Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 120/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 120/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huỳnh Thảo N-Võ Văn Oanh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 120/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 21-8-2026.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thuận.
Bà Trần Thị Phước Duyên.
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Kiến Hòa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân
khu vực 7 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên
tòa: bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh
Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2026/TLST-HNGĐ ngày 03
tháng 6 năm 2026 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 214/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2026, giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Huỳnh Thảo N, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Số F, ấp C, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: anh Võ Văn O, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Số F, ấp C, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
Tại phiên tòa, chị N và anh O vắng mặt (chị N có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt; anh O vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản khai, đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt,
nguyên đơn là chị Nguyễn Huỳnh Thảo N trình bày:
Chị và anh Võ Văn O kết hôn vào năm 2018. Anh chị có đăng ký kết hôn tại
Ủy ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; sau sáp nhập đơn vị hành chính
cấp xã có tên gọi là phường P, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 21/5/2018, hôn nhân là do
tự nguyện. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bắt đầu xảy ra mâu
2
thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Mâu thuẫn kéo dài
đến tháng 3/2026, anh chị không chung sống với nhau cho đến nay. Do anh chị
không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải
quyết cho chị được ly hôn với anh O.
Chị và anh O có 01 người con chung tên Võ Hữu Đ, sinh ngày 19/10/2019,
từ khi chị và anh O không chung sống với nhau cho đến nay thì con chung sống
với chị. Thời gian qua, chị chăm sóc con tốt, đảm bảo cho con phát triển về mọi
mặt; anh O không đến thăm con và cũng không chu cấp cho con. Vì vậy, chị yêu
cầu được trực tiếp nuôi con chung, chị không yêu cầu anh O cấp dưỡng cho con.
Chị và anh O không có tài sản chung và nợ chung nên không có yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Do chị đi làm ăn xa, xin nghỉ làm rất khó nên chị đề nghị Tòa án giải quyết,
xét xử vắng mặt chị trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát
biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa: thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và
các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng
dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
- Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công
khai chứng cứ và hòa giải nên chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ
luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
Về việc giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn
nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Huỳnh Thảo N:
- Về hôn nhân: chị Nguyễn Huỳnh Thảo N được ly hôn với anh Võ Văn O.
- Về con chung: giao con chung Võ Hữu Đ, sinh ngày 19/10/2019 cho chị
Nguyễn Huỳnh Thảo N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến
khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận việc chị Nguyễn Huỳnh Thảo N không yêu cầu cấp dưỡng
cho con.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Huỳnh Thảo N trình bày không
có, anh Võ Văn O không thể hiện ý kiến nên Toà án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Huỳnh Thảo N phải chịu án phí 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng).
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh
Long giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn anh O. Anh O cư trú tại
xã L, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.
Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh O đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ theo quy định
tại các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vụ án vắng mặt chị N và anh O.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị N và anh O tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy
ban nhân dân xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long)
vào ngày 21/5/2018 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được tôn trọng
và được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, theo lời trình bày của chị N thì trong quá trình chung sống chị và
anh O đã phát sinh mâu thuẫn nhưng anh chị không tự giải quyết được để mâu
thuẫn kéo dài và anh chị không chung sống với nhau từ tháng 3/2026 cho đến nay.
Vì vậy, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh O. Với yêu
cầu ly hôn của chị N, anh O không có ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải
quyết vụ án, bỏ mặc cho chị N tự giải quyết.
Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Tình nghĩa vợ chồng”:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có
thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các
hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Hội đồng xét xử xét thấy, chị N và anh O không còn quan tâm, chăm sóc,
giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và
đã không chung sống với nhau trong thời gian dài nên anh chị không còn tình
nghĩa vợ chồng. Như vậy, hôn nhân của chị N và anh O đã lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được. Do đó, việc chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với
anh O là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên
được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: theo hồ sơ vụ án và lời trình bày của chị N thì chị và anh
O có 01 người con chung tên Võ Hữu Đ, sinh ngày 19/10/2019, hiện đang sống với
4
chị N. Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, anh O không có ý kiến phản
đối với yêu cầu này của chị N.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng thỏa
thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối
với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho
một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”.
Xét thấy, hiện con chung đang sống với chị N nên có sự gắn bó thân thiết
với nhau, con chung được chị N chăm sóc tốt, đảm bảo cho con phát triển về mọi
mặt. Như vậy, nhằm bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống,
giáo dục của con nên Hội đồng xét xử giao con chung Võ Hữu Đ cho chị N trực
tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng cho con: tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” và
tại khoản 1 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi
con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo
quy định tại Điều 82 của Luật này…”. Tuy nhiên, do chị N không yêu cầu anh O
phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem
xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: chị N trình bày chị và anh O không có tài
sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với anh O thì
vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị N phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010511 ngày 29/5/2026
của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị N đã nộp đủ án phí.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều
147, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Huỳnh
Thảo N.
5
1.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Huỳnh Thảo N được ly hôn với anh
Võ Văn O.
1.2. Về con chung:
Giao con chung Võ Hữu Đ, sinh ngày 19/10/2019 cho chị Nguyễn Huỳnh
Thảo N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18
tuổi.
Ghi nhận chị Nguyễn Huỳnh Thảo N không yêu cầu anh Võ Văn O cấp
dưỡng cho con.
Anh Võ Văn O được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định
thay đổi việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, cơ
quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án
có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Huỳnh Thảo N trình bày chị và
anh Võ Văn O không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Đối với anh Võ Văn O thì vắng mặt, không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét
xử không xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc chị Nguyễn Huỳnh Thảo N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ
án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án số 0010511 ngày 29/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh
Long. Chị Nguyễn Huỳnh Thảo N đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm
yết, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 7 - Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- Ủy ban nhân dân phường Phú Khương,
tỉnh Vĩnh Long;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Đỗ Thị Mộng Tuyền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST Bản án số 120/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất