Bản án số 12/2018/HNGĐ-ST ngày 16/07/2018 của TAND TX. Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 12/2018/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 12/2018/HNGĐ-ST ngày 16/07/2018 của TAND TX. Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Sầm Sơn (TAND tỉnh Thanh Hóa)
Số hiệu: 12/2018/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2018
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN
TỈNH THANH HÓA
——————————
Bản án số: 12/2018/HNGĐ-ST
Ngày 16-7-2018
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh pc
————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Cúc
Ông Phạm Văn Hay
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Huy - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 m 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn,
tỉnh Thanh Hóa, xét xử thẩm công khai
vụ án thụ số: 13 /2018/TLST-HNGĐ
ngày 05 tháng 3 năm 2018, về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2018 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H sinh năm1986; ( mặt)
Địa chỉ: Khu phố H, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình H sinh năm 1978; (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố H, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29/01/2018 lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày như sau:
Năm 2008, chị Thị H anh Nguyễn Đình H tự nguyện tổ chức kết hôn
với nhau nhưng đến năm 2009, giữa hai người mới đăng kết hôn, việc kết hôn
được đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường B, thịS, nay là phường B, thành phố
S. Từ khi kết hôn anh và chị sống vui vẻ hạnh phúc, nhưng chỉ được thời gian ngắn
thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H sử dụng ma túy, nên
thường xuyên không quan tâm tới cuộc sống gia đình, cũng chính do nghiện ma
túy vào khoảng tháng 5 năm 2010, anh H bị Công an phường Dịch Vọng Hậu,
quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, quyết định bắt buộc cai nghiện 02 năm, sau khi
cai nghiện về nhà, anh lại tiếp tục phạm tội và bị phạt tù 02 năm. Khoảng thời gian
2
hơn 04 năm sống tại Nội, mình chị vừa nuôi con,vừa phải đi thăm nuôi anh H,
chị hy vọng sau những lần vấp ngã, anh sẽ cai được ma túy để sống có trách nhiệm
với bản thân và gia đình hơn. Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong án phạt tù, anh H
chị H trở về phường B để làm ăn, sinh sống, chị hy vọng môi trường sống sẽ
làm anh thay đổi để gia đình có cuộc sống hạnh phúc, nhưng sự hy vọng đó của chị
không được như mong muốn. Anh H lại tiếp tục tái nghiện ma túy và thậm chí còn
nghiện nặng hơn trước, tđó trong cuộc sống tình cảm vợ chồng thì ngày càng
mâu thuẫn nặng nề hơn. Tháng 02 năm 2017, anh H chị H đã viết đơn ly hôn
với nhau, từ đó anh bỏ đi không thông báo cho chị cũng như gia đình biết
thông tin về anh. Nay chị thấy tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, nên chị đề
nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H dành quyền nuôi con.
Về con chung: Chị Thị H anh Nguyễn Đình H một con chung với
nhau, tên cháu Nguyễn Đình Sơn Tùng, sinh ngày 28/6/ 2009, hiện tại cháu
Tùng đang với chị kể từ khi anh chị sống ly thân. Nay chị đề nghị giao cháu
Nguyễn Đình Sơn Tùng cho chị được trực tiếp chăm sóc không yêu cầu anh H
phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Vũ ThH không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Đình H: Sau khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án,
Văn phòng Thừa phát lại đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho anh
H theo địa chỉ do nguyên đơn cung cấp, sau nhiều lần Tòa án triệu tập đến làm việc
nhưng anh đều vắng mặt không có lý do. Qua tiến hành xác minh tại nơi cư trú của
bị đơn, được lập vào ngày 19/5/2018 thì Công an phường B cung cấp; anh Nguyễn
Đình H sinh năm 1978 đã đăng nhân hộ khẩu thường trú tại khu phố Hòa Sơn,
phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, hiện anh H chưa chuyển khẩu và đăng
tạm trú ở nơi khác, người thân và gia đình chị H cũng không biết rõ địa chỉ của anh
H hiện cư trú ở đâu, gia đình chỉ liên lạc với anh qua điện thoại khi anh đi, còn đến
nay thì số điện thoại của anh gia đình cũng không ai liên lạc được.
Để đảm bảo quy định hòa giải, a án đã tiến hành thu thập thông tin về
nguyên nhân phát sinh tranh chấp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy
định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thực hiện niên yết văn
bản tố tụng đối với bị đơn theo quy định của pháp luật, trong thời hạn niên yết bị
đơn không đến tòa án để làm việc. vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được do
một bên đương svắng mặt không do. Cho đến nay việc giải quyết vụ án
cũng không thông tin o về anh H, ngoài thông tin, địa chỉ do nguyên đơn
cung cấp.
Tại phiên tòa lần thứ hai, mặt chị Thị H, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện đối với bị đơn.
Kiểm sát viên tham gia tố tụng phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư Tòa án từ khi thụ ván cho đến khi
Hội đồng xét xvào phòng nghị án là tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về
hướng giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Bộ luật tố
3
tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, 82 83 Luật hôn nhân gia đình 2014 để giải
quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét,
thẩm tra tại phiên Tòa, trên sở quan điểm của đại diện Viện kiểm về hướng giải
quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 05/3/2018, Tòa án thụ đơn khởi kiện của nguyên
đơn, yêu cầu của nguyên đơn chị Thị H đối với bị đơn anh Nguyễn Đình H
tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự
về Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, các đương snơi trú tại thành phố Sầm
Sơn nên vụ án được xem xét, giải quyết theo thẩm quyền tại Điều 35 Điều 39
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc trường hợp phải tiến hành hòa giải nhưng
bị đơn vắng mặt tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú nên không hòa giải được.
[2] Xét về quan hệ hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn: Chị Thị H
anh Nguyễn Đình H kết hôn với nhau trên shôn nhân tự nguyện, việc kết hôn
được Uỷ ban nhân dân phường B, thị S (nay là phường B thành phố S) cấp giấy
chứng nhận kết hôn, tại thời điểm kết hôn anh H chị H đều đủ tuổi kết hôn
không vi phạm các quy định tại Điều 8 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm
2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H anh H được pháp luật công nhận
là hôn nhân hợp pháp.
[3]. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Năm 2008 chị Vũ Thị H và anh
Nguyễn Đình H tổ chức kết hôn chính thức chung sống với nhau nhưng không
đăng ký kết hôn, đến năm 2009 anh, chị mới làm thủ tục đăng kết hôn, sau
khoảng thời gian ngắn chung sống chị H phát hiện anh H người nghiện ma y,
nên cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân vẫn
được duy trì tình cảm của chị H vẫn mong muốn anh H quyết tâm từ bỏ ma túy
để vợ chồng có cuộc sống tốt hơn, nhưng khi chấp hành xong án phạt tù, thì anh lại
tiếp tục sử dụng ma túy. vậy, niền tin vào cuộc sống của chị đối với anh H đã
không được như chị mong muốn, cũng chính thế dẫn tới mâu thuẫn vợ
chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay nguyện vọng của chị H xin được ly hôn với
anh H sở chấp nhận, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia
đình năm 2014 để chấm dứt quan hệ hôn nhân của anh và chị như hiện nay.
[4]. Xét việc vắng mặt của bị đơn: Anh Nguyễn Đình H, đăng ký hộ khẩu
tại khu phố Hòa Sơn, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, ngoài địa chỉ trên
thì quan quản cho biết, chưa chuyển hộ khẩu của anh đi khởi nơi trú. n
cứ điểm a, khoản 2, Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của
Hội đồng thẩm phánTòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn một số quy định tại khoản
1 khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc anh vắng mặt khởi nơi
trú không thông báo nơi trú, làm việc mới cho nguyên đơn biết thì được
coi trường hợp cố tình lẫn tránh, cố tình dấu địa chỉ, gây khó khăn cho nguyên
đơn Tòa án trong việc giải quyết vụ án. n cứ vào các tài liệu chứng cứ do
nguyên đơn cung cấp do Tòa án thu thập. Căn cứ vào các Điều 203 Điều 220,
4
Điều 227 và Điều 233 của Bộ luật Ttụng dân sự, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án
đảm bảo với quy định của pháp luật đảm bảo quyền lợi, ích cho đương sự
trong vụ án.
[5] Về con chung: Trong giấy khai sinh cũng như shộ khẩu gia đình do
chị H cung cấp thì anh chị một con chung là cháu Nguyễn Đình Sơn Tùng, sinh
ngày 28/6/ 2009. Hiện nay cháu đang với chị H kể từ khi vợ chồng sống ly thân.
Tại phiên tòa, anh H không có mặt nên không có thông tin về mức thu nhập và các
điều kiện nuôi con đối với anh. Do đó, việc tiếp tục giao con chung cho chị H trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên phù hợp. Anh H không
phải thực hiện nghĩa vụ cp dưỡng nuôi con chung vì chị H không yêu cầu.
[6] Về tài sản chung: Chị Thị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải
quyết, anh Nguyễn Đình H không cung cấp thông tin khai báo, cũng không yêu
cầu phản tố đối với nguyên đơn nên không có căn cứ xem xét.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thị H không thuộc đối tượng xem xét
miễn nộp, giảm tiền án phí, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân
sự điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Như vậy, chị phải nộp án phí
ly n sơ thẩm mức án phí không giá ngạch nhưng được đối trừ vào số tiền án
phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án thành phố Sầm Sơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm e khoản 1 Điều 192,
Điều 227, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 14, Điều 81,
Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị H. Chị H được ly hôn
với anh Nguyễn Đình H.
Về quyền nuôi con chung: Công nhận chị Thị H anh Nguyễn Đình H
một con chung cháu Nguyễn Đình Sơn Tùng, sinh ngày 28/6/2009, nay giao
cháu Nguyễn Đình Sơn Tùng cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
con chung cho đến khi cháu thành niên, anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con
chung hàng tháng. Sau khi ly hôn anh H được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc
giáo dục con chung, chị H và người thân không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên
lai nộp tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0004013 ngày 05/03/2018 của Chi cục thi
hành án dân sự thành phố Sầm Sơn (Chị H đã nộp đủ tiền án phí).
5
Án xcông khai mặt chị Thị H vắng mặt anh Nguyễn Đình H, chị H
được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh
H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày k tngày nhận được
bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân phường B, thành
phố Sầm Sơn.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật
thi hành án dân sthì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 9 Luật thi hành án dân sự.
Thời hiện thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKS Tp. Sầm Sơn;
- Chi cục THA DS Tp. Sầm Sơn;
- UBND phường B;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghi
Tải về
Bản án số 12/2018/HNGĐ-ST Bản án số 12/2018/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất