Bản án số 118/2024/DS-PT ngày 11/06/2024 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 118/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 118/2024/DS-PT ngày 11/06/2024 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 118/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 14/6/2022, ông Trần Công M chết. Ngày 29/9/2022, bà B gửi thông báo cho bà T để chấm dứt ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền số 5134 từ ngày 29/9/2022, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo bà T cần liên hệ với bà B để bàn giao Bản chính GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 496128 ngày 15/5/2012. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hạn mà bà T vẫn không liên hệ để thực hiện các yêu cầu tại Thông báo. Do đó, bà B yêu cầu Tòa án giải quyết. - Tuyên bố chấm dứt hiệu lực đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 05/8/2019 do vợ chồng bà B, ông M và bà Thanh T ký kết tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2; - Buộc bà Thanh T trả lại cho bà B bản chính GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 496128 do UBND huyện V cấp ngày 15/5/2012, cập nhật biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 118/2024/DS - PT
Ngày: 11/6/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng ủy
quyền
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Vũ Việt Dũng
Trần Thị
- Thư phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm, Thư Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Lương Thị Chung
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét
xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số: 204/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng
11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 230/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của
Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2024/QĐ-PT ngày 10
tháng 1 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 62/2024/QĐ – PT ngày
02 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 88/2024/QĐ PT
ngày 01 tháng 03 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 128/2024/QĐPT-
DS ngày 26 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971; CCCD số 04817100xxxx;
Địa chỉ: Thôn D , xã E, huyện F, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Phan Q, sinh năm
1995; CCCD số 04909501xxxx; Địa chỉ liên hệ: Số 52 đường G, phường H, quận L,
TP. Đà Nẵng. Có mặt
2. Bị đơn: Trần Thị Thanh T, sinh năm 1969; CCCD số 04816900xxxx;
Địa chỉ: Số 86 đường K, quận J, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Hoài B1, sinh năm
1989, CCCD số 04908900xxxx ông Nguyễn Đức T1, sinh m 1989, CCCD số
02708900xxxx; Cùng địa chỉ liên hệ: Số 141 đường M, phường X, quận J, thành phố
Đà Nẵng. Có mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Công N, sinh năm 1935; Địa chỉ: Thôn O, M, huyện V, thành
phố Đà Nẵng. Vắng mặt
3.2. Ông Trần Công Đ, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Thôn O, M, huyện V,
thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3.3. Trần Thị Thanh H, sinh năm 1970, CCCD số 04817000xxxx; Địa
chỉ: Số 02 đường P, phường Y, quận R, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3.4. Trần Thị Thanh T2, sinh năm 1975, CCCD số 04817500xxxx; Địa
chỉ: Số 09 đường X1, phường Y, quận R, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3.5. Thị Thu A, sinh năm 1977, CCCD số 04817700xxxx; Địa chỉ:
K19A/19 đường S, phường U, quận R, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
3.6. Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2; Địa chỉ: Đường Y2, Thôn
V2, xã G2, huyện V, TP.Đà Nẵng. Vắng mặt
4. Ni kháng cáo: Trần Thị Thanh T - là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai gửi đến Tòa án ngày 10/11/2022, quá trình
tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị B và người đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Phan Q cùng thống nhất trình bày:
Năm 2019, Nguyễn Thị B tạo lập được đất tại thửa đất số: 1228, tờ bản
đồ số: 7m, địa chỉ: xã Z, huyện V, thành phĐà Nẵng được UBND huyện V cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất
số BK496128 ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh lý biến động sang tên
cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019 (gọi tắt là thửa đất 1228).
Ngày 05/8/2019 tại Văn phòng ng chứng Trần Thị Thanh B2, vợ chồng B
và ông M với bà Trần Thị Thanh T ký kết Hợp đồng ủy quyền số 5134. Nội dung ủy
quyền: cho bà Trần Thị Thanh T quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 1228 cho bà T
để tiện quản lý, giao dịch. Nhưng ngày 09/3/2019 tại Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2, B ông M đã xác lập Giấy xác nhận tài sản riêng số công chứng 1683.
Đồng thời, tại phần cập nhật biến động chỉ B được cập nhật biến động ngày
24/4/2019 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BK 496128 do UBND huyện Hòa Vang cấp ngày 15/5/2012.
Do cùng xác lập 03 Hợp đồng ủy quyền tại 03 thửa đất khác nhau nên Văn phòng
3
công chứng Trần Thị Thanh B2 đã sự nhầm lẫn để ông Trần Công M tham gia với
vai trò là bên ủy quyền cùng bà B tại Hợp đồng này.
Ngày 14/6/2022, ông Trần Công M chết. Ngày 29/9/2022, bà B gửi thông báo
cho bà T để chấm dứt ủy quyền theo Hợp đồng ủy quyền số 5134 từ ngày 29/9/2022,
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo bà T cần liên hệ với B để
bàn giao Bản chính GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số BK 496128 ngày 15/5/2012. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hạn T vẫn không
liên hệ để thực hiện các yêu cầu tại Thông báo. Do đó, B yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tuyên bố chấm dứt hiệu lực đối với Hợp đồng ủy quyền ngày 05/8/2019 do
vợ chồng B, ông M bà Thanh T ký kết tại Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2;
- Buộc bà Thanh T trả lại cho B bản chính GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số BK 496128 do UBND huyện V cấp ngày 15/5/2012,
cập nhật biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019.
* Tại đơn trình bày ngày 23/12/2022 cũng như trong quá trình tham gia tố tụng
tại phiên tòa thẩm, bị đơn Trần Thị Thanh T người đại diện theo ủy quyền
của bị đơn cùng thống nhất trình bày:
Ngày 05/8/2019 vợ chồng B, ông M bà T kết Hợp đồng ủy quyền ng
chứng số 5134 tại Văn phòng công chng Trần Thị Thanh B2. Về hình thức, đây là
Hợp đồng ủy quyền nhưng thực chất hành vi chuyển nhượng tài sản thông qua Hợp
đồng ủy quyền giá chuyển nhượng 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu
đồng) vì:
- Nội dung Điều 1 của Hợp đồng ủy quyền: Quản lý sử dụng đối với thửa đất
tài sản gắn liền với đất nêu trên. Nộp các khoản phí lệ phí hàng năm theo đúng
quy định của pháp luật; được quyền thay mặt n A dùng quyền sử dụng đối với thửa
đất tài sản gắn liền với đất nêu trên để thế chấp, bảo lãnh vay vốn ngân hàng;
Được quyền chuyển nhượng sử dụng với thửa đất tài sản gắn liền với đất trên”.
Nội dung trên cho thấy đây hành vi chuyển nhượng tài sản thông qua hình thức
Hợp đồng ủy quyền, người được ủy quyền đầy đủ các quyền sở hữu tài sản riêng
là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt (khoản 1 Điều 179, khoản 2
Điều 188, Điều 190, Điều 192, Điều 194 Bộ luật Dân sự). Bà T là chủ thể được nắm
giữ trực tiếp tài sản cũng như bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng lô đất.
- Việc chuyển nhượng QSDĐ của ông M B cho T ng các anh chị
em khác như T2; H thông qua Hợp đồng ủy quyền diễn ra nhiều lần do:
Mục đích mua đất để kinh doanh không nhu cầu nên bà T các chị em
khác ký hợp đồng ủy quyền sẽ linh hoạt hơn, vì nếu hợp đồng chuyển nhượng sẽ
mất thêm khoản phí lớn và thủ tục kéo dài; anh chem ruột nên T anh chị em
4
cùng thỏa thuận đồng ý việc mua bán đất thông qua Hợp đồng ủy quyền không
cần văn bản nào; việc ký hợp đồng ủy quyền do T thực hiệnviệc thực hiện
mua bán thông qua hình thức đó của các người khác trong gia đình gồm T2,
H,...đều được sự hướng dẫn của ông M, B Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2, cụ thể như sau:
Ngày 05/8/2019, ông M, B bán cho T thửa đất s1037, tờ bản đồ 13m,
địa chỉ: Thôn F3, xã Z, huyện V, TP. Đà Nẵng theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà
và tài sản gắn liền với đất số BĐ623141 do UBND huyện V cấp ngày 10/3/2011 qua
hợp đồng ủy quyền số công chứng 5135 tại n phòng công chứng Trần Thị Thanh
B2. Ngày 21/02/2020, vợ chồng ông M, bà B cùng bà T, ông H đến Văn phòng công
chứng Trần Thị Thanh B2 để tiến hành việc mua n. Tại đây, ông M, B đã huỷ
bỏ hợp đồng ủy quyền số công chứng 658 với T tiếp tục ký Hợp đồng uỷ quyền
số công chứng 657 với ông Ngô Tấn H. Sau khi ông M, bà B ký Hợp đồng uỷ quyền
cho ông H xong, ông H người trực tiếp đưa cho T số tiền mua đất trên là:
600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) bằng tiền mặt. Căn cứ theo lời khai của ông
H thì ông M, bà B chỉ là người ký Hợp đồng uỷ quyền cho ông H không nhận bất
kỳ khoản tiền nào.
Trong thời gian này giữa ông M, B H Hợp đồng y quyền số:
5129, quyển số: 103 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh
B2 đối với thửa đất số: 931, tbản đồ 13m ngày 05/8/2019. Tất cả các nội dung tại
các Điều; khoản; chi tiết của Hợp đồng 5129 và Hợp đồng y quyền với bà T là như
nhau, đặc biệt Điều 1 quy định về phạm vi ủy quyền. Dựa trên sở pháp của
Hợp đồng ủy quyền số 5129, đến ngày 15/2/2022 khi khách mua, H đã toàn
quyền chuyển nhượng thửa đất số 931, tờ bản đồ 13m thông qua Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số: 873, quyển số 01/2022-TP/CC-HĐGD tại Văn phòng
công chứng Trần Thị Thanh B2 giữa người bán tài sản là bà H với người mua là ông
Ngọc T3 và Nguyễn Thị T4. Điều này, đã chứng M Bên được ủy quyền toàn
quyền định đoạt quyền sở hữu i sản mà không cần thông qua ý kiến ông M và
B.
Đối với Hợp đồng ủy quyền giữa ông M, bà B và bà T, do ông M đột ngột qua
đời nên quyền sở hữu, quyền định đoạt củaT tình bị hạn chế chứ không phải là
T không quyền định đoạt. Do biết việc hạn chế này, nên B đã khởi kiện
T. Trường hợp trước ngày ông M đột tử (ngày 04/6/2022), tài sản trong Hợp đồng ủy
quyền đã được T toàn quyền bán cho người khác thì bà B chắc chắn không có cơ
sở để khởi kiện. Việc chuyển nhượng của B và ông M thông qua các Hợp đồng ủy
quyền cho mọi người trong gia đình ngoài những trường hợp đã tìm được người mua
trước khi ông M chết, còn tồn tại 2 trường hợp chưa tìm được người mua. Bà B đã lợi
5
dụng việc những người này bị hạn chế về quyền định đoạt nên cũng đã làm Đơn khởi
kiện tại Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đối với 2 Hợp đồng ủy quyền đã ký với
T2 và bà H.
vậy, việc ông M B hàng loạt các Hợp đồng ủy quyền, đồng thời
giao luôn toàn bộ Bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản cho người được
ủy quyền để người đó toàn quyền định đoạt, sở hữu tài sản thì rõ ràng phải có sự trao
đổi, mua bán, chuyển nhượng về giá trị tài sản giữa Bên ủy quyền Bên được ủy
quyền. Chứ không phải chỉ giao quyền quản lý sử dụng như Đơn khởi kiện đã nêu.
Về số tiền chuyển nhượng 1.200.000.000 đồng T đã giao tiền cho ông
M (con ông M là Đ đến nhận) để mua lô đất, sau đó đến Văn phòng công chứng Trần
Thị Thanh B2 Hợp đồng y quyền. Chiều ngày 04/8/2019, theo sự chỉ đạo của ông
M, Đ đến nhà của bà T, địa chỉ: 86 K, phường Y2, quận J, thành phố Đà Nẵng để lấy
tiền bán đất đã nêu, tổng stiền: 1.200.000.000 đồng. Việc này số người làm
chứng những người đã cùng góp tiền để mua đất trên gồm: Bà Trần Thị Thanh
H (Chị ruột): Góp 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng), Trần Th
Thanh Thuỷ (Chị ruột): Góp 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) và
Thị Thu A (thường xuyên góp vốn): Góp 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi
triệu đồng). Việc giao tiền diễn ra nhanh chóng anh em trong nhà Đ cháu
ruột, nên Đ không mở tiền ra đếm mà chmang về theo chỉ đạo của ông M. Sau khi
đã hoàn thành việc giao tiền, nên sáng 05/8/2019 B đã đồng ý cùng ông M đến Văn
phòng công chứng Trần Thị Thanh B2 để ký Hợp đồng ủy quyền.
Do đó, bị đơn không đồng ý với toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn
yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị B trả lại số tiền 1.200.000.000 đồng,
đây số tiền T đã đứng ra đại diện để trả tiền cho ông M, B để mua đất
thông qua hình thức ký Hợp đồng ủy quyền.
* Tại đơn trình bày không đngày tháng năm gửi đến Tòa án ngày 23/12/2022
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công N trình bày:
Con trai ông là Trần ng M (đã mất) là chồng của bà Nguyễn Thị B. Tại thời
điểm Trần Thị Thanh T nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M
bà B thì bà T có đưa số tiền 1.200.000.000 đồng bằng giá trị lô đất cho ông M và ông
Trần Công Đ. Các bên không sang tên chuyển nhượng chỉ ký hợp đồng ủy quyền vì
anh em tin tưởng nhau sẽ thuận tiện hơn khi giao dịch. Đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn thì ông không đồng ý đề nghị Tòa án yêu cầu nguyên đơn trả
lại số tiền thực tế đã nhận.
* Tại đơn trình bày, quá trình giải quyết tại phiên tòa, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Trần Công Đ trình bày:
6
Năm 2019, mẹ ông là bà Nguyễn Thị B có tạo lập được lô đất tại Thửa đất số:
1228, đã chỉnh lý biến động sang tên cho bà B ngày 24/4/2019. Sau đó, ba mẹ ông là
ông M B với ông Trần Thị Thanh T ký kết Hợp đồng uỷ quyền số 5134
ngày 05/8/2019 được Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2 công chứng. Nội
dung ủy quyền là cho bà T quản lý, sử dụng đối với Thửa đất số 1228. Ông Đ không
có nhận số tiền 1.200.000.000 đồng từ bà T. Ba ông Đ là ông Trần Công M mất năm
2022 do bị tai nạn giao thông. Đối với yêu cầu khởi kiện của mẹ ông Nguyễn
Thị B là phợp đề nghị Tòa án xem xét, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
bà B.
* Tại bản ý kiến đề ngày 06/6/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trần Thị Thanh H, Thị Thu A Trần Thị Thanh T2 trình bày: Đồng ý
với tất cả nội dung ý kiến phản tố của bà Trần Thị Thanh T.
Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Trần
Thị Thanh B2: Quá trình giải quyết vụ án đều vắng mặt không văn bản trình
bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu phản tố
của bị đơn.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự thẩm số: 230/2023/DS-ST
ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
quyết định:
- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 157, 244, 227, 228, 229, 271, 272 273
Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 117, 422, 562, 569 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền” của
nguyên đơn là Nguyễn Thị B đối với bị đơn là bà Trần Thị Thanh T.
1.1. Tuyên chấm dứt hợp đồng ủy quyền ngày 05/8/2019 giữa Nguyễn Thị
B, ông Trần Công M và bà Trần Thị Thanh T được Văn phòng công chứng Trần Thị
Thanh B2 công chứng theo số 5134 quyển số 103TP/CC – SCC/HĐGD.
1.2. Buộc bà Trần Thị Thanh T trả lại cho bà B bản chính GCNQSDĐ, quyền
sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số BK496128 do UBND huyện Hòa Vang cấp
ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh biến động sang tên cho Nguyễn
Thị B ngày 24/4/2019.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc bà Nguyễn
Thị B trả lại số tiền chuyển nhượng QSDĐ là 1.200.000.000 đồng.
7
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí dân sự thẩm, chi phí tố
tụng, thi hành án dân sự và quyền kháng cáo của đương sự.
* Ngày 10 tháng 10 năm 2023, bị đơn Trần Thị Thanh T Đơn kháng
cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung:
Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm bác bỏ toàn bộ nội dung về việc chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu bị đơn trả lại sổ. Buộc nguyên đơn phải trả
lại giá trị đất tương đương với giá trị tại thời điểm hiện tại được ghi nhận trong
Chứng thư thẩm định giá số 82/CT-TĐG-DNVC ngày 05/9/2023 1.729.096.000đ
(Một t bảy trăm hai mươi chín triệu, không trăm chín mươi sáu ngàn đồng) và bị đơn
sẽ trả lại tài sản cho Nguyên đơn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất sBK496128 do UBND huyện V, thành
phố Đà Nẵng cấp đứng tên bà Nguyễn Thị B.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn, đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi
kiện. Bị đơn, đại diện hợp pháp của bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các
bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành ttụng và tham gia tố tụng tại cấp
phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị XX chp nhn kháng cáo ca b đơn Trần
Th Thanh T. Sa Bản án thẩm s 230/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 ca TAND
qun Cm L, thành ph Đà Nẵng theo hưng:
Không chp nhn yêu cu khi kin ca Nguyn Th B v vic yêu cu chm
dt Hợp đồng y quyn.
Tuyên b Hợp đồng y quyn s 5134 ngày 05/8/2019 gia ông Trn Công M,
Nguyn Th B Trn Th Thanh T công chng tại Văn phòng Công chứng
Trn Th Thanh B2 vô hiu. Công nhn giao dch chuyển nhượng quyn s dụng đất
gia ông Trn Công M, bà Nguyn Th B bà Trn Th Thanh T đối vi thửa đất s
1228, t bản đồ s 7m tại địa ch Thôn N1, Z, huyn V, TP Đà Nẵng có hiu lc
pháp lut.
Buc Nguyn Th B phi tr cho Trn Th Thanh T s tin 1.729.096.000
đồng. Bà Trn Th Thanh T có nghĩa v giao tr Giy chng nhn quyn s dng đất
quyn s hu nhà và tài sn khác gn lin với đt s BK 496128 do UBND huyn
V cp ngày 15/5/2012 cho ông Nguyn Thanh S, chnh lý biến động sang tên cho bà
Nguyn Th B ngày 24/4/2019 sau khi bà B đã thi hành xong nghĩa vụ tr s tin trên
cho bà Trn Th Thanh T.
8
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thi hạn, nội dung kháng o của bị đơn Trn ThThanh T: Ngày
27/9/2023, Tòa án nhân n quận Cẩm Lệ, tnh phĐà Nng đưa ván Tranh chp
hợp đồng ủy quyn do Nguyn Thị B khởi kiện Trn ThThanh T ra xét xử, ng
ngày ban hành bản án số: 230/2023/DS-ST. Bà Trần Thị Thanh T tham gia phiên
tòa, đến ngày 10/10/2023, bị đơn Trần Thị Thanh T đơn kháng cáo toàn bộ
bản án thẩm đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng Dân
sự.
[2] Về vic vắng mt của đương sự: Tại phn a phúc thẩm, những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trn Công N Văn phòng công chứng Trn Th
Thanh B2 đã đưc Tòa án triu tp hp lệ lần thứ hai nng vng mt. Căn c quy định
tại khon 3 Điều 296 Bộ luật T tụng Dân sự, Hội đồng xét x tiếp tục tiến hành phn
a xét x vng mt đối vi các đương strên.
[3] Vvic bổ sung i liệu, chứng c của nguyên đơn ti phn tòa:
Ti phiên tòa phúc thm, người đại din hp pháp của nguyên đơnTrn Th
B cung cp các tài liu mi cho rng li trình bày ca những người nhn chuyn
nhưng các thửa đất mà ông M B y quyn cho bà Trn Th Thanh T2, bà Trn
Th Thanh H, Trn Th Thanh T th hin h đưa tiền chuyển nhượng cho B, ông
M; Còn ông Trn Công Đ cung cp li xác nhn của hai người bn vi ni dung ngày
04/8/2019 ông Đ không có mt ti thành ph Đà Nẵng. Đây là những tài liu, chng
c mà bà B, ông Đ có nghĩa vụ phi giao np trong quá trình gii quyết v án ti cp
thẩm để chng M cho yêu cu khi kin ca B theo quy định tại Điều 96 B
lut T tng dân s. Tuy nhiên, bà B, người đại din hp pháp ca bà B, ông Đ không
giải thích được sao ti giai đoạnthẩm, giai đon chun b xét x phúc thm
ti phiên tòa ngày 26/3/2024 không cung cp các tài liu, chng c này. Đồng thi,
ngoài v án tranh chp hợp đồng y quyn vi T, B còn nguyên đơn khi
kin yêu cu tuyên chm dt các hợp đồng y quyền đối vi các thửa đt khác,
cùng ngày, nội dung tương tự như hợp đồng vi bà T đối vi b đơn Trn Th
Thanh T2, b đơn Trần Th Thanh H sau khi đã kết qu xét x phúc thm
không chp nhn yêu cu khi kin ca B đối vi bà H, T2, thì B, ông Đ
(con bà B) mi t đi xác nhận và giao np ti phiên tòa các li khai nêu trên không
đúng quy định v cung cp chng c giai đoạn chun b xét x phúc thm theo quy
định ti đim b khon 1 Điu 287 BLTTDS, nên không có cơ sở để HĐXX xem xét.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh T.
[2.1] Nguyễn Thị B là người có quyền sử dụng đối với thửa đất số: 1228, tờ
bản đồ số: 7m, địa chỉ: Xã Z, huyện V, thành phố Đà Nẵng được UBND huyện Hòa
Vang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
9
gắn liền với đất số BK496128 ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh
biến động sang tên cho bà Nguyễn ThB ngày 24/4/2019 (gọi tắt là thửa đất 1228).
[2.2] Ngày 05/8/2019, bà Nguyn Th B cùng chng là ông Trn ng M đã uỷ
quyn cho Trn Th Thanh T theo Hợp đồng u quyn s 5134 được Văn phòng
công chng Trn Th Thanh B2 chng nhn quyn s: 103 TP/CC-SCC/HĐGD (gi
tt là Hợp đng y quyn s 5134). Theo đó, ông M và bà B u quyn cho bà T đưc
quyn qun lý, s dng, chuyển nhượng đối vi thửa đất nêu trên; đưc quyn np
các khon phí, l phí hàng năm theo đúng quy định ca pháp lut; được quyn thế
chp, bo lãnh, vay vn ngân hàng; thi hn u quyền 10 năm; đồng thi, ông M
và bà B giao cho bà T bn gc Giy chng nhn quyn s dụng đất đi vi thửa đất
1228. Nvậy, theo ni dung u quyn, ông M bà B đã chuyển giao cho T toàn
b quyền và nghĩa vụ của người s dụng đt đối vi thửa đất 1228.
[2.3] Theo trình bày ca Trn Th Thanh T, thc tế hai bên chuyển nhượng
quyn s dụng đất đối vi thửa đất 1228 với giá 1.200.000.000 đồng nhưng hai n
không lp hợp đồng chuyển nhượng mà lp Hợp đồng y quyn s 5134, bà T đã giao
cho v chng ông M s tiền 1.200.000.000 đồng nhưng ch anh em rut nên hai
bên không ghi giy giao nhn tin, gia đình ông M gm cha, các em ông M và nhng
ngưi làm chng trong v án đều khai nhn có chng kiến vic giao nhn tin này.
Quá trình giải quyết ván các bên đương sự trình bày thống nhất, ông Trn
Công M, Trn Th Thanh T cùng Trn Th Thanh H, Trn Th Thanh T2 (anh
em rut) cùng kinh doanh mua bán bất động sn trong nhiều năm, mục đích mua đi
bán lại để kiếm li. ông M anh rut ca bà T, bà H, bà T2 nên các bên tin tưởng
khi mua hoặc bán thường không hợp đng chuyển nhượng hợp đồng y
quyn toàn b quyền nghĩa vụ của người s dụng đất cho người được y quyn,
trong đó quyn chuyển nhượng đối vi thửa đất được y quyn. Các n thc hin
vic mua bán thông qua hình thc y quyn trong mt thi gian dài, mục đích để che
dấu quan hệ chuyển nhượng nhằm không phi np tin thuế chuyển nhượng. Ti phiên
tòa phúc thẩm các bên đương s trình bày B tha nhn, B làm ngh buôn
bán ngoài ch hng ngày, mi việc liên quan đến vic kinh doanh, môi gii bất động
sản đều do chng là ông M trc tiếp thc hin, quyết định, bà B không tham gia đến
khi ký hợp đồng y quyn, hợp đồng chuyển nhượng ti phòng công chng thì bà B
mới đến ký. Thc tế gia ông M, bà B các em ông M T, bà H, T2 đã nhiu
ln thc hin vic chuyển nhượng quyn s dụng đất đối vi nhiều đất khác nhau
thông qua hợp đng y quyn cùng nội dung là giao cho người được ủy quyền được
toàn quyền quản lý, sử dụng định đoạt các thửa đất này. Riêng trong ngày
05/8/2019, ông M, B đã ký tổng cng 08 hợp đồng u quyền đối với 08 lô đt khác
nhau cho bà T, bà H và bà T2. Sau khi nhn được chuyển nhượng thông qua các hp
10
đồng y quyn trên, bà T, bà H, bà T2 tìm kiếm được người để nhận chuyển nhượng
lại thì ông M B làm thtục hủy bỏ hợp đồng ủy quyền đã cho T, H,
T2 lại hợp đồng uỷ quyền hoặc hợp đồng chuyển nhượng trực tiếp cho bên nhận
chuyển nhượng mới với mục đích không phải nộp thuế. Và các bên đã thực hiện xong
05 trong số 08 hợp đồng ủy quyền trong ngày 05/8/2019 thông qua hình thức nêu trên,
còn lại 03 hợp đồng ủy quyền do chưa tìm được người nhận chuyển nhượng thì ông
M chết. Đối với những lần đã chuyển nhượng thì người nhận chuyển nợng đều trình
bày giao dịch qua người được ủy quyền là T, H, T2, chỉ khi Công chứng Hợp
đồng chuyển nhượng hoặc lập hợp đồng uỷ quyền trực tiếp cho bên nhận chuyển
nhượng mới thì mới có mặt ông M và bà B và tiền nhận chuyển nhượng thì giao trực
tiếp cho bà T, bà H, T2.
Do vậy, sở xác định nội dung trình bày của T sở, căn cứ
xác định thực tế ông M, B đã chuyển nhượng thửa đất s 1228 cho T, các bên
không lập Hợp đồng chuyển nhượng mà lập Hợp đồng ủy quyền. T đã giao s tin
nhn chuyển nhượng là 1.200.000.000 đồng cho ông M, bà B. Ông M, bà B giao bn
chính giy chng nhn quyn s dng thửa đất 1228 cho T. Như vậy, trong trường
hợp này, Hợp đồng uỷ quyền số 5134 giữa các bên giả tạo để che giu giao dch
chuyển nhượng quyn s dng đối vi tha đất s 1228, do đó Hợp đồng u quyn
số 5134 là vô hiệu, còn giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 1228 gia
ông M, B cho T hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điu 124 ca B lut
Dân s 2015. Vic ông M chết sau khi hợp đồng y quyn số 5134 không nh
ởng đến hiu lc pháp lut ca Hp đồng chuyển nhượng đối vi thửa đất s 1228.
Bản án sơ thẩm áp dụng các Điều 422, Điu 569 v đơn phương chấm dt hợp đồng
y quyền để tuyên Hợp đồng u quyn s 5134 chm dứt đánh giá không toàn din
chng c, dẫn đến xác định không đúng bản cht giao dch tht s gia các bên khi
xác lp, làm ảnh hưởng đến quyn li ca b đơn. vy, căn cứ chp nhn kháng
cáo ca b đơn sửa Bản án sơ thẩm v nội dung này như phân tích trên.
[2.4] Về yêu cầu phản tố của Trần Thị Thanh T: giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng thửa đất 1228 gia ông M, B cho T hiệu lực pháp luật như đã
phân tích nhận định trên, nên bà T có quyn yêu cu phn t để yêu cu Tòa án công
nhn thửa đất s 1228 thuc quyn s dng ca bà. Tuy nhiên, giy chng nhn quyn
s dng đối vi đất thửa đất 1228 vẫn đứng tên bà B T đồng ý tr li giy chng
nhn thửa đất 1228 cho bà B, ch yêu cu phn t kháng cáo yêu cu B trả
lại giá trị đất theo kết quả định giá ti thời điểm xét x thẩm vào tháng 9 năm
2023 vi s tin 1.729.096.000 đồng phù hợp. Bản án thẩm không chấp nhận
yêu cầu phản tố của bà T là không không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bà T.
Do vậy, HĐXX chấp nhận kháng cáo của T, sửa Bản án dân sự thẩm về nội
11
dung này. Thửa đất số 1228 đứng tên B đưc hình thành trong thi k hôn nhân
vi ông M, nhưng bà B và ông M đã lập Giấy xác nhận tài sản riêng của B vào
ngày 09/3/2019 tại Văn phòng công chứng Trần Thị Thanh B2, số công chứng 1683.
Do đó, bà B có trách nhiệm thanh toán toàn bộ s tin 1.729.096.000 đồng cho bà T,
đồng thời bà T phi có trách nhim tr li cho B Giy chng nhn quyn s dng
đất ca thửa đất 1228 nêu trên.
[3] Từ những phân tích nhận định trên, HĐXX chấp nhận ý kiến của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa, chấp nhận toàn bộ kháng
cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh T; Sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhận định trên.
[4] Về án phí sơ thẩm:
[4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
- Bà Nguyn Th B phi chịu 300.000 đồng do không chp nhn yêu cu khi
kin v vic chm dt Hợp đồng y quyn, nhưng được tr vào s tin tm ng án
phí 300.000 đng đã np theo Biên lai thu s 0002196 ngày 10/11/2022 ca Chi
cc Thinh án dân s qun Cm L, tnh ph Đà Nẵng.
- Nguyn Th B phi chu án phí [36.000.000 đồng + (929.096.000 x 3%)
= 63.872.880 đồng, do yêu cu phn t ca bà Trn Th Thanh T đưc chp nhn.
- Trần Thị Thanh T không phải chịu án phí thẩm. Hoàn trả cho bà Trần
Thị Thanh T s tin tm ứng án phí 24.000.000 đồng đã nộp, theo Biên lai thu s
0009478 ny 25/4/2023 ca Chi cc Thi hành ánn s qun Cm L, thành ph
Đà Nẵng.
[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên Trần Thị
Thanh T không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị
quyết số: 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc
hội. T được trả lại số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số
0001891 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng.
[5] Về chi phí tố tụng gồm:
Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện
không được chấp nhận nên nguyên đơn Nguyễn Thị B phải chịu, đã nộp chi
xong.
Chi phí thẩm định giá tài sản12.936.000 đồng, nguyên đơn Nguyễn Thị
B phải chịu do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận yêu cầu phản tố của bị
đơn Trần Thị Thanh T được chấp nhận, theo quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015. Tuy nhiên, tại giai đoạn thẩm bị đơn T tự nguyện chịu, đã
12
nộp chi xong, do đó không buộc B phải trả lại cho T chi phí thẩm định giá
này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 124, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, min, giảm, thu, nộp, quản
và sử dụng án p, lệ p a án.
Chấp nhận toàn b kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thanh T.
Sửa Bản án số: 230/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 v/v “Tranh chấp
hợp đồng ủy quyền” của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị B v
việc yêu cầu chấm dứt Hợp đồng ủy quyền s5134, ngày 05/8/2019, được Văn phòng
Công chng Trn Th Thanh B2 chng nhn, quyn s: 103 TP/CC-SCC/HĐGD, giữa
ông Trn ng M, bà Nguyn Th B vi bà Trn Th Thanh T.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Thanh T.
2.1. Tuyên bố Hợp đồng u quyn s 5134, ngày 05/8/2019, được Văn phòng
Công chng Trn Th Thanh B2 chng nhn, quyn s; 103 TP/CC-SCC/HĐGD, gia
ông Trn ng M, bà Nguyn Th B vi bà Trn Th Thanh T là hiệu.
2. Buộc Nguyễn Thị B phải trả lại cho Trần Thị Thanh T số tiền
1.729.096.000 đồng, tương ứng với giá trị của thửa đất số: 1228, tờ bản đồ số: 7m,
địa chỉ: Z, huyện V, thành phố Đà Nẵng được UBND huyện Hòa Vang cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất
số BK496128 ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh lý biến động sang tên
cho bà Nguyễn Thị B ngày 24/4/2019.
Kể từ ngàyđơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
3. Bà Trần Thị Thanh T phải nghĩa vụ giao trả bản gốc Giy chng nhn
quyn s dụng đất quyn s hu nhà và tài sn khác gn lin với đất s BK496128
ngày 15/5/2012 cho ông Nguyễn Thành S, chỉnh biến động sang tên cho bà Nguyễn
Thị B ngày 24/4/2019 cho bà Nguyễn Thị B.
13
4. Về án phí:
4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyn Th B phi chịu (300.000 đồng + 63.872.880 đồng) =
64.172.880 đồng, đưc tr vào s tin tm ng án p 300.000 đồng đã np theo
Biên lai thu s 0002196 ngày 10/11/2022 ca Chi cc Thi nh án dân s qun
Cm L, thành ph Đà Nng. S tin bà B còn phi np là 63.872.880 đồng.
- Hoàn trả cho bà Trần Thị Thanh T s tin tm ng án phí 24.000.000 đng
đã np, theo Biên lai thu s 0009478 ngày 25/4/2023 ca Chi cc Thi hành ánn
s qun Cm L, tnh ph Đà Nẵng.
4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trần Thị Thanh T không phải chịu án phí
phúc thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số
0001891 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố
Đà Nẵng.
5. Về chi phí tố tụng gồm:
Chi phi xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng, Nguyễn Thị B phải
chịu, đã nộp và chi xong.
Chi phí thẩm định giá tài sản là 12.936.000 đồng, Trần Thị Thanh T t
nguyện chịu, đã nộp và chi xong.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Chi Cục THADS quận Cẩm Lệ;
- Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Cao Văn Hiếu
14
Tải về
Bản án số 118/2024/DS-PT Bản án số 118/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 118/2024/DS-PT Bản án số 118/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất