Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 29/03/2024 của TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 29/03/2024 của TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hàm Yên (TAND tỉnh Tuyên Quang) |
| Số hiệu: | 12/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Các bị cáo Hoàng Minh Ph và Lý Văn Q phạm tội Đánh bạc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH TUYÊN QUANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày: 29 - 3 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn B1
2. Ông Tống Xuân Quyết
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Luyến – Thư ký viên Toà án nhân dân
huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Ông
Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên
Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án hình sự sơ thẩm thụ
lý số: 11/2024/TLST-HS, ngày 27 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Minh Ph, sinh ngày 21/7/1963 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn 1 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp:
Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn Ng (đã chết) và bà: Lý Thị Th
(đã chết); có vợ: Đỗ Thị M (đã chết) và 01 con, sinh năm 1999; tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 210/QĐ-XPHC
ngày 23/12/2022 của Công an xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt
1.200.000đ về hành vi đánh bạc. Ngày 26/12/2022 đã nộp xong tiền phạt.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú
(có mặt).
2. Lý Văn Q, sinh ngày 28/12/1986 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp:
Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn T1, sinh năm 1963 và bà: Đỗ Thị
L, sinh năm 1962; có vợ: Đặng Thị Nh, sinh năm 1988 và có 03 con, lớn sinh
năm 2005, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 213/QĐ-XPHC
ngày 23/12/2022 của Công an xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt
1.200.000đ về hành vi đánh bạc. Ngày 26/12/2022 đã nộp xong tiền phạt.
Nhân thân:
2
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2008/HS-ST ngày 15/8/2008 bị Tòa án
nhân dân huyện H xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong
toàn bộ bản án).
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 71/QĐ-XPHC ngày
12/02/2018 của Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 1.200.000đ về hành
vi đánh bạc. Ngày 12/10/2018 đã nộp xong tiền phạt.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 bị Tòa
án nhân dân huyện H xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc (chấp hành xong toàn
bộ bản án)
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú
(có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn Q: Bà Nguyễn Kim Tuyến – Trợ giúp
viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tuyên Quang (có
mặt).
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Bàn Văn D, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
2. Anh Đặng Văn Tr, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
3. Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Thôn 7 M1, xã M2, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
4. Anh Lý Văn T1, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
5. Anh Đỗ Văn D1, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
6. Anh Triệu Ngọc D2, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
7. Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Thôn 1 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
8. Anh Vũ Gia B, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
9. Anh Hoàng Văn D4, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Thôn 1 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
10. Anh Bàn Văn S1 sinh năm 1976;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
11. Anh Trần Văn B1, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
12. Anh Hoàng Văn Ng1, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Thôn 3 M1, xã M2, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
3
13. Anh Triệu Văn Q1, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
14. Anh Đặng Văn C, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt có đơn xin xét
xử vắng mặt)
- Những người làm chứng:
1. Anh Lý Văn N, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Thôn 1 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
2. Anh Bàn Văn Ch, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn 2 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
3. Anh Lê Văn H, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Xóm A, xã Th, thành phố Th1, tỉnh Thái Nguyên.
4. Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Thôn 1 M, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
5. Anh Vương Văn L, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Minh Ph và Lý Văn Q đã bị xử phạt hành chính tại Quyết định số
210/QĐ-XPHC và 213/QĐ-XPHC cùng ngày 23/12/2022 của Công an xã T,
huyện H, phạt tiền 1.200.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày
26/12/2022. Ngày 13/11/2023, Ph và Q có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc
đĩa, cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Ngày 14/11/2023, Ph tiếp tục có
hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh sâm, cá cược được thua bằng tiền Việt
Nam đồng, cụ thể như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/11/2023, Hoàng Minh Ph; Triệu Văn Q1,
sinh năm 1986; Đặng Văn C, sinh năm 1972; Bàn Văn Ch, sinh năm 1987; Triệu
Ngọc D2, sinh năm 1979 cùng trú tại Thôn 2 M, xã T, huyện H và Đỗ Văn H,
sinh năm 1990, trú tại Thôn 1 M, xã T, huyện H đến nhà Trần Văn B1, sinh năm
1972, thuộc Thôn 2 M, xã T, huyện H ăn cơm, uống rượu. Khoảng 12 giờ cùng
ngày, sau khi ăn cơm uống rượu xong, khi đang ngồi uống nước có người nói
(không xác định được ai) “đánh bạc tý nhỉ”, mọi người đồng ý. H đi xuống bếp
nhà B1 cắt thanh tre cắt thành 04 quân bạc bôi đen một mặt, Ch lấy bát đĩa của
gia đình B1 làm dụng cụ đánh bạc. Sau đó, B1, Ch, Q1, D2, Ph, H, C ngồi thành
vòng tròn cùng nhau đánh bạc: H là người xóc cái cho những người còn lại đánh
bạc.
4
Hình thức đánh bạc cụ thể như sau: Khi bắt đầu ván bạc, người cầm cái
cho 04 quân vị lên đĩa, úp bát vào và xóc, sau đó đặt xuống cho những người
chơi đoán chẵn, lẻ, quy ước bên phải là chẵn, bên trái là lẻ. Khi mở bát ra nếu là
02 hoặc 04 quân đen hay trắng thì người chơi đặt cược ở cửa chẵn sẽ thắng, nếu
có 01 quân đen, 03 quân trắng hoặc ngược lại thì người chơi đặt cửa lẻ thắng, tỉ lệ
thắng thua là 1:1. Mức đặt cược thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất tùy người chơi.
Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 15 phút đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng
ngày, lần lượt có Bàn Văn D, sinh năm 1972; Đặng Văn Tr, sinh năm 1997; Lý
Văn T1 sinh năm 1963; Đỗ Văn D1, sinh năm 1990, Lý Văn Q, sinh năm 1986
đều trú tại Thôn 2 M, xã T, huyện H; Lý Văn N, sinh năm 1977; Hoàng Văn V,
sinh năm 1975; Hoàng Văn D4, sinh năm 1990 đều trú tại thôn 1 M, xã T; Hoàng
Văn S, sinh năm 1972, trú tại thôn 7 M1, xã M2, huyện H; Vương Văn L, sinh
năm 1987; Vũ Gia B, sinh năm 1992 đều trú tại thôn Th, xã B, huyện H; Hoàng
Văn Ng1, sinh năm 1964, trú tại thôn 3 M2, xã M2, huyện H đến cùng tham gia
đánh bạc. Sau khi xóc cái được khoảng 02 giờ thì Đỗ Văn H đưa bát, đĩa cho Đỗ
Văn D1 và Đặng Văn C xóc cái, sau đó H tiếp tục cá cược. Đến khoảng 17 giờ 35
phút cùng ngày thì dừng việc đánh bạc mọi người đi về. Trần Văn B1 mang 04
quân bạc và bát đĩa vứt vào góc nhà.
Quá trình điều tra xác định số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng
đánh bạc như sau:
1. Hoàng Minh Ph sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván
thắng 250.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 750.000 đồng.
2. Lý Văn Q sử dụng 20.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua hết
tiền.
3. Trần Văn B1 sử dụng 20.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thắng
230.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 250.000 đồng.
4. Đỗ Văn H là người cắt quân vị, xóc cái, sử dụng 500.000 đồng để đánh
bạc, đánh nhiều ván thắng 1.200.000 đồng, khi nghỉ đánh bạc có 1.700.000 đồng.
5. Bàn Văn Ch là người lấy bát, đĩa làm công cụ đánh bạc, sử dụng 100.000
đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua hết tiền.
6. Đỗ Văn D1 là người xóc cái, sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, đánh
nhiều ván thắng 320.000 đồng, khi nghỉ đánh bạc có 520.000 đồng.
7. Đặng Văn C là người xóc cái, sử dụng 100.000đ để đánh bạc, đánh nhiều
ván thua hết tiền
8. Bàn Văn D sử dụng 350.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
300.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 50.000 đồng.
9. Đặng Văn Tr sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
270.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 30.000 đồng.
10. Hoàng Văn S sử dụng 160.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
150.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 10.000 đồng.
5
11. Lý Văn T1 sử dụng 120.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
100.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 20.000 đồng;
12. Triệu Ngọc D2 sử dụng 350.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
50.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 300.000 đồng;
13. Lý Văn N sử dụng 60.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua hết
tiền;
14. Hoàng Văn V sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván
thua hết tiền;
15. Vương Văn L sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
hết tiền;
16. Vũ Gia B sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
200.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 50.000 đồng;
17. Hoàng Văn D4 sử dụng 115.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
100.000 đồng, sau khi nghỉ đánh bạc có 15.000 đồng;
18. Triệu Văn Q1 sử dụng 105.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
hết tiền;
19. Hoàng Văn Ng1 sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván
thua hết tiền;
Tổng số tiền các bị cáo và các đối tượng khai sử dụng vào mục đích đánh
bạc là: 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền các bị cáo và các
đối tượng khai sau khi đánh bạc còn lại là 3.695.000 đồng (Ba triệu sáu trăm chín
mươi lăm nghìn đồng). Đối với số tiền chênh lệch, Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện H đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được
đang ở đâu.
Ngày 14/11/2023, Hoàng Minh Ph tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc tại
nhà ở của Trần Văn B1, cụ thể như sau: Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 14/11/2023,
Ph đi bộ từ nhà đến nhà B1 chơi. Tại đây, Ph thấy B1 và Hoàng Văn Ng1 đang
ngồi uống nước, nói chuyện. Sau đó Bàn Văn S1, sinh năm 1976; Triệu Văn Q1,
sinh năm 1986, đều trú tại Thôn 2 M, xã T, huyện H đến uống nước nói chuyện.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút B1 rủ những người trên vào phòng khách nhà B1 để
đánh bạc bằng hình thức đánh sâm, cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng
mọi người đồng ý, sau đó B1 lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, trên bàn ở góc nhà
ra làm dụng cụ đánh bạc.
Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 11 giờ 30 phút, Lê Văn H, sinh ngày
19/9/1997, trú tại thôn A, xã Th, thành phố Th1, tỉnh Thái Nguyên đến chơi. Thấy
ải đến thì B1 đi nấu cơm và bảo H vào thay vị trí của B1 để đánh bạc và sử dụng
tiền của B1 để cá cược với những người khác. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng
ngày Đặng Văn C đến chơi, C ngồi xem những người trên đánh bạc đến khoảng
13 giờ 10 phút thì H không chơi nữa, Cám thay vị trí của H để đánh bạc.
6
Hình thức đánh bạc như sau: Những người tham gia đánh bạc ngồi quây
thành một vòng tròn và sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài làm công cụ đánh
bạc, mỗi ván bài người chơi được chia 10 quân bài, khi chơi người chơi đánh lần
lượt theo chiều kim đồng hồ, người chơi thích đánh quân nào tùy ý. Người đánh
sau muốn đánh phải đánh quân bài lớn hơn, trừ quân “2” là quân bài lớn nhất thì
cứ quân bài nào có thứ tự lớn hơn sẽ cao hơn, nếu người chơi đánh quân “2” và bị
chặn “tứ quý” (B1 quân bài giống nhau) thì người bị chặn phải trả cho người chặn
được 100.000đ và quyền đi tiếp thuộc người chặn được quân “2”. Quá trình chơi
người chơi có thể đánh “đôi” (hai quân bài cùng thứ tự) đánh “dọc (ba quân bài
cùng thứ tự; hoặc 3, 4, 5... quân bài có thứ tự liền nhau). Người đánh sau muốn
chặn được phải đánh “đôi” hoặc “dọc” lớn hơn. Quá trình chơi nếu có ai đánh hết
bài ở trên tay trước thì người đó thắng và ván bài kết thúc. Những người còn lại
còn bao nhiêu quân bài trên tay thì phải trả cho người thắng tương ứng 5.000đ/ 01
lá bài. Nếu thấy bài của mình có thể đánh ra mà không ai chặn được thì người
chơi có thể “báo sâm”, nếu báo sâm thành công thì người đó sẽ thắng và người
chơi thua phải trả cho người báo sâm thành công là 100.000đ/01 người. Ngược
lại, nếu báo sâm mà có người chặn được bài thì người báo sâm phải “đền làng”,
nghĩa là người báo sâm phải trả cho người chơi đã chặn được bài của mình số tiền
400.000đ. Trường hợp chơi mà người nào không đánh đi được một quân bài nào
gọi là “treo” và phải trả cho người thắng số tiền 80.000đ. Sau khi kết thúc ván
bài, người chơi lại tiếp tục quy trình chơi tương tự như trên, người thắng ván
trước được quyền chia bài và đánh đầu tiên nếu không có người “báo sâm”.
Hồi 13 giờ 15 phút ngày 14/11/2023, khi bị cáo Hoàng Minh Ph cùng các
đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện H phát hiện lập biên
bản vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, thu giữ 3.867.000 đồng
(Ba triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) và 52 quân bài tú lơ khơ. Quá trình
giải quyết, bị cáo Hoàng Minh Ph và các đối tượng còn khai nhận hành vi đánh
bạc trái phép ngày 13/11/2023 tại nhà Trần Văn B1.
Quá trình điều tra xác định số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng
đánh bạc được xác định như sau:
1. Hoàng Minh Ph sử dụng 640.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
10.000 đồng, khi bị phát hiện có 630.000 đồng;
2. Trần Văn B1 sử dụng 390.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
90.000 đồng, khi bị phát hiện có 300.000 đồng;
3. Bàn Văn S1 sử dụng 1.020.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thua
20.000 đồng, khi bị phát hiện có 1.000.000 đồng;
4. Hoàng Văn Ng1 sử dụng 350.000 đồng để đánh bạc; đánh nhiều
ván thua 70.000đồng, khi bị phát hiện có 280.000 đồng.
5. Triệu Văn Q1 sử dụng 460.000đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thắng
100.000đồng, khi bị phát hiện có 560.000đồng.
6. Đặng Văn C sử dụng 1.007.000đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván thắng
90.000đồng, khi bị phát hiện có 1.097.000đồng.

7
7. Lê Văn H sử dụng tiền của Trần Văn B1 để đánh bạc, đánh nhiều ván
không thắng không thua, khi bị phát hiện có 300.000đồng.
Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng khai sử dụng vào mục đích đánh bạc
là: 3.867.000 đồng (Ba triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Số tiền các bị
cáo giao nộp là 3.867.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSHY, ngày 26/02/2024, Viện kiểm sát nhân
dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố Hoàng Minh Ph, Lý Văn Q về tội
“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy
tố đối với các bị cáo theo tội danh, điều luật đã nêu trong Bản cáo trạng và đề
nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Hoàng Minh Ph, Lý Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều
17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Minh Ph từ 08 tháng đến 10
tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm
08 tháng, kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều
17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn Q từ 06 tháng đến 08 tháng tù
cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng, kể từ
ngày tuyên án.
Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại
Khoản 1, điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung
(phạt tiền) đối với các bị cáo.
- Về vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106
Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.562.000 đồng (Bảy triệu
năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng) các bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc
đánh bạc bị cơ quan điều tra thu giữ.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ
thẩm cho bị cáo Lý Văn Q vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng
có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo Ph phải chịu 200.000đ án
phí hình sự sơ thẩm; đồng thời tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo và những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Minh Ph và Lý Văn Q đều khai nhận mặc
dù các bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng do uống rượu
say, không làm chủ được bản thân, ham vui nên trong khoảng thời gian ngày
8
13/11/2023 các bị cáo đã cùng các đối tượng khác có hành vi đánh bạc dưới hình
thức Xóc đĩa cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng; ngày 14/11/2023 bị
cáo Ph đã cùng các đối tượng khác có hành vi đánh bạc dưới hình thức Đánh sâm
cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng tại nhà ông Trần Văn B1, bị Công an
huyện H thu giữ tổng số tiền 7.562.000 đồng (Bảy triệu năm trăm sáu mươi hai
nghìn đồng). Trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo đều đã nhận thức được hành
vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Lý Văn Q nhất trí
với tội danh mà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với các bị
cáo. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, t
khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý
Văn Q với mức án thấp nhất có thể. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự
sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Quá trình điều tra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người
làm chứng Bàn Văn D, Đặng Văn Tr, Hoàng Văn S, Lý Văn T1, Đỗ Văn D1, Triệu
Ngọc D2, Đỗ Văn H, Hoàng Văn V, Vương Văn L, Vũ Gia B, Hoàng Văn D4, Bàn
Văn S1, Trần Văn B1, Hoàng Văn Ng1, Triệu Văn Q1, Đặng Văn C, Lý Văn N, Bàn
Văn Ch, Lê Văn H đều thừa nhận hành vi đánh bạc cùng bị cáo Hoàng Minh Ph và Lý
Văn Q vào ngày 13/11/2023 và ngày 14/11/2023 tại nhà ông Trần Văn B1 thuộc Thôn
2 M, xã T, huyện H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang bị cơ quan Công an huyện H phát
hiện, lập biên bản vi phạm hành chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc xem xét hành vi của các bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Minh Ph, Lý Văn Q
đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội
dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của các bị
cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các Biên bản vi
phạm hành chính; vật chứng thu giữ; lời khai của các đối tượng tham gia đánh
bạc cùng các bị cáo, biên bản xác minh, cùng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ
khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 30 phút
đến 17 giờ 35 phút ngày 13/11/2023, tại gian bếp nhà ở của Trần Văn B1, Hoàng
Minh Ph và Lý Văn Q (có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, chưa được coi là chưa
bị xử phạt vi phạm hành chính) đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức “Xóc đĩa”
cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng cùng Trần Văn B1; Triệu Văn Q1,
Đặng Văn C, Bàn Văn Ch, Triệu Ngọc D2, Bàn Văn D, Đặng Văn Tr, Lý Văn T1,
Đỗ Văn D1, Lý Văn N, Hoàng Văn V, Hoàng Văn D4, Đỗ Văn H, Hoàng Văn S,
Vương Văn L, Vũ Gia B, Hoàng Văn Ng1, cụ thể: Hoàng Minh Ph sử dụng
500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); Lý Văn Q sử dụng 20.000 đồng (hai mươi
9
nghìn đồng) để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo và các đối tượng sử dụng đánh
bạc là 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ 10 giờ 30 phút đến 13 giờ 15 phút ngày
14/11/2023, tại phòng khách nhà ở của Trần Văn B1, Hoàng Minh Ph tiếp tục có
hành vi sử dụng 640.000 đồng (sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc bằng
hình thức “Đánh sâm”, cá cược được thua bằng tiền Việt Nam đồng cùng Trần
Văn B1, Hoàng Văn Ng1, Triệu Văn Q1, Đặng Văn C, Bàn Văn S1, Lê Văn H.
Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng đánh bạc là 3.867.000 đồng (Ba
triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
Tuy số tiền các bị cáo và các đối tượng khác sử dụng để đánh bạc dưới
5.000.000đ (Năm triệu đồng), chưa đủ mức để truy cứu trách nhiệm hình sự,
nhưng Hoàng Minh Ph và Lý Văn Q đều đã bị xử phạt hành chính về hành vi
đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên
cả 02 bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định
tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện H
truy tố đối với các bị cáo là đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công
cộng, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của trật tự xã hội, gây ảnh hưởng
xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây phương hại đến kinh tế hộ gia
đình và có thể làm phát sinh các tội phạm khác. Các bị cáo đều là người có đầy đủ
khả năng nhận thức, nhưng do ham mê đỏ đen nên vẫn tham gia đánh bạc trái
phép để sát phạt nhau, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích vụ lợi. Do
đó Hội đồng xét xử thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng với mức độ, tính
chất phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời
góp phần vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa
các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ được quy
định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ph phạm tội lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại giai đoạn xét xử, bị cáo Ph nộp bổ sung bản
sao 01 Giấy chứng nhận tham gia dân công hoả tuyến; Quyết định số 845/QĐ-
BTL ngày 16/10/2016 về việc trợ cấp 1 lần đối với dân công hoả tuyến tham gia
kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ
quốc tế theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg của Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Bộ
Quốc Phòng mang tên Hoàng Minh Ph và Phiếu điều chỉnh trợ cấp kháng chiến
hàng tháng sang hưởng 1 lần của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh
Tuyên Quang đối với ông Hoàng Văn Ng2 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q trong quá trình giải quyết
vụ án đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội
phạm là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
10
sự. Bị cáo Q là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51
Bộ luật hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự làm cơ sở để
Hội đồng xét xử xem xét lên mức án phù hợp đối với từng bị cáo. Xét thấy các bị
cáo đều có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, không có tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định, đủ điều kiện áp dụng
Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày
15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình
sự về án treo nên không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho
các bị cáo hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị
cáo cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và không gây
nguy hiểm cho xã hội.
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn,
không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể. Vì vậy, khi quyết định hình phạt
HĐXX thấy: Bị cáo Lý Văn Q đã từng bị Công an huyện H xử phạt về hành vi
đánh bạc ngày 18/02/2018, đã chấp hành xong quyết định xử phạt nhưng sau đó
lại vi phạm và bị Toà án nhân dân huyện H xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc.
Bị cáo đã bị kết án về tội Đánh bạc tại bản án số 61/2028/HS-ST ngày 28/12/2018
của Toà án nhân dân huyện H, đã chấp hành xong mọi hình phạt, đã được xóa án
tích nhưng sau đó lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc bị Công an huyện H xử
phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn
luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với mục đích
vụ lợi; Các bị cáo Hoàng Minh Ph, Lý Văn Q mới bị xử phạt vi phạm hành chính
về hành vi đánh bạc vào ngày 23/12/2022 (đến ngày 26/12/2022 nộp phạt), nhưng
trong thời hạn chưa đủ 1 năm để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính,
ngày 13 và ngày 14/11/2023, các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc
trái phép với số tiền là 20.000 đồng đối với bị cáo Q (ngày 13/11/2023);
1.140.000 đồng đối với bị cáo Ph (ngày 13 và 14/11/2023). Tuy nhiên các bị cáo
đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị các đều thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Ph phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng, gia đình có công với cách mạng; Bị cáo Q là người dân tộc thiểu số sinh
sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế, tích
cực hợp tác với cơ quan điều tra trong công tác phòng chống tội phạm, bị cáo có
đơn xin miễn giảm hình phạt được UBND xã xác nhận, là lao động chính trong
gia đình. Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện VKSND huyện H đề nghị áp dụng
đối với từng bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.
Trong thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi
các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Nếu trong thời gian này, các bị cáo cố ý vi
phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì các bị cáo phải chịu hậu quả theo quy định tại
khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện các bị cáo
đều làm ruộng, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì riêng có giá trị, bị

11
cáo Qở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do vậy Hội đồng xét
xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) theo quy định tại khoản 3 Điều
321 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện
đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến
hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua
việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện
đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại
các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra cơ quan Điều tra thu giữ số tiền 7.562.000 đồng (Bảy
triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng). Xét thấy đây là số tiền các bị cáo và
các đối tượng khác sử dụng để đánh bạc trái phép nên cần tịch thu sung vào ngân
sách Nhà nước; ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52
quân đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử thấy rằng đây là công cụ các bị cáo cùng
các đối tượng khác sử dụng để đánh bạc trái phép, không có giá trị sử dụng nên
cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Hoàng Minh
Ph, Lý Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo Lý
Văn Q đề nghị được miễn án phí do là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ
án phí cho bị cáo Q. Các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với Trần Văn B1 là chủ nhà và dùng nhà của mình để trực tiếp đánh
bạc cùng với những người khác vào ngày 13 và 14/11/2023. B1 không thu lợi từ
việc cho người khác đánh bạc trái phép tại nhà mình, không rủ rê, lôi kéo, tụ tập
những người khác đến nhà mình để đánh bạc. Do đó không có căn cứ xử lý Trần
Văn B1 về tội Tổ chức đánh bạc, Gá bạc theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi đánh bạc của Bàn Văn D, Đặng Văn Tr, Hoàng Văn S, Lý
Văn T1, Đỗ Văn D1, Triệu Ngọc D2, Đỗ Văn H, Hoàng Văn V, Vương Văn L,
Vũ Gia B, Hoàng Văn D4, Bàn Văn S1, Trần Văn B1, Hoàng Văn Ng1, Triệu
Văn Q1, Đặng Văn C, Lý Văn N, Bàn Văn Ch, Lê Văn H. Do tổng số tiền đánh
bạc dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng trên chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi
Đánh bạc; Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự
trong vụ án này. Ngày 13/12/2023, Công an huyện H đã ra các Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.
Do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý đối với các đối tượng trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:

12
1. Về tội danh:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Hoàng
Minh Ph, Lý Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều
17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Minh Ph 08 (tám) tháng tù cho
hưởng án treo, thời gian thử thách 01(một) năm 04 (B1) tháng. Thời hạn thử
thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/3/2024).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều
17, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Văn Q 07 (bẩy) tháng tù cho hưởng
án treo, thời gian thử thách từ 01(một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách
tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/3/2024).
Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại
Khoản 1, điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều
47 Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.562.000 đồng (Bảy triệu
năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng) hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số
3949.0.1064845.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tại Kho bạc nhà
nước huyện H, tỉnh Tuyên Quang (theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 13/3/2024 và
ngày 15/3/2024).
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài đã qua sử dụng
(Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2024
giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự
huyện H, tỉnh Tuyên Quang).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án:
Bị cáo Hoàng Minh Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Văn Q.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm)
ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bàn Văn D, Đặng Văn Tr,
Hoàng Văn S, Lý Văn T1, Đỗ Văn D1, Triệu Ngọc D2, Đỗ Văn H, Vũ Gia B,
Hoàng Văn D4, Bàn Văn S1, Trần Văn B1, Hoàng Văn Ng1, Triệu Văn Q1, Đặng
Văn C được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ
13
của mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc
Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện H;
- CQĐT Công an huyện H;
- Chi cục THADS huyện H;
- Các bị cáo; người bào chữa;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- UBND xã T;
- Lưu HSVA, HSTHAHS.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Minh Ngọc
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm