Bản án số 117/2017/HSST ngày 21/09/2017 của TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 117/2017/HSST

Tên Bản án: Bản án số 117/2017/HSST ngày 21/09/2017 của TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Trảng Bom (TAND tỉnh Đồng Nai)
Số hiệu: 117/2017/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2017
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Lê Hồng Ngọc
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/. Đỗ Th Hng Nhung
2/. Ông Nguyn Huy Giáp
- Thƣ ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Văn Đại - Cán bộ Tán
nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
tham
gia phiên toà: Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom,
tỉnh Đồng Nai, xét xử thẩm vụ án hình sự thụ số 112/2017/HSST ngày 29
tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Trần Đức P, sinh năm 1985 tại Phú Thọ.
Trú tại: Tổ 4, khu phố 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Nghề nghiệp: Không Trình độ học vấn: 9/12
- Dân tộc : Kinh Tôn giáo : Thiên chúa
- Con ông Trần Quang Đ (chết) và bà Vũ Thị H, sinh năm 1960.
- Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
- Tiền án, tiền sự: Không
Bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2017, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công
an huyện Trảng Bom (Có mặt).
* Nguyên đơn dân s: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên H
- Trụ sở: 194 G, 473 Đ, phường 25, quận B, TP. Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Bruce Allan B Tổng giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Xuân M, sinh năm 1977 Nhân
viên An Ninh Công ty Tài chính TNHH Một thành viên H (Theo giấy ủy quyền số
535/2016/GUQ-SE ngày 28/12/2016). (Vắng mặt)
Địa chỉ: 60/4, tổ 4, KP3, phường A, TP. B, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN THẤY
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số:117/2017/HSST
Ngày: 21/9/2017.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Bcáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố về hành vi phạm
tội như sau:
Vào buổi sáng ngày 03/9/2016, Trần Đức P ngồi uống cà phê tại quán cà phê
khu vực Bờ Hồ (không nhớ tên quán), thị trấn T, huyện T thì nghe đối tượng
tên K (chưa nhân thân lai lịch) những người ngồi bàn bên canh trao đổi về
việc làm hồ gi để vay vốn tiêu dùng rồi chiếm đoạt tiền vay được của công ty
tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên H (công ty H) do ông Bruce Allan B
là người đại diện theo pháp luật nên P đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tin cùa công
ty H. Trong khoảng thời gian từ 03/9/2016 đến ngày 12/9/2016, P đã 02 lần sử
dụng hồ với thông tin giả về nhân thân để hợp đồng vay tiêu dùng với công
ty H rồi chiếm đoạt số tiền vay được, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào buổi sáng ngày 03/9/2016, P gặp K đưa cho Khánh 02
tấm ảnh chân dung 3x4 của P để thuê K m cho P 01 bộ hồ giả vay vốn tiêu
dùng ca công ty H với giá 300.000 đồng. Khoảng 2 tiếng sau K quay lại đưa
cho P 01 bản chính sổ hộ khu. 01 bản chính 01 bản photocopy chứng minh
nhân dân cùng mang tên Lâm Tài T, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú: p 2, xã
X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nhưng ảnh trên chứng minh nhân dân ảnh của P
(riêng bản photocopy chứng minh nhân dân chứng thực bn sao đúng với bản
chính có hình dấu tròn ghi UBND T, huyện T, tỉnh Đồng Nai đ ngày
25/8/2016). Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, P mang toàn bộ số giấy tờ trên đến cửa
hàng V tại ấp H, xã Đ, huyện T gặp nhân viên của công ty H chTrần Thị
Thu T đm hợp đồng vay tiêu dùng, sau khi kiểm tra, đối chiếu thông tin khách
ng, nhân viên công ty nhầm tưởng Trần Đức P là Lâm Tài T theo giấy t, tài liệu
P đã cung cấp nên đã ký kết với P hợp đồng tín dng tu ng tr góp s
3681258295 với số tiền cho vay 7.218.000 đồng, thời hn vay 06 tháng để P
mua 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A7 (P đứng tên và ký tên Lâm Tài T trên
hợp đồng) tại cửa hàng. Sau khi vay tiền của công ty H mua điện thoại Samsung
Galaxy A7, P sử dụng chiếc đin thoại trên được khoảng 01 tuần thì bị mất.
Lần thứ hai: Vào ngày 12/9/2016, Trần Đức P đưa cho K 02 tm ảnh chân
dung 3x4 của P thuê K làm gi 01 bộ hồ vay vốn tiêu dùng của công ty H
bao gồm 01 chng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều là bản chính và cùng
mang tên Trần Quốc Q, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú ti khu phố 1, phường
T, thành phố B, tnh Đồng Nai với giá 400.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ cùng
ngày, P mang số giấy tờ trên đến gặp nhân viên công ty H anh Hoàng Anh L tại
ca hàng Đ, ấp T, H, huyện T để m hp đồng vay tiêu dùng với tên Trần
Quốc Q. Sau khi kiểm tra, đối chiếu thông tin khách hàng, nhân viên công ty H
nhầm tưởng Trần Đức P Trần Quốc Q theo giấy tờ, tài liệu P đã cung cấp
n đã ký kết vớí P hợp đồng tín dụng tiêu dùng trả góp số 3682367667 với s tin
cho vav 7.2l8.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng đ P mua 01 điện thoại hiệu
Samsung Galaxy A 7 (P đứng tên và ký tên Trần Quốc Qtrên hợp đồng). Sau đó, P
mang chiếc điện thoại trên bán cho 01 người đàn ông không nhân thân lai lịch
tại khu vực phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (không địa điểm cụ thể)
được 5.000.000 đồng và tiêu xài nhân hết số tin trên. Do có ý định chiếm đoạt
từ trước nên sau khi ký kết với công ty H 02 hợp đồng tín dụng tiêu dùng tr góp
nêu trên, Trn Đức P không trả tiền cho công ty H theo như thỏa thuận của hp
3
đồng. Sau khi phát hiện khách hàng của 02 hợp đồng nêu trên không thực hiện
nghĩa vụ trả tiền hàng tháng theo thỏa thuận của hp đồng, công ty H đã soát,
đối chiếu hình ảnh khách hàng đã từng vay vn tiêu ng ca ng ty và phát hiện
Trần Đức P dấu hiệu lừa đão chiếm đoạt tài sản nên ngày 28/12/2016, công ty
H đã làm đơn t cáo Trần Đức P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Trng Bom.
Quá trình điều tra, quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã
thu thập và tiến hành trưng cầu giám định các tài liệu sau:
* Chữ viết và chữ ký mang tên ―Lâm Tài T‖ và "Trn Quốc Q do Trần Đức
P viết và ký ra ( được đóng dấu ký hiệu là Ml, M2 ) làm mẫu so sánh với chữ viết
ch mang tên―Lâm Tài T‖ và "Trn Quốc Q‖ trên hợp đồng tín dụng số
3681258295 hp đồng tín dng số 3682367667 do Công ty H cung cấp (được
đóng dấu ký hiệu lần lượt từ A1 đến A8)
Tại bản kết luận số 256/KLGĐ ngày 09/6/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công
an tỉnh Đồng Nai kết luận:
Chữ ký và chữ viết mang tên m Tài T và Trần Quốc Q trên các tài liệu nêu
phần mẫu cần giám định (hiệu từ A1 đến A8) với chữ chữ viết mang
tên Lâm Tài T Trần Quốc Q tương ứng trên các tài liệu nêu phần Mẫu so
sánh (ký hiệu Ml, M2) do cùng một người ký và viết ra (Bút lục 31 - 33)
Thu thập 03 tài liệu 03 mẫu hình dấu tròn của y ban nhân dân T,
huyện T, tỉnh Đồng Nai được đóng o thời điểm tháng 01/2016 tháng 5/2016
(được đóng dấu ký hiệu lần lượt từ M1 đến M3) đề làm mẫu so sánh với hình dấu
tròn UBND T - huyện T tỉnh Đồng Nai trên giấy chứng minh nhân dân
photocpoy mang tên Lâm i T, số 272786826, chứng thực bản sao đúng với
bn chính s 25 đề ngày 25/8/2016 (được đóng du hiệu A) Trần Đức P
sử dụng để ký kết hợp đồng tín dụng số 3681258295 với công ty H.
Tại bản kết luận số 196/KLGĐ ngày 28/6/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công
an tỉnh Đồng Nai kết luận:
- Hình dấu tròn UBND xã T - huyện T tỉnh Đồng Nai trên tài liệu nêu ở phần
mẫu cần giám định (ký hiệu A) với hình dấu tròn UBND T, huyện T tỉnh Đồng
Nai tương ứng trên các tài liệu nêu phần mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3)
không phải do cùng một con dấu trực tiếp đóng ra. (Bút lục sô 36 — 40)
Ngày 01/6/2017, quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã
khởi tố vụ án, khi t bị can đối với Trần Đức P về tội: Lừa đảo chiếm đoạt i
sảnquy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự và ngày 28/7/2017, khởi tố b sung
quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội: Làm giả con dấu, tài liệu của quan tổ
chức‖ quy định tại Điều 267 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra Trần Đức P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như đã nêu ở trên (bút lục: 51 -62).
* Vật chứng vụ án:
- Sau khi ký kết 02 hợp đồng nêu trên với công ty H Trn Đức P đã đốt toàn
bộ số giấy tờ, tài liệu bao gồm: chng minh nhân dân, s hộ khẩu cùng mang tên
Lâm Tài T; Chứng minh nhân n giấy phép lái xe cùng mang tên Trần Quốc
Qnên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không thu hi được.
- Đối với 02 chiếc điện thoại di dộng hiệu Samsung Galaxy A7 là tài sn
4
được từ hành vi phạm tội: 01 chiếc điện thoại P đã làm mất trong khi đi câu cá còn
01 chiếc P đã bán cho 01 người đàn ông kng nhân thân lai lịch tại khu vực
thành ph B (không xác định được địa điểm cụ thể) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện Trảng Bom không có cơ s đề truy tìmthu hồi.
* Vn sự: Trần Đức P đã bồi thường cho công ty H 14.436.000 đồng, đại
diện theo ủy quyền của công ty H anh Xuân M đã nhận tin và công ty H
không yêu cầu gì khác (bút lục số 26 - 29, 68 -69).
- Đối với đối tượng tên K, quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh
nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tách ra tiếp tục điều tra, xác
minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
- Đối với tội ―làm giả tài liệu, con dấu của quan tổ chức‖, quan Cảnh
sát điều tra Công an huyện Trảng Bom chưa xác định được nời thực hiện hành
vi phạm tội, nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
- Đối với anh Lâm Tài T anh Trần Quốc Q không biết việc Trần Đức P
dùng giấy tờ giả để ký kết hợp đồng vay tiêu dùng rồi chiếm đoạt tiền của công ty
H nên không có cơ sở xử lý.
Tại cáo trạng số: 123/CT/VKS-HS, ngày 28/8/2017, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bo Trần Đức P về tội Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản‖ theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom vẫn giữ
nguyên quyết định truy tố đề nghị: Xử phạt bị cáo Trần Đức P từ 04 đến 06
tháng ;
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ,
ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đức P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo
như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố. Lời khai
nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng, lời khai của đại diện
nguyên đơn dân s, kết luận định giá và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Trên cơ sở đó có đủ căn cứ kết luận: Vào các ngày 03/9/2016 và 12/9/216, tại
cửa hàng V, ấp H, Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai tại cửa hàng Đ, ấp T, H,
huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trần Đức P đã có hành vi giả mạo anh Lâm Tài T và anh
Trần Quốc Q để kết hợp đồng vay tiêu dùng với công ty tài chính trách nhiệm
hữu hạn một thành viên H (công ty H) mua điện thoi trả góp rồi chiếm đoạt số
tiền vay được của công ty H là 14.436.000 đồng (mười bốn triệu bốn trăm ba mươi
sáu nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản‖ theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự.
Xét mức độ phạm tội của bị cáo tthấy: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho
hội, không chỉ xâm phạm tài sản hợp pháp của Công ty được pháp luật công
nhận và bảo vệ mà còn làm mt trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành
5
vi phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g Khoản
1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử cần có mức án tương xứng
với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ
pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét bị cáo là người có nhân
thân tốt chưa có tiền án tiền sự; Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai
báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn bị cáo
đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đây các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại
điểm b, g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự được áp dụng để giảm nhẹ một phần
nh phạt cho bị cáo. Do bcáo nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1
Điều 46 nên áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự để xét xử dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Đối với vật toàn bộ số giấy tờ, tài liệu bao gồm: chứng minh nhân dân. Sổ
hộ khẩu cùng mang tên Lâm Tài T; chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe cùng
mang tên Trần Quốc Q; 02 chiếc điện thoại di dộng hiệu Samsung Galaxy A7
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom không thu hồi nên Hội đồng xét
xử không xem xét, giải quyết.
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại bút lục số 26-29, 68-69 trong
hồ vụ án thể hiện: Trần Đức P đã bồi thường cho công ty H 14.436.000 đồng,
đại diện theo ủy quyền của công ty H là anh Lê Xuân M đã nhận tiền và công ty H
không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Đối với đối tượng tên K, quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh
nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tách ra tiếp tục điều tra, xác
minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
- Đối với tội ―làm giả tài liệu, con dấu của quan tổ chức‖, quan Cảnh
sát điều tra Công an huyện Trảng Bom chưa xác định được nời thực hiện hành
vi phạm tội, nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
- Đối với anh Lâm Tài T và anh Trần Quốc Q không biết việc Trần Đức P
dùng giấy tờ giả để ký kết hợp đồng vay tiêu dùng rồi chiếm đoạt tiền của công ty
H nên không có cơ sở xử lý.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp
với nhận định ca Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Trần Đức P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo: Trần Đức P phạm tội ―Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 139; Điểm b,g, p khoản 1 Điều 46, Điều 47; Điểm g
Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự:
6
Xử phạt bị cáo Trần Đức P 03 (ba) tháng 08 (tám) ngày . Thời hạn tù tính
từ ngày 14/6/2017.
- Áp dụng Khỏan 5 Điều 227 Bộ luật hình sự: Tuyên bố trả tự do cho bị cáo
tại phiên tòa nếu bị cáo không b giam giữ về tội phạm khác.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Ttụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án
buộc bị cáo Trần Đức P phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) án phí
Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo quyền kháng cáo trong hn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên
án. Riêng nguyên đơn dân sự quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày
kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Bị cáo; nguyên đơn dân sự;
- UBND xã, phường
nơi bị cáo cư trú;
- VKSND huyện(2);
- Cơ quan điều tra(1);
- Sở Tư pháp tỉnh(1);
- TAND tỉnh(1);
- THADS huyện(1);
- Lưu h/s, án văn(1).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Hồng Ngọc
Tải về
Bản án số 117/2017/HSST Bản án số 117/2017/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất