Bản án số 117/2026/DS-PT ngày 28/04/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 117/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 117/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 117/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 117/2026/DS-PT ngày 28/04/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 117/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Thị Thanh K - Nguyễn Thị T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 117/2026/DS-PT
Ngày 28/4/2026
V/v “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Việt Dũng
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Bé
Bà Võ Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Chung - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 đến 28 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai
vụ án thụ lý số 20/2026/TLPT-DS ngày
06 tháng 02 năm 2026 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 474/2025/DS-ST ngày 19/12/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 97/2026/QĐ-PT ngày
12/3/2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 165/QĐ-PT ngày 30/3/2026 và
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 185/QĐ-PT ngày 15/4/2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh K1 - Sinh ngày 15/5/1999 - Địa chỉ:
Thôn P, xã X, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Minh L - Sinh năm 1962 - Địa chỉ:
Số 33 B7, phường L, thành phố Đà Nẵng. (Theo giấy ủy quyền ngày 22/10/2025).
(Có mặt).
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T - Sinh năm 1989 - Địa chỉ: Tổ 27 phường N,
thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị T: Bà Đoàn Thị
Diễm K2 - Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV N, thuộc Đoàn Luật sư thành
phố Đà Nẵng. (Có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T, là Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
* Tại đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 06/10/2025, bản trình bày ngày
16/12/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn bà Võ Thị Minh L trình bày:
Bà K1 được người quen giới thiệu tham gia chơi biêu, hụi với bà Nguyễn Thị
T. Sau khi hai bên trao đổi, thỏa thuận về cách thức tham gia chơi biêu, hụi, theo
đó bà K1 có nghĩa vụ đóng đủ tiền theo mức đã xác định; hàng tháng bà T sẽ chuyển
khoản tiền lãi tương ứng với phần “âm hụi” của những người đã hốt hụi (được hiểu
là người hốt hụi bỏ ra bao nhiêu thì bà K1 được hưởng lợi tương ứng bấy nhiêu).
Trên cơ sở đó, từ ngày 21/4/2025 đến ngày 15/6/2025, bà K1 đã nhiều lần chuyển
cho bà T tổng số tiền 457.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu đồng). Việc
chuyển tiền đều thực hiện qua ngân hàng và có chứng từ thể hiện rõ từng lần chuyển.
Sau khi nhận tiền, bà T có lập và gửi cho bà K1 bảng chi tiết tiền lãi hằng ngày
theo phần “âm biêu” của các hụi viên; tuy nhiên trên thực tế bà T không thực hiện
việc chi trả tiền lãi như đã cam kết, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
bà K1 nên bà K1 dừng tham gia và yêu cầu bà T thanh toán. Bà T sau đó đã trả
5.700.000 đồng, số tiền còn lại là 451.300.000 đồng, bà K1 yêu cầu bà T phải thanh
toán đủ số tiền còn nợ.
Đối với văn bản do bà T gửi đến Tòa án ngày 12/12/2025, với nội dung đề
nghị khấu trừ 30% phí khi dừng tham gia, bà K1 không đồng ý, vì:
Trong quá trình tham gia hụi, bà K1 có biết việc bà T đăng tải một số nội
dung quy định chung lên nhóm, trong đó có đề cập đến việc “trừ 30% phí” khi dừng
chơi. Tuy nhiên, đây chỉ là quy định do phía bà T đơn phương đặt ra, không phải
điều khoản hai bên đã trực tiếp thỏa thuận, bàn bạc và thống nhất khi giao dịch. Bà
K1 không ký kết, không xác nhận và cũng không có văn bản nào thể hiện bà K1 đã
đồng ý chấp thuận nội dung này. Do đó, nội dung này không làm phát sinh quyền,
nghĩa vụ ràng buộc đối với bà K1. Hơn nữa, việc bà K1 dừng tham gia là do bà T
3
không thực hiện nghĩa vụ trả lãi hằng ngày như đã trao đổi ban đầu, nên việc yêu
cầu khấu trừ 30% không có cơ sở để chấp nhận.
Mặc khác, bà T còn cho rằng số tiền 187.720.000 đồng chỉ là tiền bà K1 nhờ
bà T chuyển cho người khác nên bà T không có nghĩa vụ thanh toán. Vấn đề này bà
K1 hoàn toàn không đồng ý. Bởi, toàn bộ khoản tiền 457.000.000 đồng đều do bà
K1 trực tiếp chuyển cho bà T, việc bà T sử dụng số tiền này như thế nào, giao cho
ai, hoặc cân đối giữa các hụi viên âm - dương theo cách thức quản lý hụi của bà T,
cũng không làm thay đổi nghĩa vụ thanh toán của bà T đối với bà K1.
Bà K1 xác định: Không thay đổi, không bổ sung, không rút yêu cầu khởi kiện;
giữ nguyên yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị T phải thanh toán đủ số tiền 451.300.000
đồng, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại bản tự khai ngày 10/11/2025 và quá trình tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị
T trình bày:
Tôi xác nhận tính từ ngày 21/4/2025 đến ngày 15/6/2025 bà Nguyễn Thị
Thanh K1 tự nguyện xin tham gia chơi hụi trên sàn biêu của tôi và dương tiền
457.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi bảy triệu đồng).
Đến ngày 15/6/2025, bà K1 thông báo với tôi là ngừng tham gia và chốt số
dương tại lúc này là 457.000.000 đồng, để lại các dây biêu còn dang dở cho tôi tự
tính toán với số tiền chốt dương này. Bà K1 muốn tôi trả góp để lấy lại được số tiền
trên. Tuy nhiên, đến ngày 15/9/2025, vì nhiều người tham gia hụi đồng loạt nghỉ
ngang giống như bà K1 nên tôi thông báo dừng hoạt động và lúc này tôi tiến hành
thu âm từ các hụi viên âm để trả dần cho các hụi viên dương. Ban đầu tôi và bà K1
có thống nhất góp nhỏ và đợi sau một thời gian nữa sẽ tăng dần tiền góp lên, khi
đang góp trả nợ thì đến ngày 04/11/2025 thì tôi nhận được thông báo của Tòa án về
việc bà K1 khởi kiện tôi và buộc tôi phải trả ngay một lần số tiền 457.000.000 đồng.
Tuy nhiên, vào ngày 10/7/2025 đến ngày 09/11/2025, tôi chuyển đã chuyển
tổng 5.700.000 đồng (có chứng từ kèm theo). Số tiền còn lại là: 451.300.000 đồng.
Với nội dung yêu cầu của bà K1 buộc tôi phải hoàn trả ngay một lần số tiền còn nợ
là điều hoàn toàn nằm ngoài khả năng của tôi, mà sẽ theo phương thức góp trước
đó là mỗi ngày trả góp 100.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Ngày 12/12/2025, bị đơn có bản trình bày cho rằng giữa các bên có thỏa thuận
khi hụi viên dừng chơi sẽ bị trừ 30% phí, đồng thời số tiền 187.720.000 đồng bị đơn

4
xác nhận là tiền nguyên đơn “nhờ chuyển hộ cho người khác”, nên không thuộc
nghĩa vụ của bị đơn và đề nghị Tòa án xem xét lại số tiền phải thanh toán.
* Với nội dung vụ án như trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 474/2025/DS-
ST ngày 19/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 466 và
Điều 471 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh K1 đối
với bà Nguyễn Thị T, về việc: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
2. Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị Thanh K1 số tiền
451.300.000 đồng (Bốn trăm năm mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng).
3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu cho đến khi thi hành án
xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357
và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1 Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 22.052.000
đồng (Hai mươi hai triệu không trăm năm mươi hai nghìn đồng).
4.2 Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Thanh K1 số tiền tạm ứng án phí 11.140.000
đồng theo biên lai số 003964 ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà
Nẵng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành
án của các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, Bị đơn là bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo đề
nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 474/2025/DS-ST ngày
19/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T bổ sung nội dung kháng cáo đề
nghị huỷ bản án dân sự sơ thẩm vì không đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan vào tham gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng; Trong trường hợp Toà án
cấp phúc thẩm không huỷ thì đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc
bà T trả số tiền còn lại sau khi đối trừ các khoản tiền bà T đã thanh toán là
89.025.000 đồng; bà K1 mất số tiền 30% số tiền biêu sống và 187.720.000 đồng
5
tiền chồng đậy biêu.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà
Nguyễn Thị T phát biểu luận cứ và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận nội
dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát
biểu về việc giải quyết vụ án như sau:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
+ Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự, Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T và sửa bản án dân sự sơ
thẩm số 474/2025/DS-ST ngày 19/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà
Nẵng theo hướng buộc bà T trả bà K1 số tiền còn lại sau khi đối trừ 30% số tiền
biêu sống vì bà K1 bỏ ngang theo thoả thuận của các bên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện
kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T bổ sung nội dung kháng cáo
đề nghị huỷ bản án dân sự sơ thẩm vì không đưa những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vào tham gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng; Trong trường hợp Toà
án cấp phúc thẩm không huỷ thì đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc
bà T trả số tiền còn lại sau khi đối trừ các khoản tiền bà T đã thanh toán là
89.025.000 đồng; bà K1 mất số tiền 30% số tiền biêu sống và 187.720.000 đồng
tiền chồng biêu đậy. Xét thấy việc bổ sung nội dung kháng cáo không vượt quá
phạm vi kháng cáo ban đầu theo quy định tại Điều 284 của Bộ luật tố tụng dân sự
nên chấp nhận.
[2] Tại Đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn
Thị Thanh K1 yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền 451.300.000 đồng, bà
6
Nguyễn Thị T cũng thừa nhận có nhận tiền tham gia chơi biêu của bà K1, xác nhận
số tiền chốt dương là 457.000.000 đồng và xin được trả dần số tiền trên mà không
có yêu cầu phản tố cũng như đề nghị bổ sung người tham gia tố tụng. Mặc dù bà
K1 không thừa nhận là có tham gia chơi biêu nhưng qua các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án HĐXX xác định bà K1 có tham gia chơi biêu do bà T làm chủ,
tuy nhiên tháng 6/2025 các bên đã thỏa thuận để bà K1 ngừng chơi biêu và xác định
nghĩa vụ trả nợ và trên thực tế sau khi thỏa thuận để bà K1 ngừng chơi biêu bà T đã
trả dần cho bà K1 nhiều lần với tổng số tiền 5.700.000 đồng, do vậy Tòa án cấp sơ
thẩm không bổ sung người chơi biêu vào tham gia tố tụng là có căn cứ. Tuy nhiên,
Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định quan hệ pháp luật là “Đòi tiền chơi biêu” là chưa
chính xác nhưng cũng không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các
đương sự nên Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại quan hệ pháp luật là “Yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ trả tiền” cho phù hợp.
Đối với kháng cáo của bà T cho rằng sau khi bà K1 ngừng chơi biêu thì một
số người đã hốt biêu cũng ngừng chơi nhưng không tiếp tục đóng biêu nên Toà án
cấp sơ thẩm buộc bà T phải trả tiền cho bà K1 là không đúng. HĐXX xét thấy khi
thoả thuận ngừng chơi biêu thì những người ngừng chơi biêu đã có viết cam kết trả
nợ cho bà T nên bà T có thể khởi kiện những người này bằng vụ án dân sự khác.
Do vậy, HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy bản án dân
sự sơ thẩm của bà Nguyễn Thị T.
* Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T kháng cáo đề nghị huỷ bản án dân
sự sơ thẩm vì không đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham
gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng; Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm
không huỷ thì đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc bà T trả số tiền
còn lại sau khi đối trừ các khoản tiền bà T đã thanh toán là 89.025.000 đồng; bà K1
mất số tiền 30% số tiền biêu sống và 187.720.000 đồng tiền chồng đậy biêu. Xét
kháng cáo của bà Nguyễn Thị T thì thấy:
[3] Đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền là 451.300.000
đồng:
Trong quá trình giải quyết vụ án bà K1 có cung cấp tài liệu chứng cứ là nhiều
bản in sao kê tài khoản của bà Nguyễn Thị Thanh K1 tại Ngân hàng, tuy nhiên tại
bản liệt kê giao dịch tài khoản của Ngân hàng thương mại cổ phần K - Chi nhánh
7
Đà Nẵng - Phòng giao dịch H có thể hiện đầy đủ, chi tiết: số tài khoản, tên người
chuyển tiền, thời gian giao dịch, bút toán, tài khoản đối ứng, Ngân hàng đối ứng …
nên HĐXX căn cứ tài liệu, chứng cứ này để làm cơ sở giải quyết vụ án. Theo bản
liệt kê giao dịch tài khoản nêu trên thì trong thời gian từ ngày 21/4/2025 đến ngày
04/6/2025 bà K1 có chuyển khoản cho bà T nhiều lần với tổng số tiền là
503.580.000 đồng nên HĐXX chấp nhận nội dung này;
Ngoài ra bà K1 còn cung cấp chứng cứ thể hiện ngày 15/6/2025 bà K1 có
chuyển cho bà Võ Thị Liên N số tiền 12.870.000 đồng để nhờ bà N đưa số tiền này
cho bà T, tuy nhiên không thể hiện nội dung chuyển tiền, hơn nữa bà T không thừa
nhận có nhận số tiền này nên HĐXX không chấp nhận việc bà K1 có chuyển cho
bà T số tiền 12.870.000 đồng. Nếu sau này bà K1 có chứng cứ cho rằng có chuyển
tiền thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Cũng theo bản sao kê sổ phụ kiêm báo nợ/có do bà T cung cấp thể hiện bà T
có nhiều lần chuyển và nhờ người khác chuyển cho bà K1 với tổng số tiền
89.025.000 đồng, hơn nữa tại phiên tòa phúc thẩm Người đại diện theo ủy quyền
của bà K1 cũng thừa nhận bà T có chuyển cho bà K1 số tiền trên nên sau khi đối
trừ thì bà T còn nợ bà K1 số tiền (503.580.000 đồng - 89.025.000 đồng) =
414.555.000 đồng.
[4] Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc đối trừ số tiền 187.720.000
đồng:
Tại phiên toà phúc thẩm bà T cho rằng trong tổng số tiền bà K1 yêu cầu thanh
toán còn có khoản 187.720.000 đồng là tiền “chồng đậy biêu”, còn bà K1 cho rằng
là số tiền bà K1 “nhờ bị đơn giao hộ” cho người khác. Trong quá trình giải quyết
bà T cung cấp tài liệu, chứng cứ có chuyển cho người khác số tiền trên nhưng không
thể hiện nội dung chuyển tiền nên HĐXX không có căn cứ xác định bà T chuyển
tiền cho bà Hồ Dương Minh S, bà Nguyễn Thị H1 và bà Lê Thị Trà H2 là theo yêu
cầu của bà K1. Do vậy, HĐXX không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc đối trừ
số tiền này trong tổng số tiền 414.555.000 đồng. Nếu sau này bà T có chứng cứ cho
rằng có chuyển tiền thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
[5] Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc bà Nguyễn Thị Thanh K1
mất 30% số tiền biêu sống khi dừng chơi biêu:
Tại trang số 12 Vi bằng ngày 18/4/2026 của Văn phòng thừa phát lại H cũng
như hình ảnh in từ điện thoại do bà T cung cấp tại phiên tòa thể hiện nội dung: “Pass
8
biu mất 30% tiền dây hụi sống”; theo bà T thì bà K1 biết nội dung trên vì bà có đưa
lên nhóm những người chơi biêu, còn bà K1 cho rằng bà không chơi biêu nên không
biết cũng như không thỏa thuận nội dung trên. Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ
sơ thể hiện trước khi ngừng chơi biêu bà K1 có tham gia đấu biêu nhiều lần nhưng
không được, hơn nữa số tiền 60.270.000 đồng mà bà T chuyển cho bà K1 là tiền
hốt biêu nên bà K1 buộc phải biết nội dung bà T đăng trên nhóm những người chơi
biêu nên cần chấp nhận yêu cầu của bà T đối với nội dung này.
Theo thỏa thuận thì khi bà K1 ngừng chơi biêu mất 30% tiền dây hụi sống
nên HĐXX xác định số tiền dây hụi sống là (414.555.000 đồng - 187.720.000 đồng)
= 226.835.000 đồng, do vậy bà K1 mất số tiền là (226.835.000 đồng x 30%) =
68.050.500 đồng.
Từ những nhận định trên, HĐXX thấy cần buộc bà Nguyễn Thị T phải trả
cho bà Nguyễn Thị Thanh K1 số tiền (414.555.000 đồng - 68.050.500 đồng) =
346.504.500 đồng.
Do vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, sửa bản
án dân sự sơ thẩm số 474/2025/DS-ST ngày 19/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 2 - Đà Nẵng; buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị Thanh K1 số
tiền 346.504.500 đồng như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố
Đà Nẵng tại phiên tòa.
Xét lời đề nghị của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn
Thị T có nội dung không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.
[6] Về án phí:
[6.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà
Nguyễn Thị Thanh K1 số tiền 346.504.500 đồng nên bà Nguyễn Thị T phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm là (346.504.500đồng x 5%) = 17.325.225 đồng.
- Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh K1 với
số tiền (451.300.000 đồng - 346.504.500 đồng) = 104.795.500 đồng nên bà Nguyễn
Thị Thanh K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là (104.795.500 đồng x 5%) =
5.239.775 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.140.000
đồng theo biên lai số 003964 ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố
Đà Nẵng. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thanh K1 số tiền 5.900.225 đồng.
[6.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo nên
bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn
9
Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000465 ngày
15/01/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 280 và Điều 468 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T. Sửa bản án dân sự sơ
thẩm số 474/2025/DS-ST ngày 19/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà
Nẵng.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh K1 đối
với bà Nguyễn Thị T về việc: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.
Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho bà Nguyễn Thị Thanh K1 số tiền
346.504.500 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm lẻ bốn nghìn năm trăm
đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu
cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải
chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương
ứng thời gian và số tiền phải thi hành án.
2. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị T phải
chịu là 17.325.225 đồng.
+ Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thanh K1 phải chịu là 5.239.775
đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.140.000 đồng theo
biên lai số 003964 ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thanh K1 số tiền 5.900.225 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Án phí dân sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị T
không phải chịu. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền tiền tạm ứng án phí đã nộp
10
là 300.000 đồng theo biên lai số 0000465 ngày 15/01/2026 tại Thi hành án dân sự
thành phố Đà Nẵng.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND Khu vực 2 - Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 2;
- VKSND Tp. Đà Nẵng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án (1b), Tổ nghiệp vụ
- Văn phòng (1b).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Vũ Việt Dũng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Bản án số 343/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm