 đồng.
Ông H hợp đồng gia công chăn nuôi mt năm 04 lứa, mỗi lứa
ông H được trả tiền công nuôi là 140.000.000 đồng, một năm là 560.000.000
đồng. Tuy nhiên, đến cuối tháng 9/2023, ông P V yêu cầu ông H tháo
dỡ trang trại, n kho trả lại đất thuê khi thời hạn thuê chưa hết; ông P
V đóng cửa đất thuê làm ảnh hưởng nghiêm trọng quyền lợi ích hợp pháp
của ông H, vì vậy việc chăn nuôi gà của ông H đã dừng từ đó đến nay. Ông H
nói với ông P V về thời hạn thuê chưa hết nhưng ông P V
không đồng ý, vẫn yêu cầu ông H trả lại đất thuê.
Đối với Hợp đồng cn nuôi gia công tam hoàng số 02/2022--TĐP
ngày 01/01/2022 giữa ông H ng ty TNHH Đầu Phát triển Nông nghiệp
P, kể từ thời điểm ký hợp đồng đến khi phát sinh tranh chấp tháng 9/2023, ông
H đã nuôi 07 lứa gà. Tớc đó năm 2021, ông H đã nuôi cho Công ty P,
không hợp đồng nhưng có bản quyết toán gia công.
Thị H1 là em của ông H. H1 tên trong Hợp đồng chăn
nuôi gia công gà tam hoàng số 02/2022--TĐP ngày 01/01/2022 với
cách người đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
n tài sản khác gắn liền với đất số BH 357677, số vào sổ CH01196
ngày 03/8/2012 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh D cấp; H1 ủy quyền
toàn quyền cho ông H nên ông H thế chấp cho Công ty P để đảm bảo thực
hiện chăn nuôi gia công gà tam hoàng.
Ông H yêu cầu: Tuyên hủy Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày
19/6/2015; buộc ông P V bồi thường cho ông H tổng số tiền
1.460.000.000 đồng, gồm tiền đầu xây dựng trang trại 900.000.000
đồng, tiền bồi thường thiệt hại một năm 560.000.000 đồng do ông H
hợp đồng gia công chăn nuôi với người khác nhưng không thực hiện được.
4
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H thay đổi yêu cầu khởi kiện: yêu cầu tuyên
chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/6/2015; buộc ông P
bà V bồi thường cho ông H tổng số tiền 1.147.762.200 đồng, gồm:
- Bồi thường tài sản trên đất 347.760.200 đồng theo Biên bản định
giá tài sản ngày 09/8/2024 do Tòa án thực hiện, bao gồm: 02 trại
247.967.000 đồng; 02 n kho ông H chỉ yêu cầu là 37.276.200 đồng; 01 n
là 26.134.000 đồng; 11 trụ tông 330.000 đồng; 02 giếng khoan
1.866.000 đồng; 04 bồn nước nhựa 200L 800.000 đồng; 02 bồn nước nhựa
700L 1.400.000 đồng; 01 máy phát điện D9 3.000.000 đồng; 472 máng
ăn và 177 máng nước để nuôi 02 tuần tuổi 3.776.000 đồng; 160 máng
ăn 180 máng nước để nuôi từ 01 ngày đến 02 tuần tuổi 3.760.000
đồng; 20 đèn ga sưởi ấm loại 500 Cp 10 đèn ga sưởi ấm loại 1000 Cp
2.150.000 đồng; 50 cây dừa 03 năm tuổi 08 cây dừa 06 năm tuổi
14.260.000 đồng; 10 cây mãng cầu 04 năm tuổi là 3.910.000 đồng; 01 cây vú
sữa 06 năm tuổi là 1.130.000 đồng.
- Bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất là 800.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu phản tố của ông P và bà V, ông H không đồng ý.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn người đại diện hợp pháp của bị
đơn là ông Lâm Thanh T trình bày:
Ông P V không mối quan hệ với ông H, ông Văn N
ông Phan Đình L. Ông N cha của ông H. Ông L là ng xóm của ông P
bà V.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00085 QSDĐ/QĐ-
UB541 ngày 24/02/2003 do Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh D cấp cho hộ ông
P đối với các thửa đất 09, 15, 17, 18, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30
48, tờ bản đồ 02 08, diện tích 32.784m
2
, tọa lạc ấp M, N, huyện B,
tỉnh D (cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào s00359 QSDĐ
ngày 15/12/1994 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông P).
Hệ thống trang trại chăn nuôi trên thửa đất 48, diện tích 20.519m
2
được ông P và bà V xây năm 1999-2000 để chăn nuôi gà, diện ch đất còn lại
ông P V trồng cao su, bưởi sầu riêng. m 2007-2008, ông sang
nhượng lại trang trại cho ông L với giá 15.000.000 đồng (không có giấy tờ) do
chăn nuôi không mang lại hiệu quả kinh tế. Ông P V hợp đồng chăn
nuôi cho một ng ty (do thời gian lâu nên ông không nh n), ông
chuyển lại cho ông L để thực hiệnn cũng không còn giữ giấy tờ gì.
Năm 2010, ông L sang nhượng lại trang trại cho ông N với giá
10.000.000 đồng (không có giấy tờ). Ông L và ông N có đến n ông P và bà
V trình bày sự việc sang lại trại gà, ông P và bà V đồng ý. Khi đó ông N cũng
xin ông P V lại trang trại để tiện cho việc chăn nuôi. Ông P
V thấy hoàn cảnh gia đình ông N khó khăn, không nơi ở nên ông đồng
ý yêu cầu gia đình ông N chăn nuôi sạch sẽ, khi nào ông cần sẽ lấy lại
đất chia cho con. Việc này ông chỉ nói miệng, ông L ông N mặt
5
nghe rõ. vậy, từ m 2010 đến năm 2015, gia đình ông N ông H đã
trên đất, chăn nuôi trong trang trại của ông P V. Ông P V
không lấy bất kỳ chi phí nào (chỉ lấy phân gà để trồng cây), xem gia đình ông
N như người trong n, đồng thời cũng có người trên đất để tránh mất cắp
cây trái ông bà trồng.
Ông P vàV ký Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/6/2015 với
ông H mục đích để ông H kéo điện, sửa chữa trang trại do lâu năm xuống cấp,
không nhằm mục đích cho thuê đất. Việc công chứng hợp đồng có dấu hiệu vi
phạm Luật Công chứng ông P V không trước mặt Công chứng
viên, không đến n phòng công chứng tại Ủy ban nhân n xã, nội
dung mục đích không phù hợp. Sau khi hợp đồng, gia đình ông N sửa
trại gà và kéo điện nên ông P và bà V ng không để ý đến hợp đồng mà mình
đã ký.
Sau khi ký hợp đồng thuê đất với ông H, ông N vẫn trên thửa đất 48
đồng thời ông N cũng đi lại giữa n ông N trang trại gà. Năm 2019, ông
P V đến gặp ông N tại trang trại thông báo lấy lại đất đồng ý cho
ông N nuôi thêm 03 năm thì trả đất lại cho ông P V, ông N đồng ý.
Tháng 8/2023, ông P V đến gặp ông N thông báo lấy lại đất, ông N
đồng ý và nói rằng ông H đang nuôi, ông N sẽ nói lại ông H dọn đi để trả trại.
Tuy nhiên, sau đó ông H vẫn không dọn đi. Ông P V tiếp tục đến gặp
ông H yêu cầu ông H nuôi hết lứa ttrả lại trang trại dọn khỏi đất để
ông P V chia đất cho con. Lúc này, ông H đưa ra hợp đồng thuê đất,
ông P V xem mới phát hiện hợp đồng thời hạn 30 m. Từ đó hai
bên phát sinh tranh chấp đến nay.
Nay, ông P V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H,
do: ông P V chỉ cho gia đình ông N ông H để chăn nuôi
không lấy chi phí, không phải cho thuê đất. Ông H không phải người xây
dựng trang trại n không có quyền yêu cầu ông bồi thường. Hiện trang
trại đã dừng chăn nuôi nên ông H yêu cầu bồi thường là không có căn cứ.
Ông P V giữ nguyên yêu cầu phản tố: tuyên Hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất ngày 19/6/2015 hiệu; yêu cầu ông N và ông H dọn n
tạm, n kho, các trang bị phục vụ chăn nuôi ra khỏi trang trại và trả lại trang
trại cho ông P V. Tại phiên tòa, ông P V đồng ý htrợ tiền chi
phí di dời cho ông H là 70.000.000 đồng.
Ông Đoàn Cao T người đại diện của Văn phòng Công chứng B đồng
thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ngày 19/6/2015, Công chứng viên Văn phòng Công chứng B đã tiếp
nhận hồ làm các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về công
chứng để chứng nhận Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất số công chứng:
2414, quyển số: 02/2015 TP/CC-SCC/HĐGD giữa bên cho thuê ông P
V với bên thuê ông H. Việc nguyên đơn yêu cầu tuyên hủy hợp đồng
thuê này là không có cơ sở, bởi: các bên đã tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp
6
đồng; tại thời điểm công chứng, các bên năng lực nh vi dân sự theo quy
định của pháp luật; mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm pháp
luật, không trái đạo đức hội; các bên giao kết cam đoan chịu trách nhiệm
trước pháp luật về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ cung cấp liên
quan đến việc giao kết hợp đồng này; các bên giao kết đã đọc lại hợp đồng,
đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong hợp đồng, đã ký và điểm chỉ vào hợp đồng
trước mặt của Công chứng viên; chữ ký và dấu điểm chỉ trong hợp đồng đúng
là chữ ký và dấu điểm chỉ của người tham gia hợp đồng.
Ông Nguyễn Văn T đại diện của ng ty TNHH Đầu tư Pt trin
Nông nghiệp P trình bày:
Tình trạng hot động của Công ty P tại địa phương đã xin tạm ngưng hoạt
đng (đóng mã số thuế). Trong quá trình thc hin Hợp đồng chăn nuôi gia
công gà tam hoàng số 02/2022--TĐP ngày 01/01/2022 với ông H: Công ty
P đã hoàn tnh mọi trách nhiệm, quyền lợi đối với ông H. Từ 01/01/2022
đến ngày tạm ngừng hoạt động, Công ty giao trung bình 03 lứa gà/12 tháng
(tương đối). Công ty P đã thanh toán đầy đủ cho ông H, không còn thiếu nợ
ông H. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, Công ty P không ý kiến,
đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông Văn N trình bày: Ông N cha của ông H. Khoảng năm 2015,
ông H có thuê đất của ông P V đđầu xây dựng trang trại chăn nuôi
gà. Trên thửa đất 48, ông H đã xây dựng trang trại chăn nuôi, ông N người
trông coi trang trại cho ông H đến năm 2020. Chi phí xây dựng trang trại
chăn nuôi, ông N không rõ. Thời điểm ông H thuê đất không trại nào.
Việc ông H khởi kiện ông P và bà V, ông N không có ý kiến.
Phạm Thị H2 trình bày: H2 vợ ông N, mẹ của ông H.
H2 thống nhất với lời trình bày và ý kiến của ông N, thống nhất yêu cầu khởi
kiện của ông H không đồng ý yêu cầu phản tca bị đơn. Vợ chồng
không trên đất của ông P, không đầu trang trại nuôi không mua lại
trại từ ông L nlời ông P, V ông L trình bày. Toàn bộ trang trại,
n kho đường sá trên đất thuê do vợ chồng ông H đầu tư. Vợ chồng
chỉ đi lại để trông coi trại gà của ông H.
NThT trình bày: T vợ ông H, thống nhất với ý kiến và
yêu cầu của ông H. Tiền đầu trang trại, n kho đường để chăn nuôi
gà là tài sản chung của vợ chồng bà T, ông H.
Bà Lê Thị H1 trình bày: Bà H1 em của ông H. Trong Hợp đồng chăn
nuôi gia công gà tam hoàng số 02/2022--TĐP ngày 01/01/2022 có chữ ký,
chữ viết họ tên của bà H1 tại phần cuối hợp đồng, mục “Chủ sở hữu
GCNQSDĐ: BH 357677”. do: khoảng giữa tháng 10/2021, H1 cho
ông H mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền shữu n tài
sản khác gắn liền với đất số BH 357677, số vào sổ CH01196 ngày 03/8/2012
do y ban nhân dân huyện T cấp cho H1 để thế chấp cho Công ty P, mục
đích tài sản thế chấp cho ông H chăn nuôi tam hoàng của Công ty P.
7
Cuối tháng 11/2023, ông H không nuôi gà nữa nên Công ty P đã trả bản chính
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1, bà H1 không có quyền lợi liên
quan gì đến vụ án.
Ông Nguyn Ngc A, ông Nguyn Ngọc T, ông Nguyễn Ngc E (đồng thời
là ngưi đại din ca cháu Nguyn Minh H và Nguyễn Ngọc Trà M), Đào Th
MD (đồng thi ngưi đi diện của cháu Nguyễn Minh H Nguyn Ngọc
Trà M) trình y: Các ông bà là con cháu ca ông P bà V, có tên trong sổ h
khu của gia đình ông P, không có quyền li gì liên quan đến vụ án.
Ông Phan Đình L trình bày: Năm 2008, ông L mua lại trại của
ông P với giá 15.000.000 đồng, không giấy tờ. Trong quá trình chăn nuôi
khoảng 02 năm, ông P không cho thuê đất mà cho mượn đất ông P chỉ lấy
phân gà. Do chăn nuôi không có lợi nhuận nên năm 2010, ông L sang lại trại
cho ông N với giá 10.000.000 đồng, sau đó ông L n xây trại cho ông N
tất cả đều không có giấy tờ. Ông L không tranh chấp gì trong vụ án.
Ti Bn án dân s sơ thẩm s 11/2025/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm
2025 ca Tòa án nhân dân huyn B, tnh B (nay Tòa án nhân dân kv C,
Tnh ph H) đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Xuân H đối với
ông Nguyễn Tnh P Hạ Thị V về việc tranh chấp về hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất.
Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sdụng đất ngày 19/6/2015
giữa ông Nguyễn Tnh P HThị V với ông Xuân H, được ng
chứng tại Văn phòng Công chứng B, số công chứng 2414, quyển số 02/2015
TP/CC-SCC/HĐGD.
Buộc ông Nguyễn Tnh P và Hạ Thị C cùng phải bồi thường cho
ông Xuân H số tiền 347.760.200 đồng (ba trăm bốn mươi bảy triệu bảy
trăm sáu mươi nghìn hai trăm đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Xuân H đối với ông
Nguyễn Tnh P Hạ Thị V về yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập
bị mất là 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng).
- Đình chxét xử yêu cầu khởi kin về số tiền 312.237.800 đồng (ba
trăm mười hai triệu hai trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm đồng) của ông
Xuân H đối với ông Nguyễn Thành P và bà Hạ Thị V.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thành P và bà Hạ
Thị V.
Ngoài ra, bn án còn quyết định v án phí, chi phí t tng, nghĩa vụ
chm thi nh án và tuyên quyn kháng cáo của các đương sự.
Ngày 07/3/2025, b đơn ông Nguyễn Tnh P H Th V đơn
kháng cáo mt phn bản án thm, yêu cu sa bn án thẩm theo hướng
chp nhn toàn b yêu cu phn t ca b đơn.
8
Ti phiên tòa phúc thm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cu khi kin; b
đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và có đơn đề ngh xét x vng mt.
Các đương s không tha thuận được vi nhau v vic gii quyết v
án.
Đi diện Vin Kiểm t nhân n Tnh ph H phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến nh tố tụng tham gia tố tụng đã
thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân stại Tòa án cấp phúc
thẩm.
- Về nội dung: Cấp sơ thm đã xem xét đánh giá toàn din v án, do đó
kháng o ca b đơn không căn cứ, đề ngh Hội đồng xét x căn cứ
khoản 1 Điều 308 B lut T tng dân s gi nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của
các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] V t tng: B đơn ông Nguyễn Tnh P và H Th V người
kháng cáo, ngày 17/9/2025 ông Lâm Thanh T là người đi din hp pháp ca
ông P, bà V có đơn yêu cầu xét x vng mt, Tòa án xét x v án vng mt b
đơn ông P, bà V theo quy định tại Điều 296 ca B lut T tng dân s.
Nguyên đơn ông H không kháng o bản án thẩm, b đơn ông P,
V ch kháng cáo phn bồi thường tài sản trên đất; Tòa án cp phúc thm xét
x v án trong phạm vi có kháng cáo như quy định tại Điều 293 ca B lut
T tng dân s.
[2] V ni dung:
[2.1] Quá trình tố tụng, nguyên đơn (ông H) chứng minh Hợp đồng
thuê quyền sử dụng đất với vợ chồng ông P, V, được công chứng ngày
19/6/2015 tại Văn phòng Công chứng B; thời hạn thuê quyền sử dụng đất
30 năm. Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất không ghi nhận tài sản trên đất
của ông P, V. Do đó, căn cứ xác định tài sản trên đất để phục vụ cho
chăn nuôi là do ông H tạo dựng.
B đơn ông P, V kháng cáo cho rng trong tng giá tr tài sản trên đất
347.760.200 đồng 02 tri giá tr 247.967.000 đồng ca b đơn xây
dng t những năm 2000 bằng vt liu: cây, sa cha li bng cây tm
ng nhưng không cung cấp chng c chng minh, không php vi Biên
bn xem xét thẩm định ti ch ngày 13/3/2024; không phù hp vi li khai
của các đương sự trong v án v việc sang nhượng tài sản trên đất.
[2.2] Bản án thẩm tuyên buc ông P, V bồi thường toàn b tài sn
trên đất cho ông H khi chm dt hợp đồng thuê là có căn cứ.
Như phân tích ti mc [2.1], kháng cáo ca b đơn không được chp
nhn.
9
[3] Đại din Vin Kim sát nhân dân Tnh ph H đề ngh gi nguyên
bn án sơ thẩm phù hp.
[4] V án phí dân s phúc thm: Người kháng cáo phi chu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148; Điều 296; Điu 293,Khon 1 Điu 308 B lut T
tng dân s;
- Căn cứ Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mc thu, min, gim, thu, np,
qun lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tnh P
Hạ Thị V;
2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s 11/2025/DS-ST ngày 26
tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh D (nay là Tòa án nhân
dân kv C, Tnh phố H) như sau:
[2.1] Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện vsố tiền 312.237.800 đồng
(ba trăm mười hai triệu hai trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm đồng) giữa ông
Lê Xuân H với ông Nguyễn Tnh P và bà Hạ Thị V.
[2.2] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Xuân H đối
với ông Nguyễn Thành P, Hạ Thị V về việc tranh chấp về hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất.
Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19 tháng 6
năm 2015 giữa ông Nguyễn Thành P, Hạ Thị V với ông Xuân H, được
công chứng tại Văn phòng Công chứng B, số công chứng 2414, quyển số
02/2015 TP/CC-SCC/HĐGD.
Buộc ông Nguyễn Thành P Hạ Thị V liên đới bồi thường cho
ông Xuân H số tiền 347.760.200 đồng (ba trăm bốn mươi bảy triệu bảy
trăm sáu mươi nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày người được thi nh án có đơn yêu cầu thi nh án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền chậm thi nh án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự.
[2.3] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Xuân H đối với
ông Nguyễn Tnh P HThị V về yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu
nhập bị mất là 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng).
[2.4] Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Tnh P,
Hạ Thị V về việc tuyên hiệu hợp đồng thuê quyền s dụng đất ngày
19/6/2015 giữa ông Nguyễn Tnh P, Hạ Thị V ông Xuân H
buộc ông Lê Văn N, ông Lê Xuân H tháo dỡ tài sản trên đất, trả lại đất thuê.
10
[2.5] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
định giá 3.819.228 đồng (ba triệu tám trăm mười chín nghìn hai trăm hai
mươi tám đồng). Ông Xuân H phải chịu 1.909.614 đồng (một triệu chín
trăm lẻ chín nghìn sáu trăm mười bốn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi
phí tố tụng đã nộp. Ông Nguyễn Thành P Hạ Thị V cùng phải chịu
1.909.614 đồng (mt triệu chín trăm lẻ chín nghìn sáu trăm ời bốn đồng)
để trả lại cho ông Lê Xuân H.
[2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Xuân H phải chịu án pdân sự thẩm 36.000.000 đồng
(ba mươi sáu triệu đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
28.200.000 đồng (hai mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng) theo biên lai số
AA/2021/0010503 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi nh án dân sự huyện
B, tỉnh D (nay Phòng Thi nh án dân sự kv C, Tnh phố H), ông
Xuân H còn phải nộp 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm nghìn đồng).
Ông Nguyn Thành P và bà HThị V được miễn nộp tiền án phí dân sự
thm. Trả lại cho ông Nguyễn Tnh P HThV số tiền tạmng án phí
n sự thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngn đồng) theo Bn lai số
0003459 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi nh án dân sự huyện B, tỉnh D (nay
Phòng Thi nh án dân sự kv C, Tnh phH).
3. Án phí phúc thm: Ông Nguyễn Thành P Hạ ThV không phi
np.
Trường hợp Bản án được thi nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
nh án dân sự thì người được thi nh án dân sự, người phải thi nh án dân
sự quyền thoả thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi nh án, tnguyện thi
nh án hoặc bị cưỡng chế thi nh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi nh án dân sự; thời hiệu thi nh án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi nh án dân sự.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND Tối cao;
- VKSND Tp. H;
- TAND kv C, Tp. H;
- Phòng THADS kv C , Tp. H;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đào Minh Đa
11
Tải về
Bản án số 1223/2025/DS-PT Bản án số 1223/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 1223/2025/DS-PT Bản án số 1223/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất