Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TAND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 12/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TAND huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Yêu cầu công nhận thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Thanh Sơn (TAND tỉnh Phú Thọ) |
| Số hiệu: | 12/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/04/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | V/v Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T S
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24/4/2024
“V/v Ly hôn, nuôi con chung
khi ly hôn”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Ph
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T S - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Khải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Đình Sở.
2. Bà Trần Thị Khoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện T S, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T S, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên
toà: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T S, tỉnh Phú
Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 23
tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Anh Cù Văn Ph, sinh năm 1988.
HKTT: Xóm L P, xã V T, huyện T S, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Khu 4, xã Vạn Xuân, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
2. Bị đơn: Chị Chƣơng Thị Thanh T, sinh năm 1990.
HKTT: Xóm L P, xã V T, huyện T S, tỉnh Phú Thọ.
2
(Anh Cù Văn Ph có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 05/4/2024.
Chị Chương Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày
25/3/2024).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/01/2024, bản tự khai ngày 06/02/2024, quá trình
làm việc tại Tòa án nguyên đơn anh Cù Văn Ph trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Cù Văn Ph và chị Chương Thị Thanh T xây dựng
gia đình với nhau năm 2011, hai bên được tự do tìm hiểu tự nguyện và làm thủ tục
đăng ký kết hôn tại UBND xã V T, huyện T S, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ
chồng chung sống cùng với bố mẹ đẻ chị T tại xóm L P, xã V T, huyện T S, tình
cảm vợ chồng thời gian đầu hòa thuận hạnh Ph. Sau đó đến năm 2021 cuộc sống
vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng không cùng
quan điểm trong cách sống, trong làm ăn kinh tế gia đình, vợ chồng không tin
tưởng vào tình cảm của nhau, chị T cho rằng anh Ph có mối quan hệ bên ngoài,
không yêu thương vợ con, nhiều lúc cãi nhau nóng giận chị T có đuổi anh Ph ra
khỏi nhà vợ không cho ở, anh Ph có xin lỗi, tuy nhiên tình cảm vợ chồng cũng lạnh
nhạt, vợ chồng không thông cảm, nhường nhịn nhau mà có lời qua tiếng lại dẫn
đến cãi nhau, xúc phạm nhau. Khi mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra thì hai bên gia đình
có biết, có khuyên bảo, nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không tự khắc phục được.
Chính vì cuộc sống gia đình căng thẳng nên vợ chồng sống ly thân từ khoảng cuối
năm 2021 đến nay mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến nhau, anh Ph đã
dọn về nhà bố mẹ đẻ ở xã Vạn Xuân, huyện Tam Nông để ở, sinh sống. Nay anh
Ph xác định mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm với chị T không còn, hôn
nhân không đem lại hạnh Ph nên anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn để giải
phóng cho nhau, ổn định cuộc sống mới.
Về con chung: Anh Cù Văn Ph trình bày vợ chồng có 01 con chung là cháu
Cù Minh H, sinh ngày 08/02/2013. Hiện nay cháu H đang ở với chị T và bố mẹ chị
từ khi sinh ra cho đến nay, được chị chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn học đầy đủ. Khi ly
hôn anh Ph đồng ý để chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến
3
khi cháu thành niên, anh Ph tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với mức là
2.000.000đ/01 tháng, phương thức cấp dưỡng theo hàng tháng, thời gian cấp
dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên.
Về tài sản chung: Anh Cù Văn Ph không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Anh Cù Văn Ph trình bày
vợ chồng không có, ly hôn anh không có đề nghị gì.
Tại bản tự khai ngày 25/3/2024 bị đơn là chị Chương Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2011 chị T xây dựng gia đình với anh Ph, làm
thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã V T, huyện T S, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết
hôn vợ chồng chung sống cùng với gia đình bố mẹ đẻ chị T tại xóm L P, xã V T.
Trong suốt thời gian vợ chồng sinh sống cùng nhau thì cuộc sống gia đình, tình
cảm vẫn diễn ra bình thường. Tuy nhiên đến khoảng đầu năm 2022 anh Ph có mối
quan hệ bên ngoài, không chăm lo đến gia đình, vợ con, vợ chồng không được hòa
hợp, bản thân chị T và bố mẹ đẻ chị có tha thứ, khuyên bảo anh Ph, anh Ph có xin
lỗi, hứa sẽ sửa chữa thay đổi để vợ chồng về chung sống với nhau nhưng anh
không làm được điều đó. Cuộc sống vợ chồng căng thẳng nên anh Ph đã bỏ nhà đi
từ đầu năm 2022 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó mỗi người có
một cuộc sống riêng không ai hỏi han, quan tâm đến nhau. Nay anh Ph có đơn ly
hôn chị T không đồng ý ly hôn vì lý do anh Ph đưa ra để ly hôn chị là không chính
đáng, nguyên nhân chính là do anh Ph không chung thủy với chị.
Về con chung: Chị Chương Thị Thanh T trình bày vợ chồng có 01 con
chung là cháu Cù Minh H, sinh ngày 08/02/2013. Hiện nay cháu H đang ở với chị
T và bố mẹ chị từ khi sinh ra cho đến nay, được chị chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn học
đầy đủ. Nếu ly hôn chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi cháu
thành niên, chị T yêu cầu anh Ph phải có trách nhiệm đối với con chung. Hiện tại
chị T đang làm lao động tự do gần nhà có thu nhập từ 5 đến 6 triệu đồng/ 01 tháng,
chị ở chung với bố mẹ đẻ có nhà ở kiên cố, rộng rãi, đàng hoàng, bố mẹ chị còn
khỏe có thể hỗ trợ, chăm sóc cháu, đưa đón cháu đi học khi chị bận công việc. Chị
4
T khẳng định sẽ đảm bảo điều kiện tốt nhất về kinh tế, môi trường sống để con
chung khôn lớn, trưởng thành.
Về tài sản chung: Nếu ly hôn chị Chương Thị Thanh T không đề nghị Tòa án
xem xét, giải quyết.
Về nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng: Chị Chương Thị Thanh T
trình bày vợ chồng không có, khi ly hôn chị không có đề nghị gì.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã
thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các
đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không
đến Tòa án để làm việc, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị
đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử
vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn anh Cù Văn Ph, xử cho anh Ph được ly hôn chị Chương
Thị Thanh T. Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Cù Minh H,
sinh ngày 08/02/2013 cho chị Chương Thị Thanh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng đến khi cháu thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Cù Văn Ph là có
trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với mức là 2.000.000đ/ 01 tháng, phương
thức cấp dưỡng theo hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 4 năm 2024 đến
khi con chung thành niên. Các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không
xem xét. Về án phí: Anh Cù Văn Ph phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và
án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
5
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 22/01/2024 anh Cù Văn Ph nộp đơn khởi kiện về
việc ly hôn, nuôi con chung với chị Chương Thị Thanh T, đây là tranh chấp Hôn
nhân gia đình được Tòa án nhân dân huyện T S, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết là
đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015. Ngày 05/4/2024 anh Ph có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ngày
25/3/2024 chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt các
đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật
tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Cù Văn Ph và chị Chương Thị Thanh T xây
dựng gia đình với nhau năm 2011, hai bên làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND
xã V T, huyện T S, tỉnh Phú Thọ theo quy định của pháp luật, từ khi đăng ký kết
hôn thì xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng ở
chung với gia đình bố mẹ chị T tại xóm L P, xã V T, thời gian đầu tình cảm vợ
chồng hòa thuận, hạnh Ph. Đến khoảng năm 2022 mâu thuẫn vợ chồng phát sinh,
nguyên nhân chính là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong
cuộc sống, trong cách ăn ở với nhau hàng ngày, anh Ph ít có sự quan tâm tới chị T,
vợ chồng sống không còn tin tưởng và tôn trọng nhau dẫn đến không có tiếng nói
chung trong gia đình, từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, cãi
nhau, hiện tại vợ chồng đang sống ly thân không ai còn quan tâm, hỏi han gì đến
nhau, nay anh Ph nhận thấy hôn nhân không có hạnh Ph, tình cảm với chị T không
còn nên xin ly hôn. Chị T cũng thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng có phát sinh
mâu thuẫn, lý do anh Ph có mối quan hệ bên ngoài không chăm lo đến gia đình, vợ
chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay mỗi người một nơi không quan tâm
đến nhau, tuy nhiên chị T không đồng ý ly hôn với lý do anh Ph đưa ra để ly hôn
chị là không chính đáng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh Ph và chị T đều thừa
nhận vợ chồng có mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống,
không tin tưởng và tôn trọng nhau dẫn đến cãi nhau, vợ chồng hiện tại sống ly thân
không ai quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Chị T trình bày là anh Ph có quan hệ
bất chính bên ngoài nhưng không đưa ra được bằng chứng cụ thể nào, thực tế hôn
nhân giữa anh Ph và chị T không còn tồn tại. Trong quá trình làm việc chị T có
6
đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ vì lý do vợ
chồng không có tiếng nói chung, không nhường nhịn nhau, chị T cũng không có
biện pháp nào để hàn gắn tình cảm, khắc phục mâu thuẫn. Theo tài liệu xác minh
tại khu hành chính xóm L P, xã V T xác định vợ chồng anh Ph và chị T có mâu
thuẫn, lý do vợ chồng không hiểu, thông cảm cho nhau, kinh tế gia đình chi phối,
vợ chồng không tin tưởng nhau, đối xử với nhau không được tử tế, vợ chồng sống
ly thân từ năm 2022 đến nay không thực hiện quyền và nghĩa vụ vợ chồng với
nhau, anh Ph đã về nhà bố mẹ đẻ ở xã Vạn Xuân, huyện Tam Nông để ở, sinh
sống. Như vậy có thể thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa anh Ph và chị T đã trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc
chị T không đồng ý ly hôn là không chính đáng, muốn kéo dài thời gian để gây khó
khăn cho anh Ph, chứ thực tế chị không muốn níu kéo tình cảm với anh Ph. Từ
những căn cứ, phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy việc anh Ph xin ly hôn
với chị T là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với khoản 1
Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Anh Cù Văn Ph và chị Chương Thị Thanh T đều xác định
vợ chồng có 01 con chung là cháu Cù Minh H, sinh ngày 08/02/2013. Hiện nay
cháu H đang ở với chị T và bố mẹ chị từ khi sinh ra cho đến nay, được chị chăm
sóc, nuôi dưỡng, ăn học đầy đủ. Tại bản tự khai của anh Ph khi ly hôn anh nhất trí
để chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh tự nguyện cấp dưỡng với mức
là 2.000.000đ/ 01 tháng, phương thức cấp dưỡng theo hàng tháng để chị T nuôi con
chung đến khi thành niên. Tại bản tự khai của chị T thì khi ly hôn chị T xin được
trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi cháu thành niên. Tại bản tự khai ngày
27/3/2024 của cháu Cù Minh H có nguyện vọng ở với mẹ, hiện nay con chung
đang đi học ổn định và có hộ khẩu thường trú tại xóm L P, xã V T, huyện T S. Vì
vậy Hội đồng xét xử cần giao cháu Cù Minh H cho chị T được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng là phù hợp với ý kiến của các đương sự, phù hợp với nguyện vọng của
con chung và phù hợp với quy định của pháp luật. Chấp nhận sự tự nguyện của anh
Cù Văn Ph là anh Ph có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với mức là
7
2.000.000đ/ 01 tháng, phương thức cấp dưỡng theo hàng tháng, thời gian cấp
dưỡng kể từ tháng 4 năm 2024 cho đến khi con chung thành niên.
[4] Về tài sản chung: Anh Cù Văn Ph và chị Chương Thị Thanh T đều không
đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng: Anh Cù Văn Ph và chị
Chương Thị Thanh T đều xác định vợ chồng không có, ly hôn anh chị đều không
có đề nghị gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.
[7] Về án phí: Anh Cù Văn Ph phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ
thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[8] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83,
Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Cù Văn Ph
đối với chị Chương Thị Thanh T. Xử cho anh Cù Văn Ph được ly hôn chị Chương
Thị Thanh T.
2. Về con chung: Giao con chung của anh chị là cháu Cù Minh H, sinh ngày
08/02/2013 cho chị Chương Thị Thanh T được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng cho đến khi cháu thành niên. Anh Cù Văn Ph có trách nhiệm cấp dưỡng
nuôi con chung với mức là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/01 tháng, phương thức cấp
dưỡng theo hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 4 năm 2024 đến khi con
chung thành niên.

8
Sau khi ly hôn anh Cù Văn Ph không trực tiếp nuôi con chung có quyền,
nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Cù Văn Ph phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp
dưỡng nuôi con chung. Xác nhận anh Ph đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số: 0004243 ngày 22/01/2024 tại Chi cục thi
hành án dân sự huyện T S, tỉnh Phú Thọ. Anh Cù Văn Ph phải nộp tiếp số tiền
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi
hành án dân sự."
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở
UBND xã nơi các đương sự thường trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
xét xử Ph thẩm.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKS huyện;
- Chi cục THADS huyện.
- UBND xã V T;
- UBND xã Vạn Xuân, huyện Tam Nông;
- Lưu HS + VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Vũ Quang Khải
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng