Bản án số 118/2024/DS-PT ngày 11/06/2024 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 118/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 118/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 118/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 118/2024/DS-PT ngày 11/06/2024 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 118/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngày 14/6/2022, ông Trần Công M chết. Ngày 29/9/2022, bà B gửi thông báo cho bà T để chấm dứt ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền số 5134 từ ngày 29/9/2022, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo bà T cần liên hệ với bà B để bàn giao Bản chính GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 496128 ngày 15/5/2012. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hạn mà bà T vẫn không liên hệ để thực hiện các yêu cầu tại Thông báo. Do đó, bà B yêu cầu Tòa án giải quyết. - Tuyên bố chấm dứt hiệu lực đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 05/8/2019 do vợ chồng bà B, ông M và bà Thanh T ký kết tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2; - Buộc bà Thanh T trả lại cho bà B bản chính GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 496128 do UBND huyện V cấp ngày 15/5/2012, cập nhật biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 118/2024/DS - PT
Ngày: 11/6/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng ủy
quyền”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Vũ Việt Dũng
Bà Trần Thị Bé
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Lương Thị Chung
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng
11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 230/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của
Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2024/QĐ-PT ngày 10
tháng 1 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 62/2024/QĐ – PT ngày
02 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 88/2024/QĐ – PT
ngày 01 tháng 03 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 128/2024/QĐPT-
DS ngày 26 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971; CCCD số 04817100xxxx;
Địa chỉ: Thôn D , xã E, huyện F, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Phan Q, sinh năm
1995; CCCD số 04909501xxxx; Địa chỉ liên hệ: Số 52 đường G, phường H, quận L,
TP. Đà Nẵng. Có mặt
2. Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1969; CCCD số 04816900xxxx;
Địa chỉ: Số 86 đường K, quận J, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Hoài B1, sinh năm
1989, CCCD số 04908900xxxx và ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1989, CCCD số
02708900xxxx; Cùng địa chỉ liên hệ: Số 141 đường M, phường X, quận J, thành phố
Đà Nẵng. Có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Công N, sinh năm 1935; Địa chỉ: Thôn O, xã M, huyện V, thành
phố Đà Nẵng. Vắng mặt
3.2. Ông Trần Công Đ, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Thôn O, xã M, huyện V,
thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3.3. Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1970, CCCD số 04817000xxxx; Địa
chỉ: Số 02 đường P, phường Y, quận R, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3.4. Bà Trần Thị Thanh T2, sinh năm 1975, CCCD số 04817500xxxx; Địa
chỉ: Số 09 đường X1, phường Y, quận R, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3.5. Bà Lê Thị Thu A, sinh năm 1977, CCCD số 04817700xxxx; Địa chỉ:
K19A/19 đường S, phường U, quận R, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3.6. Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2; Địa chỉ: Đường Y2, Thôn
V2, xã G2, huyện V, TP.Đà Nẵng. Vắng mặt
4. Người kháng cáo: Bà Trần Thị Thanh T - là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai gửi đến Tòa án ngày 10/11/2022, quá trình
tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B và người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Phan Q cùng thống nhất trình bày:
Năm 2019, bà Nguyễn Thị B tạo lập được lô đất tại thửa đất số: 1228, tờ bản
đồ số: 7m, địa chỉ: xã Z, huyện V, thành phố Đà Nẵng được UBND huyện V cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số BK496128 ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh lý biến động sang tên
cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019 (gọi tắt là thửa đất 1228).
Ngày 05/8/2019 tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2, vợ chồng bà B
và ông M với bà Trần Thị Thanh T ký kết Hợp đồng ủy quyền số 5134. Nội dung ủy
quyền: cho bà Trần Thị Thanh T quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 1228 cho bà T
để tiện quản lý, giao dịch. Nhưng ngày 09/3/2019 tại Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2, bà B và ông M đã xác lập Giấy xác nhận tài sản riêng số công chứng 1683.
Đồng thời, tại phần cập nhật biến động chỉ có bà B được cập nhật biến động ngày
24/4/2019 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BK 496128 do UBND huyện Hòa Vang cấp ngày 15/5/2012.
Do cùng xác lập 03 Hợp đồng ủy quyền tại 03 thửa đất khác nhau nên Văn phòng
3
công chứng Trần Thị Thanh B2 đã có sự nhầm lẫn để ông Trần Công M tham gia với
vai trò là bên ủy quyền cùng bà B tại Hợp đồng này.
Ngày 14/6/2022, ông Trần Công M chết. Ngày 29/9/2022, bà B gửi thông báo
cho bà T để chấm dứt ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền số 5134 từ ngày 29/9/2022,
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo bà T cần liên hệ với bà B để
bàn giao Bản chính GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số BK 496128 ngày 15/5/2012. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hạn mà bà T vẫn không
liên hệ để thực hiện các yêu cầu tại Thông báo. Do đó, bà B yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tuyên bố chấm dứt hiệu lực đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 05/8/2019 do
vợ chồng bà B, ông M và bà Thanh T ký kết tại Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2;
- Buộc bà Thanh T trả lại cho bà B bản chính GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số BK 496128 do UBND huyện V cấp ngày 15/5/2012,
cập nhật biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019.
* Tại đơn trình bày ngày 23/12/2022 cũng như trong quá trình tham gia tố tụng
và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Trần Thị Thanh T và người đại diện theo ủy quyền
của bị đơn cùng thống nhất trình bày:
Ngày 05/8/2019 vợ chồng bà B, ông M và bà T ký kết Hợp đồng ủy quyền công
chứng số 5134 tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2. Về hình thức, đây là
Hợp đồng ủy quyền nhưng thực chất là hành vi chuyển nhượng tài sản thông qua Hợp
đồng ủy quyền và giá chuyển nhượng là 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu
đồng) vì:
- Nội dung Điều 1 của Hợp đồng ủy quyền: “Quản lý sử dụng đối với thửa đất
và tài sản gắn liền với đất nêu trên. Nộp các khoản phí lệ phí hàng năm theo đúng
quy định của pháp luật; được quyền thay mặt Bên A dùng quyền sử dụng đối với thửa
đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên để thế chấp, bảo lãnh vay vốn ngân hàng;
Được quyền chuyển nhượng sử dụng với thửa đất và tài sản gắn liền với đất trên”.
Nội dung trên cho thấy đây là hành vi chuyển nhượng tài sản thông qua hình thức
Hợp đồng ủy quyền, người được ủy quyền có đầy đủ các quyền sở hữu tài sản riêng
là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt (khoản 1 Điều 179, khoản 2
Điều 188, Điều 190, Điều 192, Điều 194 Bộ luật Dân sự). Bà T là chủ thể được nắm
giữ trực tiếp tài sản cũng như bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng lô đất.
- Việc chuyển nhượng QSDĐ của ông M và bà B cho bà T cùng các anh chị
em khác như bà T2; bà H thông qua Hợp đồng ủy quyền diễn ra nhiều lần vì lý do:
Mục đích mua đất là để kinh doanh và không có nhu cầu ở nên bà T và các chị em
khác ký hợp đồng ủy quyền sẽ linh hoạt hơn, vì nếu ký hợp đồng chuyển nhượng sẽ
mất thêm khoản phí lớn và thủ tục kéo dài; là anh chị em ruột nên bà T và anh chị em
4
cùng thỏa thuận đồng ý việc mua bán đất thông qua Hợp đồng ủy quyền mà không
cần có văn bản nào; việc ký hợp đồng ủy quyền do bà T thực hiện và việc thực hiện
mua bán thông qua hình thức đó của các người khác trong gia đình gồm bà T2, bà
H,...đều được sự hướng dẫn của ông M, bà B và Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2, cụ thể như sau:
Ngày 05/8/2019, ông M, bà B bán cho bà T thửa đất số 1037, tờ bản đồ 13m,
địa chỉ: Thôn F3, xã Z, huyện V, TP. Đà Nẵng theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản gắn liền với đất số BĐ623141 do UBND huyện V cấp ngày 10/3/2011 qua
hợp đồng ủy quyền số công chứng 5135 tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh
B2. Ngày 21/02/2020, vợ chồng ông M, bà B cùng bà T, ông H đến Văn phòng công
chứng Trần Thị Thanh B2 để tiến hành việc mua bán. Tại đây, ông M, bà B đã huỷ
bỏ hợp đồng ủy quyền số công chứng 658 với bà T và tiếp tục ký Hợp đồng uỷ quyền
số công chứng 657 với ông Ngô Tấn H. Sau khi ông M, bà B ký Hợp đồng uỷ quyền
cho ông H xong, ông H là người trực tiếp đưa cho bà T số tiền mua lô đất trên là:
600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) bằng tiền mặt. Căn cứ theo lời khai của ông
H thì ông M, bà B chỉ là người ký Hợp đồng uỷ quyền cho ông H và không nhận bất
kỳ khoản tiền nào.
Trong thời gian này giữa ông M, bà B và bà H có ký Hợp đồng ủy quyền số:
5129, quyển số: 103 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh
B2 đối với thửa đất số: 931, tờ bản đồ 13m ngày 05/8/2019. Tất cả các nội dung tại
các Điều; khoản; chi tiết của Hợp đồng 5129 và Hợp đồng ủy quyền với bà T là như
nhau, đặc biệt là Điều 1 quy định về phạm vi ủy quyền. Dựa trên cơ sở pháp lý của
Hợp đồng ủy quyền số 5129, đến ngày 15/2/2022 khi có khách mua, bà H đã toàn
quyền chuyển nhượng thửa đất số 931, tờ bản đồ 13m thông qua Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số: 873, quyển số 01/2022-TP/CC-HĐGD tại Văn phòng
công chứng Trần Thị Thanh B2 giữa người bán tài sản là bà H với người mua là ông
Võ Ngọc T3 và bà Nguyễn Thị T4. Điều này, đã chứng M Bên được ủy quyền có toàn
quyền định đoạt và quyền sở hữu tài sản mà không cần thông qua ý kiến ông M và bà
B.
Đối với Hợp đồng ủy quyền giữa ông M, bà B và bà T, do ông M đột ngột qua
đời nên quyền sở hữu, quyền định đoạt của bà T vô tình bị hạn chế chứ không phải là
bà T không có quyền định đoạt. Do biết việc hạn chế này, nên bà B đã khởi kiện bà
T. Trường hợp trước ngày ông M đột tử (ngày 04/6/2022), tài sản trong Hợp đồng ủy
quyền đã được bà T toàn quyền bán cho người khác thì bà B chắc chắn không có cơ
sở để khởi kiện. Việc chuyển nhượng của bà B và ông M thông qua các Hợp đồng ủy
quyền cho mọi người trong gia đình ngoài những trường hợp đã tìm được người mua
trước khi ông M chết, còn tồn tại 2 trường hợp chưa tìm được người mua. Bà B đã lợi
5
dụng việc những người này bị hạn chế về quyền định đoạt nên cũng đã làm Đơn khởi
kiện tại Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đối với 2 Hợp đồng ủy quyền đã ký với bà
T2 và bà H.
Vì vậy, việc ông M và bà B ký hàng loạt các Hợp đồng ủy quyền, đồng thời
giao luôn toàn bộ Bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản cho người được
ủy quyền để người đó toàn quyền định đoạt, sở hữu tài sản thì rõ ràng phải có sự trao
đổi, mua bán, chuyển nhượng về giá trị tài sản giữa Bên ủy quyền và Bên được ủy
quyền. Chứ không phải là chỉ giao quyền quản lý sử dụng như Đơn khởi kiện đã nêu.
Về số tiền chuyển nhượng 1.200.000.000 đồng mà bà T đã giao tiền cho ông
M (con ông M là Đ đến nhận) để mua lô đất, sau đó đến Văn phòng công chứng Trần
Thị Thanh B2 ký Hợp đồng ủy quyền. Chiều ngày 04/8/2019, theo sự chỉ đạo của ông
M, Đ đến nhà của bà T, địa chỉ: 86 K, phường Y2, quận J, thành phố Đà Nẵng để lấy
tiền bán lô đất đã nêu, tổng số tiền: 1.200.000.000 đồng. Việc này có số người làm
chứng là những người đã cùng góp tiền để mua lô đất trên gồm: Bà Trần Thị Thanh
H (Chị ruột): Góp 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng), bà Trần Thị
Thanh Thuỷ (Chị ruột): Góp 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) và bà
Lê Thị Thu A (thường xuyên góp vốn): Góp 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi
triệu đồng). Việc giao tiền diễn ra nhanh chóng vì là anh em trong nhà và Đ là cháu
ruột, nên Đ không mở tiền ra đếm mà chỉ mang về theo chỉ đạo của ông M. Sau khi
đã hoàn thành việc giao tiền, nên sáng 05/8/2019 bà B đã đồng ý cùng ông M đến Văn
phòng công chứng Trần Thị Thanh B2 để ký Hợp đồng ủy quyền.
Do đó, bị đơn không đồng ý với toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn và
yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị B trả lại số tiền 1.200.000.000 đồng,
vì đây là số tiền bà T đã đứng ra đại diện để trả tiền cho ông M, bà B để mua lô đất
thông qua hình thức ký Hợp đồng ủy quyền.
* Tại đơn trình bày không để ngày tháng năm gửi đến Tòa án ngày 23/12/2022
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công N trình bày:
Con trai ông là Trần Công M (đã mất) là chồng của bà Nguyễn Thị B. Tại thời
điểm bà Trần Thị Thanh T nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M và
bà B thì bà T có đưa số tiền 1.200.000.000 đồng bằng giá trị lô đất cho ông M và ông
Trần Công Đ. Các bên không sang tên chuyển nhượng chỉ ký hợp đồng ủy quyền vì
là anh em tin tưởng nhau và sẽ thuận tiện hơn khi giao dịch. Đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn thì ông không đồng ý và đề nghị Tòa án yêu cầu nguyên đơn trả
lại số tiền thực tế đã nhận.
* Tại đơn trình bày, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Trần Công Đ trình bày:
6
Năm 2019, mẹ ông là bà Nguyễn Thị B có tạo lập được lô đất tại Thửa đất số:
1228, đã chỉnh lý biến động sang tên cho bà B ngày 24/4/2019. Sau đó, ba mẹ ông là
ông M và bà B với cô ông là bà Trần Thị Thanh T ký kết Hợp đồng uỷ quyền số 5134
ngày 05/8/2019 được Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2 công chứng. Nội
dung ủy quyền là cho bà T quản lý, sử dụng đối với Thửa đất số 1228. Ông Đ không
có nhận số tiền 1.200.000.000 đồng từ bà T. Ba ông Đ là ông Trần Công M mất năm
2022 do bị tai nạn giao thông. Đối với yêu cầu khởi kiện của mẹ ông là bà Nguyễn
Thị B là phù hợp đề nghị Tòa án xem xét, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
bà B.
* Tại bản ý kiến đề ngày 06/6/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
bà Trần Thị Thanh H, bà Lê Thị Thu A và bà Trần Thị Thanh T2 trình bày: Đồng ý
với tất cả nội dung ý kiến phản tố của bà Trần Thị Thanh T.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Trần
Thị Thanh B2: Quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt và không có văn bản trình
bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố
của bị đơn.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 230/2023/DS-ST
ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
quyết định:
- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 157, 244, 227, 228, 229, 271, 272 và 273
Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 117, 422, 562, 569 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền” của
nguyên đơn là bà Nguyễn Thị B đối với bị đơn là bà Trần Thị Thanh T.
1.1. Tuyên chấm dứt hợp đồng ủy quyền ngày 05/8/2019 giữa bà Nguyễn Thị
B, ông Trần Công M và bà Trần Thị Thanh T được Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2 công chứng theo số 5134 quyển số 103TP/CC – SCC/HĐGD.
1.2. Buộc bà Trần Thị Thanh T trả lại cho bà B bản chính GCNQSDĐ, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BK496128 do UBND huyện Hòa Vang cấp
ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh lý biến động sang tên cho bà Nguyễn
Thị B ngày 24/4/2019.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc bà Nguyễn
Thị B trả lại số tiền chuyển nhượng QSDĐ là 1.200.000.000 đồng.
7
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố
tụng, thi hành án dân sự và quyền kháng cáo của đương sự.
* Ngày 10 tháng 10 năm 2023, bị đơn là bà Trần Thị Thanh T có Đơn kháng
cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung:
Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm bác bỏ toàn bộ nội dung về việc chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu bị đơn trả lại sổ. Buộc nguyên đơn phải trả
lại giá trị lô đất tương đương với giá trị tại thời điểm hiện tại được ghi nhận trong
Chứng thư thẩm định giá số 82/CT-TĐG-DNVC ngày 05/9/2023 là 1.729.096.000đ
(Một tỷ bảy trăm hai mươi chín triệu, không trăm chín mươi sáu ngàn đồng) và bị đơn
sẽ trả lại tài sản cho Nguyên đơn là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK496128 do UBND huyện V, thành
phố Đà Nẵng cấp đứng tên bà Nguyễn Thị B.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn, đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi
kiện. Bị đơn, đại diện hợp pháp của bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các
bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại cấp
phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần
Thị Thanh T. Sửa Bản án sơ thẩm số 230/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của TAND
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo hướng:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu chấm
dứt Hợp đồng ủy quyền.
Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số 5134 ngày 05/8/2019 giữa ông Trần Công M,
bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thanh T công chứng tại Văn phòng Công chứng
Trần Thị Thanh B2 vô hiệu. Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Trần Công M, bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị Thanh T đối với thửa đất số
1228, tờ bản đồ số 7m tại địa chỉ Thôn N1, xã Z, huyện V, TP Đà Nẵng có hiệu lực
pháp luật.
Buộc bà Nguyễn Thị B phải trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền 1.729.096.000
đồng. Bà Trần Thị Thanh T có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 496128 do UBND huyện
V cấp ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thanh S, chỉnh lý biến động sang tên cho bà
Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019 sau khi bà B đã thi hành xong nghĩa vụ trả số tiền trên
cho bà Trần Thị Thanh T.
8
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thời hạn, nội dung kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh T: Ngày
27/9/2023, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đưa vụ án “Tranh chấp
hợp đồng ủy quyền” do bà Nguyễn Thị B khởi kiện bà Trần Thị Thanh T ra xét xử, cùng
ngày ban hành bản án số: 230/2023/DS-ST. Bà Trần Thị Thanh T có tham gia phiên
tòa, đến ngày 10/10/2023, bị đơn là bà Trần Thị Thanh T có đơn kháng cáo toàn bộ
bản án sơ thẩm là đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng Dân
sự.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Công N và Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định
tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên
tòa xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên.
[3] Về việc bổ sung tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn tại phiên tòa:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị
B cung cấp các tài liệu mới cho rằng là lời trình bày của những người nhận chuyển
nhượng các thửa đất mà ông M bà B có ủy quyền cho bà Trần Thị Thanh T2, bà Trần
Thị Thanh H, bà Trần Thị Thanh T thể hiện họ đưa tiền chuyển nhượng cho bà B, ông
M; Còn ông Trần Công Đ cung cấp lời xác nhận của hai người bạn với nội dung ngày
04/8/2019 ông Đ không có mặt tại thành phố Đà Nẵng. Đây là những tài liệu, chứng
cứ mà bà B, ông Đ có nghĩa vụ phải giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp
sơ thẩm để chứng M cho yêu cầu khởi kiện của bà B theo quy định tại Điều 96 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà B, người đại diện hợp pháp của bà B, ông Đ không
giải thích được vì sao tại giai đoạn sơ thẩm, giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và
tại phiên tòa ngày 26/3/2024 không cung cấp các tài liệu, chứng cứ này. Đồng thời,
ngoài vụ án tranh chấp hợp đồng ủy quyền với bà T, bà B còn là nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu tuyên chấm dứt các hợp đồng ủy quyền đối với các thửa đất khác, ký
cùng ngày, nội dung tương tự như hợp đồng ký với bà T đối với bị đơn là bà Trần Thị
Thanh T2, bị đơn bà Trần Thị Thanh H và sau khi đã có kết quả xét xử phúc thẩm
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B đối với bà H, bà T2, thì bà B, ông Đ
(con bà B) mới tự đi xác nhận và giao nộp tại phiên tòa các lời khai nêu trên là không
đúng quy định về cung cấp chứng cứ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 287 BLTTDS, nên không có cơ sở để HĐXX xem xét.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh T.
[2.1] Bà Nguyễn Thị B là người có quyền sử dụng đối với thửa đất số: 1228, tờ
bản đồ số: 7m, địa chỉ: Xã Z, huyện V, thành phố Đà Nẵng được UBND huyện Hòa
Vang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
9
gắn liền với đất số BK496128 ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh lý
biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019 (gọi tắt là thửa đất 1228).
[2.2] Ngày 05/8/2019, bà Nguyễn Thị B cùng chồng là ông Trần Công M đã uỷ
quyền cho bà Trần Thị Thanh T theo Hợp đồng uỷ quyền số 5134 được Văn phòng
công chứng Trần Thị Thanh B2 chứng nhận quyển số: 103 TP/CC-SCC/HĐGD (gọi
tắt là Hợp đồng ủy quyền số 5134). Theo đó, ông M và bà B uỷ quyền cho bà T được
quyền quản lý, sử dụng, chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên; được quyền nộp
các khoản phí, lệ phí hàng năm theo đúng quy định của pháp luật; được quyền thế
chấp, bảo lãnh, vay vốn ngân hàng; thời hạn uỷ quyền 10 năm; và đồng thời, ông M
và bà B giao cho bà T bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất
1228. Như vậy, theo nội dung uỷ quyền, ông M và bà B đã chuyển giao cho bà T toàn
bộ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với thửa đất 1228.
[2.3] Theo trình bày của bà Trần Thị Thanh T, thực tế hai bên là chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1228 với giá là 1.200.000.000 đồng nhưng hai bên
không lập hợp đồng chuyển nhượng mà lập Hợp đồng ủy quyền số 5134, bà T đã giao
cho vợ chồng ông M số tiền 1.200.000.000 đồng nhưng vì là chỗ anh em ruột nên hai
bên không ghi giấy giao nhận tiền, gia đình ông M gồm cha, các em ông M và những
người làm chứng trong vụ án đều khai nhận có chứng kiến việc giao nhận tiền này.
Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự trình bày thống nhất, ông Trần
Công M, bà Trần Thị Thanh T cùng bà Trần Thị Thanh H, Trần Thị Thanh T2 (anh
em ruột) cùng kinh doanh mua bán bất động sản trong nhiều năm, mục đích mua đi
bán lại để kiếm lời. Vì ông M là anh ruột của bà T, bà H, bà T2 nên các bên tin tưởng
khi mua hoặc bán thường không ký hợp đồng chuyển nhượng mà ký hợp đồng ủy
quyền toàn bộ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất cho người được ủy quyền,
trong đó có quyền chuyển nhượng đối với thửa đất được ủy quyền. Các bên thực hiện
việc mua bán thông qua hình thức ủy quyền trong một thời gian dài, mục đích để che
dấu quan hệ chuyển nhượng nhằm không phải nộp tiền thuế chuyển nhượng. Tại phiên
tòa phúc thẩm các bên đương sự trình bày và bà B thừa nhận, bà B làm nghề buôn
bán ngoài chợ hằng ngày, mọi việc liên quan đến việc kinh doanh, môi giới bất động
sản đều do chồng là ông M trực tiếp thực hiện, quyết định, bà B không tham gia đến
khi ký hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng tại phòng công chứng thì bà B
mới đến ký. Thực tế giữa ông M, bà B và các em ông M là bà T, bà H, bà T2 đã nhiều
lần thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với nhiều lô đất khác nhau
thông qua hợp đồng ủy quyền cùng nội dung là giao cho người được ủy quyền được
toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt các thửa đất này. Riêng trong ngày
05/8/2019, ông M, bà B đã ký tổng cộng 08 hợp đồng uỷ quyền đối với 08 lô đất khác
nhau cho bà T, bà H và bà T2. Sau khi nhận được chuyển nhượng thông qua các hợp

10
đồng ủy quyền trên, bà T, bà H, bà T2 tìm kiếm được người để nhận chuyển nhượng
lại thì ông M bà B làm thủ tục hủy bỏ hợp đồng ủy quyền đã ký cho bà T, bà H, bà
T2 và ký lại hợp đồng uỷ quyền hoặc hợp đồng chuyển nhượng trực tiếp cho bên nhận
chuyển nhượng mới với mục đích không phải nộp thuế. Và các bên đã thực hiện xong
05 trong số 08 hợp đồng ủy quyền trong ngày 05/8/2019 thông qua hình thức nêu trên,
còn lại 03 hợp đồng ủy quyền do chưa tìm được người nhận chuyển nhượng thì ông
M chết. Đối với những lần đã chuyển nhượng thì người nhận chuyển nhượng đều trình
bày giao dịch qua người được ủy quyền là bà T, bà H, bà T2, chỉ khi Công chứng Hợp
đồng chuyển nhượng hoặc lập hợp đồng uỷ quyền trực tiếp cho bên nhận chuyển
nhượng mới thì mới có mặt ông M và bà B và tiền nhận chuyển nhượng thì giao trực
tiếp cho bà T, bà H, bà T2.
Do vậy, có cơ sở xác định nội dung trình bày của bà T là có cơ sở, có căn cứ
xác định thực tế ông M, bà B đã chuyển nhượng thửa đất số 1228 cho bà T, các bên
không lập Hợp đồng chuyển nhượng mà lập Hợp đồng ủy quyền. Bà T đã giao số tiền
nhận chuyển nhượng là 1.200.000.000 đồng cho ông M, bà B. Ông M, bà B giao bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 1228 cho bà T. Như vậy, trong trường
hợp này, Hợp đồng uỷ quyền số 5134 giữa các bên là giả tạo để che giấu giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng đối với thửa đất số 1228, do đó Hợp đồng uỷ quyền
số 5134 là vô hiệu, còn giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 1228 giữa
ông M, bà B cho bà T có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật
Dân sự 2015. Việc ông M chết sau khi ký hợp đồng ủy quyền số 5134 không ảnh
hưởng đến hiệu lực pháp luật của Hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất số 1228.
Bản án sơ thẩm áp dụng các Điều 422, Điều 569 về đơn phương chấm dứt hợp đồng
ủy quyền để tuyên Hợp đồng uỷ quyền số 5134 chấm dứt là đánh giá không toàn diện
chứng cứ, dẫn đến xác định không đúng bản chất giao dịch thật sự giữa các bên khi
xác lập, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng
cáo của bị đơn sửa Bản án sơ thẩm về nội dung này như phân tích trên.
[2.4] Về yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Thanh T: giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng thửa đất 1228 giữa ông M, bà B cho bà T có hiệu lực pháp luật như đã
phân tích nhận định trên, nên bà T có quyền yêu cầu phản tố để yêu cầu Tòa án công
nhận thửa đất số 1228 thuộc quyền sử dụng của bà. Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đối với đất thửa đất 1228 vẫn đứng tên bà B và bà T đồng ý trả lại giấy chứng
nhận thửa đất 1228 cho bà B, chỉ có yêu cầu phản tố và kháng cáo yêu cầu bà B trả
lại giá trị lô đất theo kết quả định giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm vào tháng 9 năm
2023 với số tiền 1.729.096.000 đồng là phù hợp. Bản án sơ thẩm không chấp nhận
yêu cầu phản tố của bà T là không không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bà T.
Do vậy, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bà T, sửa Bản án dân sự sơ thẩm về nội
11
dung này. Thửa đất số 1228 đứng tên bà B được hình thành trong thời kỳ hôn nhân
với ông M, nhưng bà B và ông M đã lập Giấy xác nhận là tài sản riêng của bà B vào
ngày 09/3/2019 tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2, số công chứng 1683.
Do đó, bà B có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền 1.729.096.000 đồng cho bà T,
đồng thời bà T phải có trách nhiệm trả lại cho bà B Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của thửa đất 1228 nêu trên.
[3] Từ những phân tích nhận định trên, HĐXX chấp nhận ý kiến của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa, chấp nhận toàn bộ kháng
cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh T; Sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhận định trên.
[4] Về án phí sơ thẩm:
[4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
- Bà Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng do không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện về việc chấm dứt Hợp đồng ủy quyền, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án
phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0002196 ngày 10/11/2022 của Chi
cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí là [36.000.000 đồng + (929.096.000 x 3%)
= 63.872.880 đồng, do yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Thanh T được chấp nhận.
- Bà Trần Thị Thanh T không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Trần
Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí 24.000.000 đồng đã nộp, theo Biên lai thu số
0009478 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng.
[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên bà Trần Thị
Thanh T không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị
quyết số: 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội. Bà T được trả lại số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số
0001891 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng.
[5] Về chi phí tố tụng gồm:
Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện
không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Nguyễn Thị B phải chịu, đã nộp và chi
xong.
Chi phí thẩm định giá tài sản là 12.936.000 đồng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị
B phải chịu do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và yêu cầu phản tố của bị
đơn Trần Thị Thanh T được chấp nhận, theo quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015. Tuy nhiên, tại giai đoạn sơ thẩm bị đơn bà T tự nguyện chịu, đã

12
nộp và chi xong, do đó không buộc bà B phải trả lại cho bà T chi phí thẩm định giá
này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 124, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh T.
Sửa Bản án số: 230/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 v/v “Tranh chấp
hợp đồng ủy quyền” của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B về
việc yêu cầu chấm dứt Hợp đồng ủy quyền số 5134, ngày 05/8/2019, được Văn phòng
Công chứng Trần Thị Thanh B2 chứng nhận, quyển số: 103 TP/CC-SCC/HĐGD, giữa
ông Trần Công M, bà Nguyễn Thị B với bà Trần Thị Thanh T.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Thanh T.
2.1. Tuyên bố Hợp đồng uỷ quyền số 5134, ngày 05/8/2019, được Văn phòng
Công chứng Trần Thị Thanh B2 chứng nhận, quyển số; 103 TP/CC-SCC/HĐGD, giữa
ông Trần Công M, bà Nguyễn Thị B với bà Trần Thị Thanh T là vô hiệu.
2. Buộc bà Nguyễn Thị B phải trả lại cho bà Trần Thị Thanh T số tiền là
1.729.096.000 đồng, tương ứng với giá trị của thửa đất số: 1228, tờ bản đồ số: 7m,
địa chỉ: Xã Z, huyện V, thành phố Đà Nẵng được UBND huyện Hòa Vang cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số BK496128 ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh lý biến động sang tên
cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
3. Bà Trần Thị Thanh T phải có nghĩa vụ giao trả bản gốc Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK496128
ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh lý biến động sang tên cho bà Nguyễn
Thị B ngày 24/4/2019 cho bà Nguyễn Thị B.

13
4. Về án phí:
4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị B phải chịu là (300.000 đồng + 63.872.880 đồng) =
64.172.880 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo
Biên lai thu số 0002196 ngày 10/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Số tiền bà B còn phải nộp là 63.872.880 đồng.
- Hoàn trả cho bà Trần Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí 24.000.000 đồng
đã nộp, theo Biên lai thu số 0009478 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân
sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trần Thị Thanh T không phải chịu án phí
phúc thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số
0001891 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng.
5. Về chi phí tố tụng gồm:
Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị B phải
chịu, đã nộp và chi xong.
Chi phí thẩm định giá tài sản là 12.936.000 đồng, bà Trần Thị Thanh T tự
nguyện chịu, đã nộp và chi xong.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Chi Cục THADS quận Cẩm Lệ;
- Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Cao Văn Hiếu
14
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng